Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016

Không phải giới Ngoại giao và Quân sự Nga mâu thuẫn mà họ chủ trương " phá thối" quan hệ Việt-Mỹ ?

Lời bàn của blog P.V.Đ:

Nhìn nhận như tác giả bài viết dưới đây là ấu, nhẹ dạ cả tin nếu không muốn nói là ngu lâu về chính sách đối ngoại của Nga?
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga cố ý đưa ra sáng kiến: Nga sẽ trở lại Cam Ranh ? Đây là một phát ngôn có chủ ý...ất ơ ? 
Nga trở lại Cam Ranh làm gì ? Để đối trọng với Trung Quốc bảo vệ Việt Nam hay cản chính sách xoay trục sang châu Á của Mỹ ư ? Về quyền lợi chiến lược an ninh, Nga chẳng có gì ở Biển Đông cả vì Nga có đồng mình chiến lược gì đâu ngoài mấy cái mỏ dầu phọt phẹt hợp tác ăn chia với Việt Nam ? Mà giả sử có trở lại Cam Ranh thì tiền đâu ? Tiền bỏ ra thuê không bõ với những gì Nga trả giá ?
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga thừa biết chuyện đó? Quyền lợi chiến lược về an ninh của Nga là ở khu vực Trung Đông và vùng tiệm cận Đông Âu và các quốc gia thuộc khu vực Liên Xô cũ hiện đang ngả dần sang Mỹ và Phương Tây...
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga phát biết ất ở như vậy là để cố tình trêu chọc Việt Nam để mơi Việt Nam nói ra miệng: Không có chuyện cho Nga thuê Cam Ranh và tất nhiên cả Mỹ nữa; Tuyên bố xủa Lê Hải Bình để tỏ ra trịnh thượng: ta đây độc lập tự chủ...Tự chủ cái con tườu...
Không có lực lượng hải quân Mỹ thường xuyên túc trực ở Biển Đông; Không có sự hậu thuẫn về kinh tế của Nhật, Hàn Quốc và EU, Việt Nam sẽ bị Trung Quốc dìm xuống bùn đen vạn kiếp !
Bộ Ngoại giao Nga lên tiếng cải chính ý kiến của Bộ Quốc phòng là ý kiến đãi bôi khi đã hoàn thành xong cái việc " đâm bị thóc chọc bị gạo" của Putin về quan hệ Việt-Mỹ...
Sự khẳng định của Việt Nam đã khiến cho nhiều người Mỹ chưng hửng, thất vọng muốn giúp Việt hạn chế sự đểu giả của Tàu cũng cảm thấy mình vô duyên đi giúp cái kẻ " ăn cháo đái bát", ngu lâu...
Không ngẫu nhiên mà VOA đăng bài của một blog phát biểu lại ý kiến của Lê Hải Bình về chuyện Cam Ranh: Việt Nam có mời Mỹ vào Cam Ranh Mỹ cũng chẳng thèm đâu ?!


Các quan chức ngoại giao và giới học giả Nga không đồng tình với phát biểu của giới chức quốc phòng nước này về vấn đề Nga trở lại Cam Ranh.
Gioi Ngoai giao va Quan su Nga mau thuan ve Cam Ranh
Hai tàu chiến Nhật Bản Ariake (DD109) và Setogiri (DD156) sang thăm cảng Cam Ranh ngày 12/4/2016

Việt Nam không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự

Bài viết trên hãng thông tấn đa phương tiện và phát thanh Sputnik Nga cho biết, ngày 13/10, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình đã tuyên bố rằng, lập trường nhất quán của Việt Nam là “không cho nước nào đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam”.

"Lập trường nhất quán của Việt Nam là không liên minh quân sự, không liên minh với nước nào để chống lại nước thứ ba và cũng không cho nước nào đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam. Tất cả các luận điểm tôi đã nêu là không thay đổi" - ông Lê Hải Bình nói.

Người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam cho biết, trong thời gian, qua quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam với Nga cũng như với các đối tác lớn khác trên thế giới đã có những bước phát triển rất mạnh mẽ.

Việt Nam luôn thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế và hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển hợp tác với tất cả các đối tác trên cơ sở cùng có lợi, vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực châu Á Thái Bình Dương và trên thế giới.

Các chuyên gia Nga lưu ý rằng, tuyên bố này đã được đưa ra trong bối cảnh cuộc tranh luận của giới truyền thông Nga về việc Bộ Quốc phòng Liên bang Nga đang xem xét khả năng “quay trở lại” Cuba và Việt Nam, nơi trước đây đã có căn cứ quân sự Liên Xô (Nga).

Đây là điều mà Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Nikolai Pankov đã đề cập đến hồi tuần trước, trong buổi điều trần trước Duma Quốc gia (Hạ viên) Nga về việc nước này sẽ lập căn cứ không quân Hmeymim và căn cứ hải quân Tartous, thuộc tỉnh Latakia của Syria.
Thứ trưởng Nikolai Pankov công bố trước Hạ viện Nga rằng, Bộ Quốc phòng Nga đang xem xét khả năng trở lại căn cứ quân sự ở các nước đã từng bố trí trong thời Liên Xô như Việt Nam và Cuba. "Chúng tôi nhìn thấy vấn đề quan trọng này và đang tiến hành công việc đó” - ông Pankov nói.

Tiếp theo đó, Phó Chủ tịch đảng “Nước Nga công bằng” Oleg Nilov phát biểu trong phiên họp của Duma Quốc gia Nga về việc phê chuẩn Hiệp định với Syria về triển khai nhóm Không quân Nga vô thời hạn rằng, Nga nên trở lại các căn cứ quân sự ở Việt Nam và Cuba.

