Thứ Hai, 20 tháng 3, 2017

Kiềm chế Trung Quốc: Nhiệm vụ bất khả thi?

Posted on  by The Observer

Print Friendly
Tác giả: Ngô Di Lân
Những phát biểu thể hiện lập trường cứng rắn trước Trung Quốc của Donald Trump cho thấy rằng vị tổng thống này dù thiếu nhạy bén về ngoại giao nhưng hoàn toàn đủ tỉnh táo để nhận ra rằng hiện nay Trung Quốc chứ không phải Nga, mới là đối thủ chiến lược số một của Mỹ. Do đó, tuy Trump đã “giết chết” Hiệp định TPP  và Bộ Ngoại giao Mỹ mới đây đã tuyên bố chấm dứt chiến lược “xoay trục về Châu Á” mà Obama đã khởi xướng nhưng nhiều khả năng chính quyền Trump vẫn sẽ tiếp tục theo đuổi những đường lối chính được vạch ra trong chiến lược xoay trục bởi những lợi ích quốc gia cơ bản của Mỹ ở Châu Á vẫn chưa hề thay đổi.
Từ góc nhìn của Bắc Kinh, rõ ràng những động thái chính trị – ngoại giao của Mỹ trong thời gian gần đây thể hiện ý đồ ngăn chặn Trung Quốc mở rộng sức ảnh hưởng ở Châu Á của Mỹ. Tuy chính phủ Mỹ từ trước tới giờ đều phủ nhận điều này nhưng trên thực tế quan điểm cho rằng Mỹ cần phải kiềm chế Trung Quốc đã và đang nhận được nhiều sự ủng hộ của các học giả và nhà nghiên cứu chính sách ở Mỹ trong những năm gần đây. Nhưng liệu kiềm chế Trung Quốc có phải là cách thức tốt nhất để Mỹ duy trì vị thế độc tôn hiện nay của mình ở Châu Á hay không?
Để trả lời câu hỏi trên, bài viết này của tác giả đưa ra hai luận điểm chính. Một là, cần phân biệt rõ ràng hai mục tiêu sau: (1) kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc và đánh bại tham vọng bá quyền (hegemonic ambition) của Trung Quốc ở Châu Á nói chung và (2) ngăn chặn các nỗ lực đơn phương nhằm mở rộng lãnh thổ (territorial expansion) của Trung Quốc ở Biển Đông. Hai là, trong tương lai gần, chỉ có mục tiêu ngăn chặn bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông là thật sự cần thiết và khả thi.
Chính sách kiềm chế: xưa và nay
Cha đẻ của chính sách kiềm chế trong Chiến tranh Lạnh là nhà ngoại giao Mỹ George Kennan – tác giả của “Bức điện dài” (Long Telegram) và bài viết “Nguồn gốc hành vi của Liên Xô” (Sources of Soviet Conduct) lừng danh. Trong hai bài viết kinh điển này, Kennan đã lập luận rằng nguồn gốc của mâu thuẫn Mỹ-Xô chủ yếu xuất phát từ tư duy đối ngoại dựa trên nỗi bất an truyền thống của người Nga trước các mối đe doạ từ bên ngoài. Để bảo vệ lãnh thổ rộng lớn mênh mông của mình, các nhà lãnh đạo Nga từ trước tới giờ luôn phải đề phòng, cảnh giác trước mọi mối hiểm hoạ lớn nhỏ. Vì vậy người Nga không có văn hoá thoả hiệp như người Mỹ-Anh mà thay vào đó có tư duy chiến đấu “một mất, một còn” để đảm bảo an ninh. Do đó, theo Kennan, cách tốt nhất để Mỹ đối phó với Liên Xô là thực thi một chiến lược kiềm chế kiên trì và dài hạn với mục tiêu chính là ngăn chặn khuynh hướng bành trướng của Liên Xô ở phạm vi toàn cầu, đặc biệt là ở các trận địa trọng yếu như Tây Âu và Đông Á.
Tại thời điểm đó, Kennan cho rằng nếu Mỹ có thể áp dụng triệt để chiến lược này với Liên Xô một cách lâu dài và bền bỉ thì hệ thống Liên Xô sẽ từ từ suy yếu và tan rã. Có lẽ đây cũng là mong muốn của những người đang kêu gọi Mỹ kiềm chế Trung Quốc, mà trong đó GS. John Mearsheimer (ĐH Chicago) là một trong những tiếng nói có trọng lượng và uy tín nhất. Là người sáng lập ra trường phái tân hiện thực tấn công (offensive realism), Mearsheimer cho rằng mọi cường quốc đều theo đuổi mục tiêu tối đa hoá quyền lực của mình bởi trong một thế giới vô chính phủ (anarchy), quốc gia nào càng mạnh thì càng đảm bảo được an ninh của mình. Theo ông, một quốc gia sẽ chỉ thực sự an toàn trong một thế giới vô chính phủ khi nó là bá quyền (hegemon) duy nhất trong hệ thống. Khi mà Mỹ đang là bá quyền duy nhất hiện nay rồi và Trung Quốc có tham vọng trở thành bá quyền thứ hai ở Châu Á thì rõ ràng xung đột lợi ích giữa hai bên là không thể tránh khỏi.
