Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

Thủ tướng sốt ruột việc tiêu thụ hải sản tồn kho cho ngư dân miền Trung ( TT nên nhờ Formosa giúp một tay...)


THEO CHINHPHU.VN

(GDVN) - "Chốt lại là bao giờ xong. Không thể để niêm phong mãi như vậy, kho cá của người dân mà ta lại cầm chìa khóa. Tinh thần là phải làm ngay, làm nhanh".

Sáng ngày 15/12, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng làm trưởng đoàn đã kiểm tra tình hình tỉnh Quảng Bình thực hiện các kết luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng, trong đó có các kết luận, chỉ đạo liên quan đến sự cố môi trường biển, đặc biệt là tình hình giải quyết (tiêu thụ, tiêu hủy) các lô hàng hải sản thu mua tạm trữ đang tồn kho.
Sau khi kiểm tra thực địa suốt buổi sáng, trong buổi chiều, Tổ công tác đã làm việc với UBND tỉnh Quảng Bình.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, tại 4 tỉnh miền Trung có 5.369 tấn hải sản thu mua, tạm trữ còn tồn kho, trong đó riêng Quảng Bình nhiều nhất với 3.265 tấn. Kết quả xét nghiệm cho thấy, trong số này có hơn 2.658 tấn bảo đảm an toàn thực phẩm, hơn 606 tấn không bảo đảm an toàn thực phẩm.
UBND tỉnh cho biết đến ngày 12/12, tỉnh đã hoàn thành việc tiêu hủy 504 tấn hải sản không bảo đảm an toàn (khi lấy mẫu có 606 tấn, nhưng kiểm đếm thực tế khi tiêu hủy là hơn 504 tấn).
Thủ tướng rất sốt ruột
Tổ trưởng Tổ công tác Mai Tiến Dũng đánh giá cao việc Quảng Bình đã nghiêm túc thực hiện tiêu hủy hải sản nhiễm độc.
Tuy nhiên, Bộ trưởng nhắc đi nhắc lại và nhấn mạnh vấn đề tiêu thụ hơn 2.600 tấn hải sản hiện đang tồn kho, đây là vấn đề cấp bách nhất.
“Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rất sốt ruột vấn đề này. Bộ Y tế đã khẳng định số hải sản còn lại là bảo đảm an toàn, thì làm thế nào để giúp người dân tiêu thụ càng nhanh còn tốt, khẳng định cá Quảng Bình đã sạch.
Vì hải sản để tồn kho càng lâu thì chất lượng càng suy giảm, chi phí bảo quản càng tăng”, Bộ trưởng nói.
Tại cuộc kiểm tra buổi sáng, chủ một cơ sở thu mua cho biết, hiện mỗi ngày cơ sở mất 7 triệu đồng tiền điện.
Dự kiến cơ sở sẽ được bồi thường 3 tỷ đồng, nhưng hiện nợ ngân hàng tới 13 tỷ đồng.
Bộ trưởng Mai Tiến Dũng: Vấn đề tiêu thụ hơn 2.600 tấn hải sản hiện đang tồn kho là cấp bách nhất. Ảnh VGP/Hà Chính.
Cùng với đó là vấn đề chi trả bồi thường cho người dân, bởi sau khi chi trả thì người dân mới đưa hải sản tồn kho đi tiêu thụ. Theo Quyết định số 1880/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tổng giá trị thiệt hại của tỉnh Quảng Bình là hơn 2.588 tỷ đồng.
Bộ Tài chính đã ứng chuyển cho tỉnh 1.100 tỷ đồng. Thủ tướng Chính phủ cũng đã quyết định chi trả việc bồi thường theo hướng hải sản tiêu hủy sẽ được bồi thường 100% giá trị, hải sản tồn kho sẽ được hỗ trợ 30% giá trị.
Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Hoài cho biết tỉnh đã niêm phong toàn bộ các kho hải sản tồn kho, sắp tới tỉnh sẽ lập 8 tổ, kiểm kê lại toàn bộ số hàng này và chi trả bồi thường toàn bộ cho người dân.
Tuy nhiên, một vướng mắc là chưa xác định được đơn giá cụ thể.
Về tiêu thụ, ông Hoài nêu quan điểm người dân, doanh nghiệp phải chủ động tối đa, vì đã được hỗ trợ tới 30% giá trị, đồng thời đề nghị các bộ ngành kêu gọi các doanh nghiệp hỗ trợ tiêu thụ số hải sản tồn kho.
Nghe xong, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng tiếp tục đặt câu hỏi với ông Nguyễn Hữu Hoài về thời gian giải phóng các kho bảo quản hải sản cũng như chi trả bồi thường cho người dân.
“Chốt lại là bao giờ xong. Không thể để niêm phong mãi như vậy, kho cá của người dân mà ta lại cầm chìa khóa. Tinh thần là phải làm ngay, làm nhanh. Theo tôi kho ít chỉ cần 2 ngày, kho nhiều nhiều nhất là 6 ngày”, Bộ trưởng yêu cầu.
Tiền phải đến tay dân, không bớt xén
Đề cập thêm vấn đề này, Phó Chủ nhiệm VPCP Nguyễn Cao Lục đề nghị tỉnh hết sức khẩn trương. “Thủ tướng Chính phủ hết sức quan tâm. Thủ tướng quan tâm cả 4 tỉnh, nhưng Quảng Bình là nhiều nhất.
Sáng nay chúng tôi đi thực tế, người dân nói rằng nếu ra Tết mà chưa tiêu thụ xong thì chỉ có nước đổ đi thôi. Như vậy là chỉ còn một tháng rưỡi nữa để đưa số hải sản này từ kho tới mâm cơm của người tiêu dùng”, Phó Chủ nhiệm nói và yêu cầu tinh thần là quyết nhanh, làm nhanh, giải tỏa sớm cho dân.
Tuy nhiên, cũng cần nói rõ tinh thần là người dân phải chủ động trong việc này.
UBND tỉnh khẳng định việc kiểm kê các kho hàng nhỏ sẽ mất khoảng 1-2 ngày, còn các kho 300-400 tấn sẽ mất ít nhất 4 ngày, cần tổng cộng khoảng 8 ngày. Chủ tịch Nguyễn Hữu Hoài cam kết sẽ xong dứt điểm trong tháng 12.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết thêm, Bộ đã có quyết định chính thức về đơn giá bồi thường cho từng loại hải sản như kiến nghị của tỉnh.
Bộ cũng đã làm việc với các doanh nghiệp lớn về phân phối như BigC, Sài Gòn Coop, Metro… để giúp người dân tiêu thụ hải sản.
Kết luận nội dung này, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng đánh giá cao sự nghiêm túc của Quảng Bình trong triển khai chỉ đạo của Thủ tướng.
Việc tiêu hủy tuy có chậm, nhưng đó là do lỗi của các bộ, ngành, địa phương đã chậm trễ xác định đơn giá.
Bộ trưởng yêu cầu với số cá đã tiêu hủy, chậm nhất tới 20/12 phải chi trả bồi thường cho người dân. Với 2.600 tấn cá sạch tồn kho, phải kiểm kê xong trước 20/12 và tiến hành chi trả chậm nhất trước ngày 25/12.
Tổ trưởng Tổ công tác đề nghị các bộ, ngành và tỉnh đáp ứng các yêu cầu chính đáng của người dân, như xác nhận hải sản sạch để người dân đưa hàng ra thị trường.
Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm công bố thông tin biển miền Trung và hải sản đã hoàn toàn sạch.
Đồng thời, khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Thủ tướng, như các nhiệm vụ liên quan tới hoạt động nuôi trồng thủy hải sản.
“Chủ tịch UBND tỉnh phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng về thống kê, chi trả cho người dân chính xác, công bằng, công khai, minh bạch.
Tiền phải đến tay người dân, tuyệt đối không được bớt xén. Tổ công tác sẽ tổng hợp, báo cáo Ban Chỉ đạo về vấn đề này do Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đứng đầu”, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết.
Đơn vị đầu tiên không nợ đọng nhiệm vụ
Nội dung lớn thứ hai của buổi kiểm tra là tình hình thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng giao.
Theo thống kê, từ đầu năm tới nay, tỉnh được giao 153 nhiệm vụ, trong đó đã hoàn thành 144 nhiệm vụ, còn 9 nhiệm vụ chưa hoàn thành nhưng vẫn trong hạn.
“Như vậy, Tổ công tác kiểm tra 10 bộ ngành, địa phương, tập đoàn, thì Quảng Bình là đơn vị đầu tiên không có nhiệm vụ quá hạn chưa hoàn thành. Đây là kết quả rất tốt”, Bộ trưởng nói.
Tổ trưởng Tổ công tác đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Hoài giải trình thêm về một số vấn đề như tình hình bảo đảm trật tự an toàn xã hội, ổn định sản xuất và đời sống người dân sau sự cố môi trường.
Cùng với đó là công tác hỗ trợ người dân, khắc phục hậu quả các đợt mưa lũ; việc thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, khai thác cát trái phép.
Liên quan tới chính quyền cơ sở, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng đề nghị Quảng Bình làm rõ một số thông tin liên quan tới các dự án của Tập đoàn FLC trên địa bàn.
Đó là việc người dân bức xúc vì quá trình giải phóng mặt bằng, tái định cư, dẫn tới ngăn cản khởi công các dự án này.
Đáng chú ý là thông tin tại xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch, chính quyền đã ép người dân trích lại tiền đền bù từ một dự án để xây dựng nông thôn mới, gây bức xúc trong dư luận.
Trả lời các vấn đề này, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Hoài khẳng định mặc dù tỉnh là 1 trong 2 địa phương được cho phép doanh nghiệp khai thác rừng vì lý do quốc phòng, an ninh, nhưng Quảng Bình là địa phương bảo vệ rừng tốt “nhất nhì” cả nước, tỷ lệ che phủ rừng hiện khoảng 68% thuộc hàng cao nhất cả nước, tuy nhiên vẫn xảy ra một số vụ phá rừng nhỏ lẻ.
Liên quan đến các dự án của FLC, ông Hoài cho biết một số người dân do không hiểu rõ về nhà thầu nên có phản đối dẫn tới việc thi công đình trệ. Hiện tỉnh đã làm công tác tư tưởng, người dân đã đồng ý và dự kiến đầu năm 2017 FLC sẽ triển khai lại.
Ông Hoài cũng thừa nhận việc “ép” người dân trích lại tiền đề bù tại Quảng Phú là có, nhưng việc này do ông Trưởng thôn tự quyết định, số tiền khoảng 300-400 triệu đồng.
Hiện tỉnh đã kiểm tra và yêu cầu trả lại người dân.
Tổ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết kết quả kiểm tra và các kiến nghị của tỉnh sẽ được Tổ công tác báo cáo đầy đủ tại phiên họp Chính phủ sắp diễn ra.
THEO CHINHPHU.VN