"Nếu cần thiết, thì những căn cứ như vậy, cần trở lại cả ở Việt Nam và Cuba. Nếu người ta không muốn nói chuyện với chúng ta bằng ngôn ngữ ngoại giao, thì chúng ta sẽ đấu tranh với các mối đe dọa trên thế giới. Điều đó áp dụng trước hết với những tổ chức tân phát-xít Nhà nước Hồi giáo IS và tất cả những kẻ bảo trợ chúng” - ông Oleg Nilov nói.

Bộ ngoại giao Nga không hài lòng về phát ngôn của Bộ quốc phòng
Trong một cuộc phỏng vấn với "Sputnik", một quan chức có thẩm quyền muốn ẩn danh của Bộ Ngoại giao Nga bình luận về cuộc tranh luận này như sau, giới truyền thông Nga không cần phải xôn xao, bởi “không có gì mới, không có gì giật gân trong tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam”.

Cảng Cam Ranh đã từng được 2 cường quốc lớn nhất thế giới sử dụng. Năm 1965, sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho phép Mỹ sử dụng Cam Ranh làm căn cứ quân sự. Đến năm 1972, Mỹ bàn giao căn cứ này cho quân đội Sài Gòn.

Sau đó, quân cảng nằm ở vị trí trọng yếu bên bờ Biển Đông này là địa điểm mà hạm đội Thái Bình Dương của hải quân Liên Xô (sau này là Nga tiếp quản) thuê làm căn cứ quân sự trong 24 năm, từ 1979 đến 2002.

Năm 2002, Nga đã quyết định rút khỏi căn cứ quân sự Cam Ranh và sau đó Việt Nam đã tuyên bố rằng, ở Việt Nam sẽ không có các căn cứ quân sự nước ngoài. Lập trường nhất quán của Việt Nam là cơ sở hạ tầng của các căn cứ phải được sử dụng vì lợi ích của đất nước.

Từ đó, lập trường nhất quán của Nga khi bàn bạc về hợp tác quốc phòng giữa hai nước, đặc biệt là về cảng Cam Ranh và Biển Đông cũng dựa trên quan điểm mà Việt Nam đã công bố.

Do đó, tuyên bố của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Nikolai Pankov về việc Bộ quốc phòng Nga đang xem xét khả năng quay trở lại các căn cứ cũ, ví dụ như ở Việt Nam là đáng ngạc nhiên, bởi vì giới chức lãnh đạo Nga không ai đặt ra vấn đề như vậy.

Nhà khoa học chính trị, Giáo sư - Tiến sĩ Khoa học Vladimir Kolotov cũng nhận xét trong một cuộc phỏng vấn với Sputnik rằng, Việt Nam hoạt động theo phương châm chiến lược nhất quán của mình là bảo vệ các lợi ích quốc gia, dựa trên những nguyên tắc chủ đạo bất biến.

Trước đây, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã khẳng định chính sách "ba không": Không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.


Căn cứ Cam Ranh đã từng được cả Liên Xô và Mỹ sử dụng
 Việt Nam đã nghiêm túc thực thi chính sách này nhằm tăng cường bảo vệ chủ quyền quốc gia. Về mặt này Việt Nam có ưu thế nổi bật so với các nước láng giềng, ví dụ như Thái Lan, Philippines, mà trên lãnh thổ các nước đó có bố trí các căn cứ quân sự Mỹ.

Việt Nam không cho nước nào bố trí căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước mình và chỉ sử dụng cơ sở hạ tầng ở Cam Ranh để cung cấp hậu cần cho các tàu chiến nước ngoài hoạt động ở Biển Đông và Thái Bình Dương, các tàu chiến Nga cũng được cấp dịch vụ sửa chữa-kỹ thuật, nạp nguyên liệu.

Tàu chiến của Mỹ và những quốc gia khác như Nhật Bản và thậm chí là cả Trung Quốc khi tiến hành các hoạt động trên Biển Đông cũng được mời cập cảng này, nếu đạt được các thỏa thuận với phía Việt Nam.

Gần đây các tàu hải quân của một số nước như Nhật Bản, Ấn Độ, Australia đã đến thăm hỏi, giao lưu với hải quân Việt Nam tại Cam Ranh. Khu trục hạm USS John S. McCain và tàu tiếp liệu USS Frank Cable của Mỹ hồi đầu tháng 10 cũng đã lần đầu tiên ghé thăm Cam Ranh.

Vì vậy, không có thông tin gì giật gân từ phát biểu của Bộ Ngoại giao Việt Nam như tin đưa trên các phương tiện truyền thông thế giới, tất cả mọi việc đang diễn ra như bình thường như nó vốn có.

Chỉ có việc không hiểu tại sao giới chức lãnh đạo quân sự không chú trọng tới đường lối chính trị mà Việt Nam đang thực thi trong những năm qua. Đáng lẽ Bộ quốc phòng Nga nên kiềm chế không đưa ra những tuyên bố mà chưa thống nhất với Bộ Ngoại giao.

 Thiên Nam

(Đất Việt)


Thủy thủ USS Frank Cable xếp hàng trên boong, khi chiến hạm này vào quân cảng Cam Ranh hôm 2 tháng 10. (Hình: U.S. Navy)
 Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam vừa tái khẳng định, Việt Nam không để cho quốc gia nào xây dựng căn cứ quân sự tại Cam Ranh.

Trước đó, truyền thông Nga dẫn lời ông Nikolai Pankov, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Nga, cho biết Nga đang xúc tiến việc tái hiện diện về quân sự tại Việt Nam và Cuba và do vậy, có tin Nga sẽ quay lại quân cảng Cam Ranh.

Trước thông tin vừa kể, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam lập lại “lập trường nhất quán của Việt Nam” là “không liên minh quân sự với ngoại quốc, không liên minh với quốc gia này để chống lại quốc gia kia và cũng không cho quốc gia nào đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam.”

Sau tháng 4 năm 1975, vịnh Cam Ranh được chia thành hai khu vực. Một khu vực dùng vào các mục đích dân sự. Khu vực còn lại là quân cảng. Tương tự, tại Cam Ranh có hai phi trường, một dân sự và một quân sự.