Những học giả có khuynh hướng “diều hâu” như Mearsheimer cho rằng Trung Quốc càng mạnh thì định nghĩa vệ lợi ích quốc gia của nước này càng rộng. Theo lẽ tự nhiên, Trung Quốc sẽ muốn có nhiều sự tự do để tùy ý hành động và muốn có nhiều sự kiểm soát hơn đối với các khu vực kế cận để đảm bảo an ninh của mình. Trên thực tế, các nhà lãnh đạo Bắc Kinh đã cho thấy tham vọng xây dựng một “hạm đội hải dương xanh” đủ mạnh để có thể bảo vệ vùng nước duyên hải Trung Quốc đồng thời kiểm soát được những vùng biển trọng yếu nhất trên thế giới như hải quân Mỹ đang làm. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn đang phát triển các vũ khí “chống tiếp cận” (anti-access), nhằm giới hạn tầm hoạt động của quân đội Mỹ ở Châu Á và làm suy yếu khả năng răn đe của Mỹ, đặc biệt trong phạm vi chuỗi đảo thứ nhất (first island chain) trải dài từ đảo Okinawa ở Nam Nhật Bản cho tới Biển Đông.

Bản đồ Chuỗi đảo thứ nhất và thứ hai ở Châu Á. Nguồn: Tragedy of Great Power Politics (Mearsheimer, 2014)
Trong một tương lai xa hơn, khi Trung Quốc đã đủ mạnh về cả mặt kinh tế lẫn quân sự rồi, rất có thể nước này sẽ dùng thế mạnh quân sự của mình để uy hiếp các đồng minh Mỹ trong khu vực, đẩy Mỹ vào tình thế rất khó: một là bảo vệ đồng minh và chấp nhận rủi ro chiến tranh với Trung Quốc, hai là bỏ rơi các đồng minh của mình và đối mặt với nguy cơ toàn bộ hệ thống liên minh toàn cầu của mình bị tan rã. Dù trường hợp nào xảy ra đi nữa thì đây cũng là một viễn cảnh thua-thua cho phía Mỹ. Hơn nữa, một khi Trung Quốc trở thành một siêu cường toàn cầu như Mỹ, rất có thể nước này sẽ can thiệp vào khu vực Châu Mỹ, đặc biệt là Nam Mỹ, vốn là sân sau của Mỹ. Điều này sẽ buộc Mỹ phải phân tán sự tập trung và lực lượng của mình, do đó làm suy yếu các cam kết an ninh của Mỹ ở các khu vực trọng yếu khác.
Dù bá quyền Trung Quốc có thân thiện (benign) đi chăng nữa, một nước Trung Quốc hùng mạnh vẫn là cái gai trong mắt của Mỹ bởi Bắc Kinh sẽ có tiếng nói quyết định trong những vấn đề ở Châu Á. Nếu như vậy thì Mỹ sẽ càng trở nên phụ thuộc vào Trung Quốc để đạt được những mục tiêu quan trọng của mình như phi hạt nhân hoá Bán đảo Triều Tiên, v.v… Do đó, sự trỗi dậy của Trung Quốc trong bất kì trường hợp nào vẫn là mối đe doạ lớn đối với lợi ích cốt lõi của Mỹ là duy trì vị thế siêu cường độc tôn của mình ở Châu Á-Thái Bình Dương.
Trên cơ sở đó, Mearsheimer đề xuất phía Mỹ triển khai chiến lược kiềm chế tương đối giống với những gì Mỹ đã thực hiện trong suốt chiều dài của Chiến tranh Lạnh để đối phó với Liên Xô. Cụ thể hơn, Mearsheimer cho rằng Mỹ cần xây dựng một tập hợp lực lượng để tạo ra đối trọng với Trung Quốc. Nói cách khác, Mỹ cần phải dẫn đầu một liên minh các quốc gia chống lại Trung Quốc bằng việc nâng cao năng lực quốc phòng cho những nước láng giềng đang có mâu thuẫn với Trung Quốc và thậm chí can thiệp quân sự để hỗ trợ những nước này nếu không còn lựa chọn nào khác.