BBC: Trung Quốc nói phát biểu của Trump đe dọa 'hòa bình' ( của Trung Quốc0

  • 14 tháng 12 2016
Phát ngôn viên Văn phòng Đài Loan An Phong SơnImage copyrightAP
Image captionPhát ngôn viên Văn phòng Đài Loan An Phong Sơn nói chính sách 'Một Trung Quốc' là nền móng của hòa bình qua eo biển
Bắc Kinh nói phát biểu của tổng thống Mỹ đắc cử Donald Trump về chính sách 'Một Trung Quốc;' có thể ảnh hưởng hòa bình với Đài Loan.
Phát ngôn viên nước này cũng nói can thiệp từ Mỹ cũng sẽ ảnh hưởng quan hệ Trung-Mỹ.
Theo chính sách 'Một Trung Quốc', Hoa Kỳ chỉ có quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc, chứ không phải với Đài Loan mà nước này coi là một tỉnh của mình.
Mới đây Tổng thống đắc cử Donald Trump nói ông chưa chắc đã tiếp tục tuân thủ chính sách này.
Ông Trump trước đó đã làm Bắc Kinh tức giận vì điện đàm trực tiếp với Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn, và còn lên Twitter nói về chuyện này.
Hôm thứ Hai 12/12, Trung Quốc bày tỏ 'quan ngại nghiêm trọng' về các phát biểu của ông Donald Trump và khuyến cáo tính tế nhị của chủ đề này.
An Phong Sơn, người phát ngôn của Văn phòng Đài Loan chuyên trách chính sách của Trung Quốc qua eo biển, hôm thứ Tư 14/12 đã cảnh báo hậu quả sẽ còn nghiêm trọng hơn.
'Sẵn sàng đối đầu'
Ông An nói: "Nguyên tắc 'Một Trung Quốc' là cơ sở chính trị cho quan hệ Trung-Mỹ đang đà phát triển, cũng như nền tảng cho hòa bình và ổn định ở Eo biển Đài Loan".
"Nếu như nền tảng này bị hư hại thì sẽ không có sự phát triển lành mạnh, ổn định trong quan hệ Trung-Mỹ và hòa bình cũng như ổn định ở Eo biển Đài Loan sẽ bị ảnh hưởng nặng nề."
Cùng lúc đó, Đô đốc Harry Harris, người đứng đầu Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, tuyên bố Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thách thức "thái độ lấn lướt, hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông".
Phát biểu tại Viện nghiên cứu Lowy ở Sydney, Australia, Đô đốc Harris nói: "Chúng tôi sẽ không cho phép các khu vực chung bị một bên ngang nhiên đóng cửa, cho dù nước này có bao nhiêu căn cứ trên các đảo nhân tạo tại Biển Đông".
"Chúng tôi sẽ hợp tác trong các lĩnh vực cần thiết, nhưng chúng tôi cũng sẵn sàng đối đầu ở những nơi nào cần thiết."

2017 đầy chông gai cho Chủ tịch Trung Quốc

16.12.2016
Trước khi ông Tập nhậm chức, kinh tế Trung Quốc trải qua điều mà nhiều người mô tả là ‘kỳ diệu’.
Trước khi ông Tập nhậm chức, kinh tế Trung Quốc trải qua điều mà nhiều người mô tả là ‘kỳ diệu’.
Năm tới, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ đối mặt với một số thách thức lớn nhất đối với ông kể từ khi nhậm chức vào năm 2013, những thách thức trắc nghiệm vai trò lãnh đạo của ông chưa từng thấy trước nay, trong đó có những vấn đề kinh tế, việc sắp xếp lại lãnh đạo chính trị cấp cao và những viễn cảnh chưa chắc chắn mà Tổng thống tân cử Donald Trump của Mỹ sẽ mang lại cho mối quan hệ Mỹ-Trung.

Trước khi ông Tập nhậm chức, kinh tế Trung Quốc trải qua điều mà nhiều người mô tả là ‘kỳ diệu’ với nhiều chục năm tăng trưởng mạnh, làm giàu và tiếp thêm quyền lực cho đảng cộng sản.