Quân cảng và phi trường quân sự Cam Ranh từng được Hoa Kỳ sử dụng trước tháng 4 năm 1975. Sau đó, mơi này từng là một trong những căn cứ thuộc Hạm Ðội Thái Bình Dương của Nga từ 1979 đến 2002.

Vài năm gần đây, Cam Ranh là địa danh gắn với nhiều sự kiện liên quan tới nỗ lực “tăng cường hợp tác quốc phòng” giữa Việt Nam và các quốc gia khác, cũng như nỗ lực “hiện đại hóa Hải Quân Việt Nam.”

Ðã vài lần, Nga có những tuyên bố giống như sắp quay trở lại Cam Ranh. Chẳng hạn hồi 2015, Bộ Quốc Phòng Nga chủ động tiết lộ, Không Quân Nga đã tái sử dụng phi trường Cam Ranh từ năm 2014 để hỗ trợ các phi vụ mà phạm vi mở rộng đến Ðông Nam Á. Những thông tin này khiến người ta tin rằng, Việt Nam đang hỗ trợ Nga quay lại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và Cam Ranh sẽ trở thành một điểm trung chuyển chiến lược của cả Không Quân lẫn Hải Quân Nga.

Trong chuyến thăm Nga hồi đầu tháng 12 năm 2014, ông Nguyễn Phú Trọng-tổng bí thư đảng CSVN từng ký một thỏa thuận với ông Putin-tổng thống Nga, cho phép các chiến hạm của Nga có thể dễ dàng ra vào cảng Cam Ranh.

Thỏa thuận này “đơn giản hóa thủ tục,” lược bỏ nhiều yêu cầu theo thông lệ quốc tế, vì vậy, khi muốn vào cảng Cam Ranh, các chiến hạm của Nga chỉ cần thông báo cho chính quyền tỉnh Khánh Hòa khi đã đến gần quân cảng này. Trước đây, chỉ có Syria dành cho các chiến hạm của Nga hình thức ưu đãi như vừa kể.

Giới quan sát thời sự quốc tế tin rằng, sau Hoa Kỳ, Nga cũng đang nỗ lực chuyển trọng tâm chiến lược sang Châu Á và các thỏa thuận về việc sử dụng cả phi trường quân sự lẫn quân cảng Cam Ranh là một phần trong chiến lược đó.

Tuy nhiên thực tế cho thấy, Việt Nam có muốn thì cũng khó mà dựa vào Nga. Nga là một trong số rất ít quốc gia phản bác “phán quyết về Biển Ðông” và khẳng định ủng hộ “quan điểm của Trung Quốc về Biển Ðông.” Hải Quân Nga và Hải Quân Trung Quốc cũng vừa tổ chức tập trận tại Biển Ðông để gia tăng khả năng phối hợp ứng phó với những “thách thức trên biển.”

Ðó có lẽ là lý do Cam Ranh được dùng như nam châm, thu hút cả Hoa Kỳ, Nhật. Kể từ tháng 2 năm 2010, Cam Ranh đã trở thành nơi mà một số tàu của Hải quân Hoa Kỳ ghé vào để thuê bảo trì, nhận tiếp liệu.

Hồi tháng 4 năm 2014, khi ghé Ðà Nẵng, Ðại Tá Paul Schilse, hạm trưởng USS John S. McCain, thuộc Hạm Ðội 7 của Hải Quân Hoa Kỳ, cho biết, hạm đội này có nhu cầu sửa chữa, bảo trì các chiến hạm. Nhiều tàu cứu nạn, tàu hậu cần của Hạm Ðội 7 đã ghé Cam Ranh để sửa chữa, bảo trì và con số này sẽ tăng nếu Việt Nam thỏa mãn được nhu cầu sửa chữa, bảo trì chiến hạm.

Cũng vào giữa năm 2014, Việt Nam khởi công xây dựng một công xưởng Hải Quân ở Quân Cảng Cam Ranh với sự trợ giúp của Nga. Dù Việt Nam không cung cấp chi tiết về kế hoạch vừa kể, song lúc đó, hãng tin RIA Novosti (Nga) dẫn lời ông Yevgeny Shustikov, phó tổng giám đốc công xưởng Hải Quân Zvezdochka (Nga), cho biết, công xưởng Hải Quân mà Việt Nam đang xây dựng ở Cam Ranh sẽ là nơi sửa chữa và bảo dưỡng toàn bộ các chiến hạm mà Liên Xô (trước đây) và Nga (hiện nay) cung cấp cho Việt Nam. Ðồng thời còn cung cấp các dịch vụ hậu cần cho những con tàu ghé vịnh Cam Ranh.

Bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam lúc đó là ông Phùng Quang Thanh từng nói với Thông Tấn Xã Việt Nam rằng, Nga yêu cầu Việt Nam “đơn giản hóa thủ tục” để họ có thể “vào cảng Cam Ranh sửa chữa, bảo dưỡng tàu thuyền, cho quân nhân nghỉ ngơi trong quá trình hành quân” nhưng thay mặt Việt Nam, ông Thanh đã trả lời rằng, “Việt Nam không liên minh quân sự với ngoại quốc, không liên minh với quốc gia này để chống lại quốc gia kia và cũng không cho quốc gia nào đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam.”

Gần đây, sau hai chiến hạm của Trung Quốc, hai chiến hạm USS John S. McCain và USS Frank Cable của Hải Quân Hoa Kỳ đã thả neo tại Cam Ranh. Trước đó một chút là hai chiến hạm thuộc lực lượng phòng về biển của Nhật. Cuối năm ngoái, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam và bộ trưởng Quốc Phòng Nhật từng ký kết một thỏa thuận theo đó, các chiến hạm của Nhật có thể ra vào quân cảng Cam Ranh.