Kiềm chế Trung Quốc: Nhiệm vụ bất khả thi?
Có hai câu hỏi lớn có thể đặt ra đối với khuyến nghị chính sách trên. Một là, liệu kiềm chế thành công Trung Quốc có phải là một nhiệm vụ khả thi hay không? Nói cách khác, Mỹ có thể áp dụng được chiến lược này để ngăn chặn Trung Quốc như họ đã từng làm với Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh hay không? Hai là, giả sử việc kiềm chế Trung Quốc khả thi đi nữa thì liệu kiềm chế Trung Quốc có phải là một hành động cần thiết để Mỹ bảo vệ lợi ích của mình ở Châu Á hay không? Theo quan điểm của tác giả, câu trả lời cho cả hai câu hỏi trên đều là: không.
Xét về tính khả thi và hiệu quả, cần phải nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng một chiến lược kiềm chế toàn diện sẽ có tổn phí rất lớn trong khi nhiều khả năng sẽ không có tác dụng đối với Trung Quốc.
Thứ nhất, chỉ vì chính sách kiềm chế có tác dụng trong Chiến tranh Lạnh không có nghĩa là ngày nay nó sẽ có hữu hiệu đối với Trung Quốc vì thời thế đã thay đổi và Trung Quốc không phải là Liên Xô. Trung Quốc ngày nay tuy là một cường quốc hạt nhân và là cường quốc quân sự thứ hai trên thế giới chỉ sau Mỹ, nhưng ít ra tại thời điểm này nó chưa trở thành một “đế chế” với tham vọng toàn cầu như Liên Xô. Trung Quốc chưa tìm kiếm đồng minh để chống Mỹ, cũng chưa đưa quân can thiệp vào sân sau của Mỹ như Liên Xô đã từng làm. Trung Quốc cũng chưa có một hệ tư tưởng với sức hút toàn cầu hay một mô hình phát triển đủ hấp dẫn để lôi kéo các quốc gia ra khỏi trật tự thế giới Mỹ. Mặt khác, nền kinh tế Trung Quốc và Mỹ lại có sự lệ thuộc rất lớn vào nhau và Trung Quốc là bạn hàng lớn nhất của rất nhiều các nước Châu Á nên việc kiềm chế Trung Quốc sẽ có tổn phí rất cao mà khó mang lại hiệu quả.
Hơn nữa, cần nhớ rằng để Mỹ có thể kiềm chế được Trung Quốc thì nước này buộc sẽ phải nhận được sự hợp tác từ các quốc gia láng giềng của Trung Quốc. Tuy nhiên trên thực tế thì gần như chẳng có nước nào hiện nay sẵn sàng đứng về phe Mỹ và chống Trung Quốc một cách tuyệt đối. Kể cả những nước bị đe doạ an ninh nghiêm trọng nhất nếu Trung Quốc độc chiếm được Biển Đông như Việt Nam hay Philippines cũng vẫn chưa sẵn sàng để làm điều này. Dù quan hệ Việt-Mỹ đã trở nên nồng ấm hơn rất nhiều trong những năm gần đây, Hà Nội vẫn chưa cho phép hải quân Mỹ sử dụng quân cảng Cam Ranh như một căn cứ quân sự, càng chưa sẵn sàng tham gia vào một liên minh chống Trung Quốc với Mỹ.
Đồng minh Philippines của Mỹ dưới thời Tổng thống Duterte tuy sẽ không cắt đứt quan hệ với Mỹ nhưng đã cho thấy rằng họ sẵn sàng hàn gắn quan hệ với Trung Quốc sau những bước đi cứng rắn của chính quyền Aquino, dù điều này làm phật lòng Mỹ. Vì vậy, nếu chiến lược kiềm chế mà Mearsheimer đề xuất yêu cầu Mỹ xây dựng một cấu trúc liên minh tựa như NATO ở Châu Á thì gần như nó sẽ chắc chắn thất bại bởi những đối tượng hiện nay có nhiều lý do nhất để tham gia vào liên minh này cũng là những nước lệ thuộc vào Trung Quốc nhiều nhất và muốn tránh chọc giận Bắc Kinh nhất.