Hiện giờ, khác với những lãnh đạo tiền bối, ông Tập đang chịu trách nhiệm trong thời kỳ mà nền kinh tế đang đối mặt với hàng loạt nhiều vấn đề, từ các khoản nợ ngày càng tăng của chính quyền địa phương và của các tập đoàn cho tới tình trạng bong bóng thị trường bất động sản. Quỹ Tiền tệ Quốc tế gần đây đã cảnh báo nguy cơ bùng phát một cuộc khủng hoảng lớn hơn. Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chậm đi đáng kể dù tỷ lệ tăng trưởng so với tiêu chuẩn quốc tế vẫn là cao.

Trong khi kinh tế chùn lại, Trung Quốc tìm cách phát triển ảnh hưởng ra nước ngoài và các khoản đầu tư ra ngoại quốc đã ồ ạt gia tăng nhiều đến nỗi chính quyền đã phải nhảy vào để giảm bớt dòng chảy của hàng tỷ đô la vốn ra nước ngoài. Giới hữu trách cũng lưu ý rằng Trung Quốc ngày càng có nhiều hợp đồng hàng tỷ đô la với nước ngoài của các công ty quốc doanh và tư nhân Trung Quốc.

Một số người cho rằng việc ông Tập tự đặt mình vào trung tâm mọi quyết định của chính phủ càng làm cho mọi việc phức tạp hơn, nhân rộng quyền lực cho ông ta tới mức mà một số người đánh giá ông là lãnh đạo Trung Quốc quyền lực nhất kể từ sau ông Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.
Gần đây, ông Tập được trao danh hiệu mà ông Mao và ông Đặng đều từng được vinh danh, trở thành lãnh đạo ‘cốt lõi’ của Trung Quốc. Theo giới phân tích, việc thúc đẩy tăng cường quyền lực này một phần nhằm bảo đảm rằng những cải cách được xúc tiến suông sẻ, nhưng một số người nhìn thấy ông Tập và phương pháp mạnh tay của ông ngày càng bị chống đối.
Bây giờ, hễ mọi việc không trôi chảy, ông chắc chắn sẽ bị chỉ trích nhiều hơn.
Giáo sư khoa học chính trị Jean-Pierre Cabestan thuộc đại học Hong Kong Baptist University nhận xét:
“Mối nguy hiểm là nếu kinh tế có gì trục trặc, ông ấy không thể quy lỗi cho Thủ tướng Lý Khắc Cường như đã từng làm như thế trước kia. Giờ đây, ông ấy phải lãnh trách nhiệm về mọi chuyện xảy ra trong nước.”
Trong ba năm rưỡi vừa qua, ông Tập đưa ra các kế hoạch cải cách đầy tham vọng, nhưng phần nhiều bị bế tắc.

Chính phủ trung ương ủng hộ động lực chống tham nhũng của ông Tập nhắm mục tiêu hơn triệu đảng viên, nhưng các chính quyền địa phương thì không như thế.

Giáo sư Cabestan nói chiến dịch chống tham nhũng đã tạo ra nhiều ngờ vực cho guồng máy hành chính. Ông tiếp lời:
“Dân chúng lo lắng nhiều và chúng ta có thể thấy một số thái độ phản đối ngay trong đảng đối với các động lực hết sức bảo thủ do ông Tập đề xướng và cổ súy.”

Ông Willy Lam, một chuyên gia về chính trị Trung Quốc nhận định:
“Trong năm tới, có phần chắc là ông Tập không có thời gian giải quyết bất kỳ mối quan ngại nào trong số này hay đưa ra những sáng kiến nào mạnh tay. Đây không phải là năm đưa ra sáng kiến mới mà phải bình ổn tư duy của công chúng, nuôi dưỡng sự đồng thuận và phát triển hòa khí giữa các nhánh khác nhau trong đảng.”

Cuối năm tới Trung Quốc sẽ sắp xếp lại hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản và cả Ban Thường trực Chính trị. Ông Tập sẽ ra tái tranh cử chức Tổng bí thư đảng cộng sản và theo dự kiến sẽ còn bành trướng quyền kiểm soát hơn nữa bằng cách nhổ rễ những đảng viên không thân cận với ông. Chưa chắc liệu có thể có thêm những cải cách mạnh tay hay không.

Sau khi đắc cử Tổng thống Mỹ, ông Donald Trump đã khiến giới lãnh đạo Trung Quốc sửng sốt vì lần đầu tiên có một Tổng thống Mỹ tân cử hay đương nhiệm trao đổi trực tiếp với lãnh đạo Đài Loan. Ông Trump cũng chất vấn chính sách của Mỹ về ‘Một nước Trung Hoa’ vốn đóng vai trò chủ chốt trong việc thành lập các mối quan hệ Mỹ-Trung. 

Ông Trump còn tuyên bố sẽ theo đuổi các biện pháp mậu dịch từ thuế suất nặng hơn với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc cho tới liệt kê nước này vào danh sách thao túng chỉ tệ. 