(Người Việt)

700,000 công chức CSVN “ngồi chơi xơi nước” tiêu tốn 750 triệu đô mỗi năm

Khoảng 30% công chức ở Việt Nam thuộc loại “ngồi chơi xơi nước” tiêu tốn hơn 750 triệu Mỹ kim mỗi năm từ ngân ngân sách nhà nước. Đó là theo nhận định của các chuyên gia được trình bày tại buổi hội thảo “Bối cảnh và khả năng cải cách tiền lương” do Bộ Nội Vụ Cộng Sản Việt Nam tổ chức hôm 12 tháng 10.


700,000 công chức CSVN “ngồi chơi xơi nước” tiêu tốn 750 triệu đô mỗi năm

 Tỉ lệ 30% công chức tại Việt Nam tương đương với khoảng 700,000 người.

Trong bài tham luận gửi tới hội thảo, ông Bùi Sỹ Lợi, phó chủ nhiệm Uỷ Ban Về Các Vấn Đề Xã Hội của Quốc Hội Cộng Sản Việt Nam chỉ ra một nghịch lý là, lương công chức tuy thấp nhưng vẫn cao hơn năng suất lao động. Theo ông Lợi, thực tế cho thấy tình trạng công chức “sáng cắp ô đi tối cắp ô về” khá nhiều, trong khi guồng máy nhà nước thiếu nhân tài, chảy máu chất xám.

Một tham luận viên khác là Tiến sĩ Lê Hồng Huyên, vụ trưởng Vụ Xã Hội, Ban Kinh Tế Trung Ương Cộng Sản Việt Nam, nói rằng các mức lương công chức hiện nay chưa bảo đảm nhu cầu tối thiểu, cho nên chưa khích lệ được họ gắn bó, tận tâm với công việc.

Ông Huyên được báo Dân Trí dẫn lời nói rằng, “không bao giờ có hàng tốt với giá bèo.” Tuy nhiên, ông Huyên nhìn nhận thực tế là, mặc dù tiền lương công chức không cao, hầu hết công chức đều có nhà lớn và nhiều người có xe hơi riêng.

Ông Huyên kết luận rằng, chắc chắn các công chức Việt Nam phải có thu nhập riêng ngoài tiền lương.

Huy Lam

(SBTN)

Tại sao khi nói tới những vấn đề ở Việt Nam thì chúng ta đều cảm thấy vô vọng, bế tắc?

Không ít người thốt lên là: nói có được gì đâu. Về mặt nào đấy điều ấy có một phần đúng bởi sức ỳ của bộ máy cầm quyền quá lớn, các vấn đề bao trùm, chui vào từng ngõ ngách cuộc sống, hiện diện trong bầu không khí.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Thỉnh thoảng có bạn bảo kêu làm gì nhiều, quan trọng là phải chỉ ra giải pháp. Khó nhỉ! Xã hội không phải là một ván cờ để một thiên tài nào đấy có thể nghĩ ra vài nước và thay đổi được tình thế. Nhưng khó không có nghĩa là không làm được và không có nghĩa là im lặng và buông xuôi.

Khi viết điều này, tôi cũng hy vọng khơi được một tia sáng mỏng manh nào đấy. Đối với tôi viết là suy ngẫm. Điều ấy chỉ là bước đầu để đến chân lý và hoàn toàn có thể là sai lầm.

Hàng ngày chúng ta hít thở và cảm nhận được cái bầu không khí tư duy mù mờ của xã hội nhưng để chỉ vạch mặt chỉ tên nó ra một cách rành rọt là vấn đề khó. Tôi sẽ cố gắng nêu ra những lý do tạo ra sự ì trệ, mù mờ của xã hội.

1. Trước hết là ở tư duy nông cạn, sự hời hợt trong suy nghĩ của người Việt. Người Việt khi ngồi với nhau ít khi có những tranh luận điềm đạm với khát khao tìm đến một giải pháp. Người Việt tranh luận mà chỉ nhăm nhăm giành phần thắng kiểu trai bản. Thắng thua thì quan trọng gì trong một cuộc tranh luận nhỏ nhoi? Tranh luận làm gì nếu ta không được nhận thức mới?

2. Người Việt ít khi tự hỏi tại sao các nước nó thế, mình lại thế này. Chỉ một câu hỏi thế thôi, nếu theo đến cùng thì sẽ thấy được bao vấn đề. Bao năm trước thì còn dùng lý luận là đất nước vừa trải qua chiến tranh nhưng 41 năm vừa qua là một quãng thời gian khá dài. Nếu với một tư duy sáng suốt thực sự, quyết liệt thực sự thì bộ mặt đất nước đã khác nhiều.

3. Quan chức Việt Nam hiếm thấy có người khát khao cháy bỏng đưa đất nước đi lên. Tất cả họ tạo lên một tập thể mà các khuôn mặt đều giống nhau. Nói giống nhau, suy nghĩ cũng khá giống nhau. Chính điều này tạo nên một tập thể “đoàn kết” cùng chầm chậm tư duy, cùng chầm chậm hành động, các con tim đều uể oải đập cùng một nhịp chậm tiến.

Tại sao không dám phát ngôn mạnh mẽ hơn, tư duy táo bạo hơn? Bởi họ chung một nỗi sợ bị lỡ lời. Một nỗi sợ đầy khôn ngoan của chính trị gia. Tôi tin rằng một chính trị gia giỏi thì trước hết phải là một nhà hùng biện giỏi. Cần phải chinh phục người khác bằng lời nói. Không nói được thì cũng chẳng làm được. Bởi có chinh phục được con tim ai đâu mà làm.

Tôi mong chờ sự xuất hiện lớp lãnh đạo có thể dám đứng ra tranh luận công khai, thẳng thắn về mọi vấn đề của đất nước. Sao không tận dụng truyền hình để làm điều này. Nếu làm được thì các vị sẽ khuấy động lên một sức sống tinh thần mới. Vứt bở tờ giấy phát biểu đi, hãy diễn thuyết bằng sự trăn trở thực sự, hãy cho dân chúng thấy sự đau đớn thực sự, khát khao thực sự để thay đổi, để cải tổ khắc phục một vấn đề quan trọng nào đấy. Sự chân thành thẳng thắn nếu có sai lầm cũng vẫn được người dân yêu quý. Còn hơn là sự giả dối dán mác điềm đạm.

4. Sự tham lam của quan chức Việt Nam. Tâm hồn cao thượng và niềm khao khát cống hiến cho đất nước không có nên họ mới bị đồng tiền làm mờ mắt dễ dàng đến thế. Chỉ vì cái lợi cá nhân mà bán rẻ lợi ích công. Chẳng vậy mà tham nhũng là vấn đề rộng khắp, vô cùng nan giải, không biết bao giờ mới cải thiện được.

5. Dân nào quan ấy. Quan cũng từ dân mà ra. Sự mù mờ ủ dột ấy đã thành một căn bệnh rộng khắp trong tư duy người Việt. Người Việt dễ dãi tặc lưỡi bỏ qua những câu hỏi quan trọng nhất của đời người và chính vì vậy mà chúng ta cam chịu sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ. Tôi chỉ có thể nói một câu ngắn gọi là người Việt đang rất yếu hèn trong tư duy.

Người Việt đang cố thu mình cho thật nhỏ. Giả vờ nhắm mắt bịt tai không biết điều gì đang thực sự diễn ra nhưng họ đâu có biết rằng giọt nước mắm, ngọn rau, miếng thịt, không khí mà họ đang hít thở, tất thảy liên quan tới vấn đề chung.

Mà sợ gì mà sợ nhiều quá đến vậy? Đằng nào mà chẳng chết. Chắc gì chúng ta đã thoát khỏi nguy cơ ung thư mà sợ quá thế?

Giờ đây nếu có ai hỏi tôi giải pháp là gì. Tôi sẽ trả lời là hãy quan tâm, suy ngẫm và nói thẳng ra suy nghĩ của mình. Hãy vạch trần những điều xấu xa nho nhỏ xung quanh mà chẳng sợ mất lòng ai. Đấy là bước đầu tiên quan trọng rất cần phải làm. Nếu không, chúng ta sẽ mãi mãi sống trong một màn sương ô nhiễm nơi ánh nắng trong trẻo sẽ không bao giờ xuyên qua được.

Nếu cứ tiếp tục thế này, chúng ta sẽ trao cho con cháu một cuộc sống xám xịt.



(FB Chau Doan)

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016

Cứ 20 năm lại có một tổng thống Mỹ chết khi đang trong nhiệm kỳ

Do lời nguyền hay sự trùng hợp ngẫu nhiên? 

tong-thong-my-4[1]
Lịch sử nước Mỹ có ghi lại, từ năm 1840, cứ 20 năm lại có một vị tổng thống bị ám sát hoặc chết vì bệnh tật khi đang trong nhiệm kỳ. Trừ một vị tổng thống bị ám sát nhưng thoát chết là ông Reagan, còn lại 7 vị khác đã chết khi đang tại nhiệm.
Tướng William Henry Harrison đã thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1840, nhưng ông đã bị cảm lạnh và chuyển sang bệnh viêm phổi. Ông qua đời hơn một tháng sau khi tuyên bố nhậm chức, hưởng thọ 56 tuổi. Ông là người đầu tiên chết khi đang trong nhiệm kỳ tổng thống Mỹ.

tong thong my 1Thời gian nắm quyền của ông Harrison là ngắn nhất trong lịch sử các đời tổng thống Mỹ, chỉ có 32 ngàY
20 năm sau, vào năm 1860, ông Ebolahan Lincoln đã tái thắng cử trong nhiệm kỳ tổng thống thứ 2 của mình. Ngày 14 tháng 4 năm 1965, ông bị đâm trong rạp hát Ford ở Washington, và qua đời 15 ngày sau đó, hưởng thọ 56 tuổi.
Năm 1880, ông James Jiafeierde được bầu giữ chức Tổng thống Mỹ. Tuy nhiên, năm thứ 2 nắm quyền, ông bị ám sát tại nhà ga Washington DC, và qua đời ở tuổi 58.
Năm 1900, ông William McKinley đã được bầu làm tổng thống. Cũng ở năm thứ 2 của nhiệm kỳ, ông cũng bị ám sát bởi một kẻ vô chính phủ tại một hội chợ ở New York, và hưởng thọ 57 tuổi.

tong thong my 2Ảnh William McKinley bị ám sát.

Năm 1920, ông Warren Harding đắc cử tổng thống Mỹ. Khi ông đang diễn thuyết tại miền tây nước Mỹ thì bệnh tim đột nhiên tái phát, không lâu sau đó ông qua đời ở tuổi 57.
Tiếp đó, một trong những Tổng thống được lòng dân Mỹ nhất, người đắc cử Tổng thống tới 4 lần chính là Franklin D. Roosevelt. Năm 1940, ông tái đắc cử lần thứ 3. Nhưng không lâu sau đó, khi được bầu làm Tổng thống lần thứ 4, vào ngày 12 tháng 4 năm 1945 ông đột ngột qua đời vì một cơn đột quỵ, và cũng đã chết trong nhiệm kỳ công tác.

tong thong my 3Tổng thống Mỹ – Franklin D. Roosevelt

Năm 1960, John F. Kennedy được bầu làm tổng thống và trở thành vị lãnh đạo nhà trắng trẻ nhất nước Mỹ. Ngày 22/11/1963, khi chiếc xe của ông đi qua một đoạn đường phố Dallas thuộc bang Texas, ông đã bị trúng 2 viên đạn và qua đời ở tuổi 46. Sau đó Ủy ban Warren đã điều tra và buộc tội Lee Harvey Oswald là thủ phạm vụ ám sát. Tuy nhiên, nhiều người tin rằng Oswald chỉ là vật hiến tế cho một trong những âm mưu nổi tiếng nhất trong thế kỷ XX.

tong thong my 4Sau vụ ám sát, gia tộc Kennedy đã xuất hiện một lời nguyền rất sinh động.