Sử gia và cũng là nhà bình luận Zhang Lifan người Trung Quốc cho rằng giới lãnh đạo Bắc Kinh đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng. Ông lưu ý rằng các thành viên chính trong Tổ chức Thương mại Thế giới cũng đã mệt mỏi với các chiêu trò của lãnh đạo cộng sản Trung Quốc và giờ đây đang có sự thúc đẩy phải dùng luật lệ chế tài Trung Quốc.

Ông Trump lên làm Tổng thống Mỹ làm gia tăng khả năng kinh tế Trung Quốc có thể đối diện một cuộc khủng hoảng, suy trầm mạnh hay thậm chí là suy sụp, theo nhận định của ông Zhang:

“Nếu điều đó xảy ra, bất ổn xã hội là điều kế tiếp. Nếu có bất ổn xã hội sẽ dẫn tới một cuộc khủng hoảng chính trị nội địa. Tất cả đều gắn kết với nhau.”

Vẫn theo lời bình luận gia này, có khả năng sách lược của ông Trump là nhắm mục tiêu những yếu điểm của đảng cộng sản Trung Quốc và quan trọng là lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc phải nhượng bộ để tiến tới trong lúc ông Tập tìm cách duy trì quyền lực, giữ vị thế lãnh đạo đảng, và tránh sai lầm đáng tiếc.

Tuy nhiên, theo lời ông Zhang, khó loại bỏ khả năng Chủ tịch Trung Quốc có thể sẽ mắc sai lầm.