Chỉ đến khi ông Ronald Reagan đắc cử tổng thống và lên nắm quyền vào năm 1980 mới phá hủy được lời nguyền này. Ngày 30/3 của năm thứ 2 trong nhiệm kỳ, sau khi hoàn thành bài phát biểu và lên xe ô tô, ông đã bị bắn, vết thương rất nặng và các bác sĩ nói Tổng thống có thể mất mạng, sau đó ông may mắn đã vượt qua được “kiếp nạn” này.

tong thong my 5Sau khi tiếng súng vang lên, vệ sĩ Jerry Parr đã liều mình đẩy Reagan vào trong xe. Ông được khen ngợi như một vị ân nhân của Tổng thống. Vợ của Reagan nói rằng ông Jerry Parr luôn luôn là anh hùng.

Hiện tượng kỳ lạ này xảy ra trong lịch sử nước Mỹ được cho là bắt nguồn từ lời nguyền của một vị tù trưởng người da đỏ bản địa Tecumseh phát ra vào năm 1811. Tecumseh là một vị tướng dũng mãnh và được người dân phong cho làm Tù trưởng. Ông nhấn mạnh rằng tất cả những hiện tượng này kỳ lạ này xảy ra trong lịch sử nước Mỹ được cho là bắt nguồn từ lời nguyền của một vị tù trưởng người da đỏ bản địa Tecumseh phát ra vào năm 1811. Tecumseh là một vị tướng dũng mãnh và được người dân phong cho làm Tù trưởng. Ông nhấn mạnh rằng tất cả những đất đai và tài sản của người Anh Điêng bản địa là thuộc về chính họ, không cho phép bất kỳ ai có quyền mua bán lại những tài sản này.
Chính phủ Mỹ lúc đó đã từ chối nguyên tắc đó, vì thế Tù trưởng Tecumseh đã lãnh đạo những người thổ dân chiến đấu để bảo vệ vùng đất của người dân da đỏ. Nhưng đúng trong lúc ông đang chiêu mộ binh sĩ ở bên ngoài thì quân đội của chính quyền Mỹ đã tấn công và đội quân da đỏ đã thất bại trong trận trận Dipokanu năm 1811. Sau khi chiêu mộ binh sĩ trở về, cảnh tưởng thảm khốc sau trận chiến xuất hiện trước mắt ông. Ông đã bại trận trước tướng William Henry Harrison, mang theo lòng hận thù, ông đã phát ra lời nguyền được gọi là “Lời nguyền Tecumseh”. Nội dung của lời nguyền có nói: “Harrison sẽ không dành chiến thắng trong năm nay để trở thành người lãnh đạo cao nhất. Nhưng ông có thể dành chiến thắng trong năm tới, nếu ông thắng cử, ông cũng không thể làm hết nhiệm kỳ, ông sẽ chết tại nhà trắng.” và  “Sau khi Harrison chết, cứ 20 năm sau, ai là người lãnh đạo cao nhất nhà trắng cũng sẽ phải chết. Cái chết của họ sẽ khiến mọi người nhớ đến cái chết của những người thổ dân da đỏ.”
Quả nhiên Harrison qua đời vào năm 1840 khi ông đang trong nhiệm kỳ làm Tổng thống Mỹ. Cũng bắt đầu từ đó, 140 năm sau, cứ 20 năm lại có một vị tổng thống Mỹ chết khi đang tại nhiệm. Có vẻ như  “Lời nguyền Tecumseh” đã linh ứng, và trở thành hiện tượng kỳ lạ và thần bí.
San San
Xem thêm:

CHÍNH PHỦ ĐI CHƠI HAY ĐANG NGỦ MÀ KHÔNG ĐỘNG TĨNH GÌ TRƯỚC BÃO LŨ KHỦNG KHIẾP TẠI MIỀN TRUNG ?


BÃO LŨ MIỀN TRUNG DỮ DỘI MẤY NGÀY NAY, NHIỀU VÙNG BÀ CON BỊ CÔ LẬP; CHO ĐẾN GIỜ PHÚT NAY CHƯA THẤY CHÍNH PHỦ LÊN TIẾNG GÌ? KHÔNG THẤY MỘT QUAN CHỨC CHÍNH PHỦ NÀO XUẤT ĐẦU LỘ DIỆN ? BAN CHỈ ĐẠO TW VỀ PHÒNG CHỐNG THIÊN TẠI ĐẾN GIỜ PHÚT NÀY VẪN BIỆT TĂM KHÔNG THẤY HỌP ?
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ ĐẾN GIỜ PHÚT NÀY KHÔNG HỀ CÓ MỘT DÒNG TIN VỀ TÌNH HÌNH BÃO LŨ MIỀN TRUNG/ TRONG KHI BÁO CÓ BÃO GIẬT CẤP 15?
CÁC VỊ ĐANG NGỦ CẢ SAO ?
http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/trangchu



Đến thời điểm 16 h 30 hôm nay 15/10/2016 các báo đảng đưa tin về bão lũ miền trung:

-Báo điện tử Đảng CSVN (http://dangcongsan.vn/ ) đưa mỗi tin Công điện về ứng phó lũ lụt miền trung với 2 ảnh...
-Cổng thông tin Điện tử Chính phủ đăng mỗi công điện không có hình ảnh (http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/trangchu);
Báo Nhân Dân ( http://www.nhandan.com.vn/) có bài tổng hợp tin dài hơn và có đăng hình ảnh lũ lụt...

Ông Tập viết bài cho báo Campuchia, nói 2 nước "mãi là bằng hữu"

Thi Anh | 

Ông Tập viết bài cho báo Campuchia, nói 2 nước "mãi là bằng hữu"
Thủ tướng Campuchia Hun Sen, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân.

Trong bài viết đứng tên mình, ông Tập Cận Bình nói Campuchia là "bạn tốt" của TQ trong vấn đề tranh chấp trên biển, đồng thời nhắc tới những lợi ích mà nước này nhận được từ TQ.

Hoàn Cầu ngày 13/10 đã đăng tải toàn văn bài viết của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trên tờ Rasmei Kampuchea, nhật báo lớn nhất của Campuchia, với tựa đề "Trung Quốc và Campuchia: Láng giềng tốt và bằng hữu đáng tin cậy".
Mối quan hệ lớn như cây, đẹp như hoa
Mở đầu bài viết, Chủ tịch Trung Quốc nhắc lại mối quan hệ "hơn một thiên niên kỷ" giữa Trung Quốc và Campuchia thông qua "con đường tơ lụa trên biển".
Viện dẫn rằng "Thành ngữ Campuchia ví lòng tin với sự phát triển của cây cối", ông Tập Cận Bình viết: "Được kiểm chứng qua thời gian và bối cảnh thế giới không ngừng đổi thay, mối quan hệ bằng hữu truyền thống giữa Trung Quốc và Campuchia đã lớn mạnh như cây cối rậm rạp, sum suê nhờ nỗ lực của những lãnh đạo tiền nhiệm của cả 2 nước". 
Ông Tập cũng nhắc lại lời nói của cố Quốc vương Norodom Sihanouk: "Quốc vương Norodom Sihanouk từng nói rằng mối quan hệ bằng hữu giữa Trung Quốc và Campuchia như đóa hoa không bao giờ tàn úa và luôn khoe sắc dưới trời xanh".
Ông Tập Cận Bình tiếp tục bàn tới mối quan hệ giữa 2 nước ở thời điểm hiện tại: "Bước vào kỷ nguyên mới, mối quan hệ bằng hữu giữa Trung Quốc và Campuchia tiếp tục phát triển, tỏa sáng với sức sống mới. Hai nước chúng ta tận hưởng niềm tin chính trị sâu sắc và cơ chế hợp tác kinh tế theo hướng hai bên đều có lợi".
"Chúng ta đã tiến hành hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực khác nhau và duy trì tham vấn, điều phối đối với các vấn đề quốc tế cũng như khu vực, làm gương cho thấy hai nước nên đối xử với nhau bình đẳng và hợp tác với sự chân thành như thế nào".
Ông Tập viết bài cho báo Campuchia, nói 2 nước mãi là bằng hữu - Ảnh 1.
Ảnh Chủ tịch Tập Cận Bình và Quốc vương Norodom Sihamoni được đặt cạnh nhau trước chuyến công du. Ảnh: EPA
"Mãi mãi" là bạn bè tốt
"Trung Quốc và Campuchia là chỗ bạn bè tận tụy", ông Tập nhấn mạnh, "Với những vấn đề liên quan tới lợi ích sát sườn của nhau và những mối quan tâm chính yếu, hai nước chúng ta đã cùng đứng lên và hỗ trợ cho nhau".
Ông Tập không quên nhắc tới lập trường của Campuchia đứng về phía Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển. "Khi Trung Quốc phải hành động để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lợi ích hàng hải, đồng thời cống hiến cho nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại hòa bình, Campuchia đã không ngần ngại lên tiếng vì công lý", ông Tập viết.
"Người Trung Quốc chúng tôi có câu 'Có hoạn nạn mới biết bạn bè', tương tự như câu thành ngữ của người Campuchia 'Lúc khó khăn mới biết ai là bạn tốt".
Nói "Trung Quốc và Campuchia là những người láng giềng nhưng lại chia sẻ sợi dây liên kết như anh em", ông Tập nêu ra những lợi ích mà Campuchia có được về kinh tế, cũng như văn hóa giáo dục nhờ sự giúp đỡ của Trung Quốc, đồng thời hứa hẹn sẽ phát triển mối quan hệ song phương giữa hai bên.
Cuối cùng, ông Tập Cận Bình kết luận: "Tôi tin tưởng rằng với những nỗ lực của chúng ta, mối quan hệ truyền thống giữa Trung Quốc và Campuchia sẽ ra trái ngọt, cho phép chúng ta mãi mãi là láng giềng tốt và bạn bè đáng tin cậy".
Bài viết được đăng tải trên báo Campuchia ngay trước thềm chuyến thăm đầu tiên của ông Tập Cận Bình tới nước này. Hôm nay (13/10), Chủ tịch Trung Quốc bắt đầu chuyến thăm cấp nhà nước kéo dài 2 ngày tới Campuchia. 
theo Thế giới tr