Về văn bản pháp lý ngoại giao đầu tiên của Việt Nam DCCH

Posted on  by The Observer

Print Friendly
Tác giả: Đỗ Hoàng Linh
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DCCH) ra đời, tình hình ngày càng nguy cấp không chỉ vì nạn đói, nạn dốt hoành hành mà chúng ta còn bị các nước đế quốc đưa lực lượng quân sự hỗn hợp vào dưới danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp phát xít Nhật. Ở miền Bắc, hơn 20 vạn quân Tưởng kéo vào đóng quân từ biên giới Việt-Trung đến vĩ tuyến 16. Ở miền Nam, quân Anh kéo vào giúp quân Pháp và trang bị cả vũ khí cho quân Nhật để tiếp sức cho Pháp.
Các thế lực của Anh, Mỹ, Trung Hoa dân quốc lăm le dùng sức mạnh của vũ khí hiện đại để tạo điều kiện cho Pháp quay lại thống trị Đông Dương. Chính phủ Anh kêu gọi Chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch “tạo mọi dễ dàng cho lực lượng Pháp và các quan chức cai trị của Pháp trở lại Đông Dương càng sớm càng tốt”. Ủy ban Đối ngoại của Mỹ cũng cho biết “không muốn áp đặt một sự kiểm soát nào nhưng sẵn sàng giúp đỡ Pháp nếu họ cần”.
Chính quyền Tưởng đang lo đối phó với nội chiến nên cũng tuyên bố “không hề có tham vọng về lãnh thổ đối với Việt Nam”, vì thế Pháp ra sức ve vãn, thương thuyết với Tưởng để gấp rút thâu tóm Đông Dương. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy rất rõ mưu đồ tái xâm lược của Pháp nhưng vẫn kiên trì thực hiện chính sách “hòa để tiến” vì: Chúng ta cần hòa bình để xây dựng nước nhà, cho nên chúng ta buộc lòng nhân nhượng để giữ hòa bình.
Bắt đầu từ ngày 15/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp J.Sainteny (Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Việt Nam, nhân vật đối thoại chính) và Caput (đảng viên đảng Xã hội Pháp, người trung gian) để bắt đầu tiến trình đàm phán hòa bình Việt – Pháp. Nhiều lần, cuộc đàm phán bị bế tắc, ngừng lại thì hai bên lại nhờ trung gian chắp nối gặp gỡ.
Quá trình đàm phán diễn ra rất căng thẳng, như thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong hồi ký: “Sainteny tuyên bố quyết không từ bỏ bất cứ cơ hội nào để lập lại quyền lợi chính đáng của nước Pháp trên mảnh đất này nên khăng khăng giữ vững lập trường thực dân. Bác cũng tranh luận từng câu, từng chữ nhưng rất kiên quyết trong tinh thần bảo vệ nguyện vọng thiêng liêng của nhân dân Việt Nam.
Trong các cuộc hội đàm, Bác hút thuốc liên tục, có khi hút cả loại Gauloises nặng của Pháp để trên bàn họp. Pignon cũng rít thuốc liên miên, còn Sainteny thì không lúc nào ngừng phì phèo cái tẩu. Khói quẩn quanh mù mịt trong phòng. Những hôm họp căng thẳng quá, Bác hút nhiều, buổi tối về ho suốt. Tôi khuyên Bác bớt hút thuốc thì Bác nói: Mình phải hút nhiều để họ tưởng mình suy nghĩ lung lắm. Kỳ thực, quanh quẩn vẫn là lập trường ban đầu, họ cũng vậy mà mình cũng vậy, nhưng mình chủ động, còn họ bị động”.
Cuối tháng 1/1946, quân đội Anh rút khỏi Đông Dương và coi như giao lại miền Nam Việt Nam cho quân Pháp. Ngay sau đó, cao ủy Pháp D’Argenlieur phái tướng Salan sang thương lượng với chính quyền Tưởng ở Trùng Khánh để đổ quân vào miền Bắc Việt Nam.
Ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cuộc gặp với J.Sainteny thảo luận về những vấn đề chính trị mấu chốt để đi tới một bản hiệp định chính thức. Hai bên đã đồng ý dùng từ “Chính phủ tự quyết” thay cho “tự do của Chính phủ” và “tự do trong Liên hiệp Pháp”.
J.Sainteny viết trong hồi ký: “Hồ Chí Minh và các cố vấn của ông tranh luận với tôi từng câu từng chữ để đi tới bản Hiệp định Pháp-Việt. Đã bao lần chúng tôi có cảm tưởng không thể nào đạt được thỏa thuận, cảm giác thất vọng vì chúng tôi không bao giờ có được tiếng nói chung. Hồ Chí Minh yêu cầu phải được suy nghĩ cẩn thận, phải tham khảo ý kiến các cộng sự, các cố vấn. Về phía tôi, tôi cũng phải thường xuyên hỏi ý kiến Phủ Cao ủy đặt tại Sài Gòn trước khi chấp nhận một câu, một chữ trong đàm phán. Chỉ riêng việc định nghĩa nội dung từ Độc Lập đã làm những cuộc đối thoại giữa chúng tôi vấp váp nhiều nhất và nhiều lần đứt đoạn. Những cuộc đối thoại đứt đoạn này kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần cho tới khi một người trung gian có nhiều thiện chí đã tìm cách để những người đối thoại Pháp-Việt giáp mặt nhau, đó là Louis Caput. Mãi tới ngày 16/2, sau một cuộc họp kéo dài vừa mới được nối lại, lần đầu tiên chúng tôi mới có cảm giác là có khả năng đạt được thỏa thuận”.