Trung Quốc "bắt thóp" đòn bài Mỹ của ông Rodrigo Duterte

HỒNG THỦY

(GDVN) - Ông Duterte có thể rời Trung Quốc ra về mang theo khoảng 50 tỉ USD giá trị của các thỏa thuận hợp tác.
The Straits Times ngày 15/10 đưa tin, hôm thứ Tư vừa qua Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte sẽ có chuyến thăm chính thức Trung Quốc 4 ngày, bắt đầu từ thứ Ba tuần tới theo lời mời của ông Tập Cận Bình.
Trong khi ông Rodrigo Duterte nói rằng ông sẽ không đụng chạm gì đến Phán quyết Trọng tài vụ kiện Biển Đông, Tổng thống Philippines đang hy vọng có thể thuyết phục ông Tập Cận Bình "cho phép" ngư dân Philippines quay trở lại đầm phá Scarborough đánh bắt như trước.
Giáo sư Li Kaisheng từ Đại học Hạ Môn nhận định: "Nếu Bắc Kinh đồng ý với yêu cầu này thì sẽ rất khó khăn, vì Trung Quốc đã công khai tuyên bố không chấp nhận Phán quyết Trọng tài. Đồng ý với yêu cầu này là mặc nhiên thừa nhận Phán quyết Trọng tài."
Trước chuyến thăm, ông chủ Điện Manacanang nhiều lần đưa ra những tuyên bố gây sốc chỉ trích Hoa Kỳ và Tổng thống Barack Obama. Tuy nhiên giới phân tích Trung Quốc cho rằng, mong đợi Manila có bất kỳ thay đổi thực sự nào trong quan hệ với Washington là không thực tế.
Ông Hứa Lợi Bình, ảnh: Đại Công Báo.
Hứa Lợi Bình, một nhà nghiên cứu Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho rằng, cơ bản Rodrigo Duterte đang áp dụng chiến lược cân bằng quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Những phát ngôn gây sốc vừa qua chỉ là xu hướng, tính cách cá nhân.
Chuyên gia Đông Nam Á từ Đại học Kỵ Nam, ông Trương Minh Lượng thì nhận xét, Bắc Kinh nhận thức rõ rằng mặc dù Tổng thống Philippines đe dọa kết thúc các cuộc tập trận chung với Mỹ ở Biển Đông, các nguyên tắc cơ bản của quan hệ Mỹ - Philippines sẽ không thay đổi.
Tiến sĩ Zha Wen đến từ Đại học Ngoại giao Trung Quốc lại đưa ra nhận định hơi khác, Bắc Kinh cũng chẳng mong cầu Philippines thoát khỏi vòng tay của Mỹ. Trung Quốc không quan tâm đến giả định về một trò chơi có tổng bằng không.
Một điểm nổi bật trong chuyến thăm Trung Quốc của ông Rodrigo Duterte là tăng cường hợp tác kinh tế. Theo ông Hứa Lợi Bình, ông Duterte có thể rời Trung Quốc ra về mang theo khoảng 50 tỉ USD giá trị của các thỏa thuận hợp tác.
"Đã đến lúc Trung Quốc tăng cường hợp tác kinh tế - thương mại với Philippines, thúc đẩy sáng kiến Một vành đai, một con đường", ông Bình chia sẻ. [1]
Tuy nhiên dư luận Philippines không phải ai cũng lạc quan với chuyến thăm Trung Quốc như Tổng thống Rodrigo Duterte.
Thẩm phán Tòa án tối cao nước này, Antonio Carpio đã cảnh báo ông chủ Điện Manacanang rằng, Trung Quốc có thể yêu cầu Manila phải thừa nhận cái gọi là "chủ quyền" của họ ở Biển Đông trước khi đồng ý bất kỳ giao dịch, dự án nào tiến hành khai thác chung.
Ông cho biết, trong chuyến đi phá băng của cựu Tổng thống Fidel Ramos đến Hồng Kông gặp đại diện Trung Quốc, Ngô Sĩ Tồn - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biển Đông đã nói với ông Ramos rằng, trước khi diễn ra bất kỳ hoạt động khai thác chung nào, Philippines phải thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Scarborough.
"Trước tiên, các ông phải thừ nhận rằng chúng tôi sở hữu nó, sau đó chúng tôi sẽ chia sẻ với các ông theo tỉ lệ 50-50.
Tổng thống Philippines sắp đến đó, tôi nghĩ rằng Trung Quốc sẽ ra điều kiện như thế. Vì vậy nếu Tổng thống trở về nước với những thỏa thuận, chúng tôi muốn biết điều khoản của những thỏa thuận đó", ông Carpio giải thích. [2]
Người viết cho rằng bình luận của những học giả Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh không chỉ "bắt bài" ông Rodrigo Duterte, mà còn tương kế tựu kế từng bước thực hiện việc triển khai chiến lược Một vành đai, một con đường, tạo thành những gọng kìm kinh tế từng bước gắn chặt Philippines vào Trung Hoa đại lục.
Bởi lẽ Trung Quốc đã tạo ra cái gọi là "trạng thái bình thường mới" ở Biển Đông mà ngay cả Hoa Kỳ cũng chẳng làm gì được. Giờ có lẽ chưa phải lúc Bắc Kinh manh động, liều lĩnh hơn nữa ở Biển Đông.
Ngược lại, Trung Quốc sẽ dùng "lạt mềm kinh tế" để từng bước buộc Philippines vào quỹ đạo. Nhiều khả năng ông Rodrigo Duterte sẽ mang về những món quà từ Bắc Kinh mà không phải "hứa" điều gì.
Scarborough thì Trung Quốc đã chiếm quyền kiểm soát rồi, đảo nhân tạo và 3 đường băng quân sự bất hợp pháp họ cũng đã xây xong ở Trường Sa. 
Điều tiếp theo Trung Quốc sẽ làm, theo người viết là dùng sợi lạt mang tên Con đường Tơ lụa trên biển thế kỷ 21 để cột cả đối tác lẫn đối thủ vào vòng ảnh hưởng của mình.
Tuy nhiên ông Rodrigo Duterte đã không giấu giếm mục đích kiếm tìm các kế hoạch, thỏa thuận hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và mở cửa thị trường của Bắc Kinh.
Người viết chỉ hy vọng rằng ông Rodrigo Duterte và các nhà lãnh đạo Philippines có thể rút ra các bài học về đầu tư của Trung Quốc ở nước ngoài, tránh để đội vốn, chậm tiến độ và rất nhiều hệ lụy khác từ nhà thầu Trung Quốc như đã và đang diễn ra tại hầu hết các quốc gia trong khu vực.
Bởi lẽ bên cạnh chiến lược tranh giành vị thế siêu cường về kinh tế, Trung Quốc cũng đang phải lo xử lý tái cơ cấu nền kinh tế từ công xưởng hàng giá rẻ của thế giới sang nền kinh tế dịch vụ, những công nghệ và nhà máy lạc hậu, gây ô nhiễm sẽ được họ chuyển ra nước ngoài qua các định chế tài chính như AIIB, Quỹ Con đường tơ lụa...
Tài liệu tham khảo:
Hồng Thủy