Sau nhiều lần mặc cả về quyền lợi, ngày 28/2/1946, Hiệp ước Hoa-Pháp được ký tại Trùng Khánh, chấp nhận cho Pháp đem quân vào thay thế quân Tưởng ở Bắc Đông Dương và để đổi lại, Pháp trả cho Tưởng các tô giới Pháp ở Trung Quốc cùng tuyến đường xe lửa Vân Nam và hàng hóa của Tưởng qua cảng Hải Phòng sẽ được miễn thuế.
Trên thực tế, sau khi đã có Hiệp ước này, quân Tưởng vẫn ép ta cải tổ Chính phủ để đưa thêm tay chân của chúng vào và thực chất vẫn nấn ná ở lại Đông Dương để vừa bảo vệ cho sườn phía nam Trung Hoa dân quốc, vừa tạo cớ đưa ra thêm yêu sách mới cho Pháp. Trong khi người Pháp hối thúc việc thi hành thỏa ước 28/2 và sốt ruột đưa quân vào miền Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng từ 1/3 và hoàn tất chuyển giao ngày 31/3/1946 thì cá nhân Tổng Tư lệnh quân đội Tưởng ở Bắc Việt Nam Lư Hán rất bất bình với Hiệp định Hoa-Pháp, mặc dù quân Tưởng vẫn được nhiều lợi ích.
Với ảo mộng bành trướng, Lư Hán cho rằng với tổ chức Việt Nam quốc dân đảng, ông ta sẽ dựng lên một chính quyền thân dân quốc tại Việt Nam nên cứ lờ đi yêu cầu của phía Pháp cho họ đổ quân vào Hải Phòng ngày 9/3. Do vậy, quan hệ giữa Pháp và Tưởng nhanh chóng trở nên căng thẳng.
Trước tình hình đó, chúng ta chỉ có mấy lựa chọn: Dựa vào lực lượng quốc tế nào đó để ngăn Pháp quay lại chiếm Việt Nam, một quốc gia có chủ quyền, độc lập (điều này gần như là không thể trong bối cảnh quốc tế rối ren sau thế chiến lúc đó); Phát động ngay cuộc chiến tranh chống Pháp trong khi còn quân Tưởng và quân Nhật (điều này chắc chắn không thành công vì tiềm lực kinh tế, quân sự của ta hầu như chưa chuẩn bị được gì); Thỏa hiệp với Tưởng để kiềm chế Pháp (nhưng cuộc nội chiến Quốc – Cộng ở trong nước không thể tạo điều kiện cho quân Tưởng ủng hộ ta); Và cuối cùng là thỏa hiệp với Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước (vấn đề này sẽ tạo cơ hội cho bọn phản động thân Tưởng tuyên truyền, vu cáo Chính phủ phản quốc và cũng tạo cớ cho Pháp đưa quân vào Việt Nam).
Trong bối cảnh đó, Đảng và Chính phủ đã xác định rõ lập trường: “Giảng hòa của ta đối với Pháp là độc lập nhưng liên minh với Pháp. Pháp thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của dân ta và sự thống nhất quốc gia. Ta có thể cho Pháp quyền đóng quân trên đất nước ta nhưng chỉ tạm thời và có hạn”.
Sáng ngày 4/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp đầu tiên của Chính phủ liên hiệp kháng chiến bàn về các vấn đề hệ trọng và các nguyên tắc đàm phán với Pháp trên cơ sở Việt Nam độc lập và Chính phủ cử ra một tiểu ban nghiên cứu những điều kiện của ta trong đàm phán. Chiều cùng ngày, Người họp với các phóng viên Việt Nam để bác bỏ những tin bịa đặt đồn đại về cuộc đàm phán Việt-Pháp đang gây hoang mang và kích động quần chúng. Người vẫn nhắc nhân dân phải luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và kháng chiến đến cùng.
Trong ngày, Người cũng trao đổi với Sainteny về vấn đề Nam Bộ. Sáng ngày 5/3, báo Cứu Quốc đăng tuyên bố ba điểm trong chính sách đối ngoại của Chính phủ ta: “Đối với các nước Đồng minh, nước Việt Nam bao giờ cũng chủ trương thân thiện, nhất là đối với Trung Hoa; Đối với các quốc gia nhược tiểu đang chiến đấu giành độc lập thì dân tộc Việt Nam rất đồng tình; Đối với dân Pháp, dân Việt Nam không thù hằn gì nhưng cực lực phản đối chế độ thực dân và cương quyết giữ quyền độc lập. Chính phủ Việt Nam chỉ nhận điều đình với Chính phủ Pháp theo nguyên tắc “dân tộc tự quyết” của Hiến chương Đại Tây Dương”.
Sáng cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh về làng Hậu Ái, Hoài Đức, Hà Tây dự hội nghị bất thường của BCH TƯ Đảng bàn về chủ trương thương lượng với Pháp. Buổi tối, Người làm việc rất khuya với J. Sainteny, ông này nhớ lại: “Theo dự kiến, Hiệp định sẽ được ký kết chậm nhất là vào đêm ngày 5 rạng ngày 6/3 nhưng mãi tới nửa đêm, các nhà thương lượng đôi bên vẫn còn sa lầy trong bế tắc. Pignon và tôi rút về nhà riêng sau khi đề nghị Hồ Chí Minh suy nghĩ thêm. Tôi cũng nói rất rõ với Hồ Chí Minh là để đến hôm sau nữa thì chắc chắn sẽ quá chậm vì các tàu chiến của Pháp chở Leclerc và đội quân viễn chinh tăng viện đã đến sát bờ biển Bắc kỳ. Trong khi đó chập tối 5/3, Leclerc đã cho người mang đến tôi một lá thư riêng, đề nghị tôi bằng bất cứ giá nào cũng phải đi đến ký kết vì Leclerc đã được mật báo về những ý đồ từ chỉ huy quân đội của Lư Hán chiếm giữ Bắc kỳ đang muốn chống lại quân Pháp đổ bộ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và J. Sainteny nghe đọc nội dung bản Hiệp định sơ bộ trước khi ký kết chính thức, ngày 6/3/1946.
Sáng sớm ngày 6/3, quân Pháp đổ bộ vào Hải Phòng đã bị quân Tưởng ngăn cản và hai bên nổ súng bắn nhau đến tận đầu giờ chiều. 8 giờ 30 sáng cùng ngày tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về công tác ngoại giao và Dự thảo nội dung Hiệp định sơ bộ sẽ ký với Pháp. Hội đồng Chính phủ đã ký một biên bản đặc biệt tán thành ký Hiệp định đình chiến và mở cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp với điều kiện Pháp công nhận nước Việt Nam DCCH là một quốc gia tự do và Chính phủ Việt Nam bằng lòng để quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa.
Lúc 12 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Hoàng Minh Giám gặp Sainteny và Pignon tiếp tục tranh luận về những điều khoản của bản Hiệp định và hai bên thống nhất buổi chiều sẽ ký kết chính thức. Lúc 16 giờ 30 tại số nhà 38 Lý Thái Tổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam DCCH và J. Sainteny đại diện Chính phủ Pháp đã ký vào bản Hiệp định sơ bộ. Hiệp định này khẳng định nước Việt Nam DCCH là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình; việc hợp nhất ba kỳ do nhân dân Việt Nam trực tiếp giải quyết.
Kèm theo Hiệp định là một điều khoản phụ về các vấn đề quân sự gồm bốn điều quy định lực lượng tiếp phòng thay thế quân Trung Hoa gồm 15.000 quân Pháp và 10.000 quân Việt Nam. Số quân Pháp sẽ được quân Việt Nam thay thế theo tỷ lệ 1/5 mỗi năm và hoàn thành trong 5 năm. Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại buổi lễ ký Hiệp định: “Chúng tôi không thỏa mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn”.
J Sainteny kể lại: “Quan sát viên các nước Đồng minh: Anh, Mỹ, Hoa và cả Pháp nữa vì Hồ Chí Minh muốn, Caput cũng được mời tới dự. Tôi được cử thay mặt Cao ủy Pháp ở Đông Dương, cùng đi với tôi có tướng Salan, Pignon và vài cộng sự viên cơ quan Cao ủy Pháp tại Hà Nội. Bản Hiệp định được đọc to  trước mặt cử tọa đứng trong phòng. Hồ Chí Minh ký đầu tiên, liền sau đó Vũ Hồng Khanh cũng đặt bút ký. Hồ Chí Minh đã buộc một người khét tiếng chống Pháp, cầm đầu một lực lượng đối lập hiếu chiến phải ký tên dưới chữ ký của ông để coi đó như một đảm bảo chống lại luận điệu tuyên truyền xuyên tạc là ông phản bội sự nghiệp giành độc lập của Việt Nam” rồi đến lượt tôi ký thay mặt nước Pháp”.
Lúc 18 giờ tại Bắc Bộ Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố với đại diện các báo hằng ngày về bản Hiệp định vừa ký. Và hồi 10 giờ ngày 7/3, tại cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân Thủ đô trước Nhà hát lớn thành phố, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về Hiệp định sơ bộ 6/3: “Nước ta đã độc lập thật sự từ tháng 8/1945 nhưng tới nay chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó sẽ dẫn ta đến một vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế. Đó là một thắng lợi về mặt chính trị… Đồng bào nên bình tĩnh, đoàn kết, trọng kỷ luật…”.
Người im lặng giây lát rồi tuyên bố: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”.
Cuộc đàm phán Việt-Pháp diễn ra từ cuối 1945 đến đầu 1946 và dẫn đến Hiệp định sơ bộ 6/3 là một quyết sách chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cứu vãn tình thế nguy cấp, tránh được nguy cơ đất nước phải chống chọi với nhiều kẻ thù cùng một lúc, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng mới giành được. Với bản Hiệp định sơ bộ này, chúng ta đã biến thỏa hiệp áp đặt Pháp-Hoa thành bản thỏa thuận tay ba, làm thất bại cuộc mặc cả bá quyền của hai nước lớn, khiến cuộc đổ bộ của quân Pháp xâm chiếm nước ta thành một cuộc hành quân được sự dồng ý của Chính phủ Việt Nam.
Hiệp định này đã cho chúng ta thêm một khoảng thời gian hòa hoãn với Pháp để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng và đẩy nhanh 20 vạn quân Tưởng cùng bè lũ tay sai ra khỏi đất nước. Hiệp định 6/3 là văn bản pháp lý đầu tiên mà nước Việt Nam DCCH ký với nước ngoài với tư cách là một nhà nước có chủ quyền, mở ra phương thức giao tiếp, thương lượng bình đẳng giữa Việt Nam với Pháp về sau và thực tế chỉ hai tháng sau, lá cờ đỏ sao vàng của ta đã tung bay tại Paris, thủ đô nước Pháp.
Tác giả Đỗ Hoàng Linh là Phó Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.
Hình: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đại diện quốc tế tham dự lễ ký Hiệp định sơ bộ chụp ảnh lưu niệm trước nhà 38 Lý Thái Tổ sau lễ ký.
Nguồn: ANTG
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/12/17/van-ban-phap-ly-ngoai-giao-dau-tien-cua-viet-nam-dcch/#sthash.uzmMx6Io.dpuf

Trung Quốc “cướp” thiết bị lặn không người lái của Mỹ ở Biển Đông



Tàu hải quân Trung Quốc ‘tóm’ một thiết bị lặn không người lái của một tàu hải dương học Mỹ trong hải phận quốc tế ở Biển Đông, khiến Hoa Kỳ phản đối ngoại giao và yêu cầu trả lại, theo nguồn tin một giới chức quốc phòng Mỹ tiết lộ với Reuters ngày 16/12.

Tàu khảo sát hải dương USNS Bowditch (Nguồn: Hải quân Hoa Kỳ)
Tàu khảo sát hải dương USNS Bowditch (Nguồn: Hải quân Hoa Kỳ)
 Sự việc xảy ra hôm 15/12 ở Tây Bắc Vịnh Subic của Philippines. Trong lúc tàu khảo sát hải dương Mỹ USNS Bowditch đang thu hồi hai thiết bị lặn không người lái, tàu chiến Trung Quốc đã cho một xuồng nhỏ bám theo, và lấy cắp một trong hai thiết bị trên.

Tàu Bowditch đã cố gắng liên lạc qua sóng radio, nói rằng đây là tài sản của Hoa Kỳ, nhưng tàu chiến Trung Quốc vẫn phớt lờ.

Các tàu khảo sát hải dương của Mỹ thường bị bám đuôi vì nghi thực hiện nhiệm vụ do thám.

Vụ này làm tăng thêm quan ngại về sự hiện diện quân sự và thái độ gây hấn ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Trung Quốc mới đây cũng gia tăng các hoạt động quân sự hóa các hòn đảo nhân tạo mà nước này bồi đắp ở Biển Đông.

Hoa Kỳ đã có phản ứng ngoại giao chính thức với Trung Quốc về vụ việc và yêu cầu nước này ngay lập tức trao trả thiết bị lặn không người lái. Phía Trung Quốc xác nhận đã nhận được thông tin nhưng chưa có phản hồi.

(VOA)