Hơn nữa, bản thân các sử gia vẫn còn tranh luận về tính hiệu quả của chiến lược kiềm chế trong Chiến tranh Lạnh. Nếu như ngày đó Tổng bí thư Andropov rồi Chernenko không lần lượt ra đi để Gorbachev lên nắm quyền ở Liên Xô thì chẳng có gì đảm bảo rằng Chiến tranh Lạnh sẽ kết thúc hay chủ nghĩa cộng sản sẽ tan rã ở Châu Âu. Hơn nữa, bản thân các nhà lãnh đạo phương Tây lúc đó cũng hết sức ngạc nhiên và sửng sốt khi Gorbachev liên tiếp thoả hiệp với Mỹ và khoanh tay đứng nhìn khi Bức tường Berlin sụp đổ vào tháng 11 năm 1989. Nếu như những người trong cuộc tự tin về tính hiệu quả của chiến lược kiềm chế đến vậy thì chẳng có lý do gì để họ cảm thấy ngạc nhiên trước sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh vào thời điểm đó.
Như vậy, việc kiềm chế Trung Quốc một cách toàn diện không thể đảm bảo sẽ mang lại hiệu quả như mong muốn nhưng lại có tổn phí lớn vì nó chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc tức giận và thi hành chính sách cứng rắn hơn. Chính sách kiềm chế sẽ củng cố nỗi sợ hãi bị bao vây cô lập của Trung Quốc và chứng minh rằng phe diều hâu trong nội bộ Trung Quốc đã đúng. Một khi phe diều hâu ở Trung Quốc thắng thế, nhất định Bắc Kinh sẽ còn thi hành các chính sách cứng rắn hơn nữa. Đây là hệ quả mà bất kể chính khách nào ở Washington đều muốn tránh và vì vậy thực thi chiến lược kiềm chế một cách toàn diện nhiều khả năng sẽ gây phản tác dụng.
Hơn nữa, tuy Mỹ cần lên tiếng phản đối và ngăn chặn những hành động thiếu tính xây dựng của Trung Quốc nhưng cô lập Trung Quốc sẽ là hành động thiếu khôn ngoan bởi Washington cần sự hợp tác của Bắc Kinh trong các vấn đề quản trị toàn cầu (global governance). Từ chống biến đổi khí hậu, chống phổ biến vũ khí hạt nhân cho tới can thiệp nhân đạo, Trung Quốc với sức nặng của mình đang ngày càng trở thành một đối tác không thể thay thế trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu nóng bỏng. Vì vậy, nếu người Mỹ muốn giải quyết các vấn đề toàn cầu, họ không còn lựa chọn nào khác ngoài bắt tay với người Trung Quốc. Đây sẽ là điều không tưởng khi hai nước ở trong tình trạng đối đầu thù địch như Mỹ và Liên Xô trong thời kỳ đầu của Chiến tranh Lạnh.
Vì những lý do trên, tác giả cho rằng không những chiến lược kiềm chế như đã được đề xuất không khả thi vào lúc này mà nó còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ phản tác dụng nữa.
Xét về khía cạnh thiết yếu, tác giả cũng nhận định rằng chưa đến lúc Mỹ buộc phải thực thi chính sách kiềm chế toàn diện đối với Trung Quốc.
Thứ nhất, mặc dù Trung Quốc có nhiều lợi ích kinh tế ở Nam Mỹ, ở Châu Phi và kể cả ở Trung Đông nhưng họ không sẵn sàng can thiệp vào những nơi đó như Liên Xô và họ cũng không có nguồn lực để lật đổ chính quyền ở các nước láng giềng để thành lập các quốc gia vệ tinh như Liên Xô đã từng làm ở Đông Âu. Nói cách khác, Trung Quốc chưa đặt ra các thách thức ở quy mô toàn cầu cho Mỹ như Liên Xô ngày trước.
Thứ hai, nhìn vào biểu hiện của Trung Quốc kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, đa phần các học giả hiện nay đều cho rằng Trung Quốc không phải là một thế lực “cách mạng” (revolutionary power). Nói cách khác, các nhà lãnh đạo Trung Quốc chưa cho thấy tham vọng lật đổ trật tự thế giới hiện nay do Mỹ đứng đầu và thiết lập một trật tự thế giới của riêng mình. Lý do bởi họ là một trong những quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất từ trật tự thế giới hiện nay. Chỉ sau hơn ba thập kỷ mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã vươn lên vị trí số hai và đưa hàng trăm triệu người dân Trung Quốc thoát cảnh đói nghèo. Đây là một điều không tưởng dưới bất kì một trật tự kinh tế – chính trị nào khác.
Nền kinh tế dựa trên xuất khẩu của Trung Quốc sẽ phát triển phồn thịnh nhất trong một thế giới tự do với an ninh hàng hải được đảm bảo bởi hải quân Mỹ. Điều này không có nghĩa rằng đây là trật tự thế giới lý tưởng nhất đối với Trung Quốc về mọi mặt. Nếu có quyền lựa chọn, các lãnh đạo Trung Quốc chắc chắn sẽ muốn sửa đổi một số “luật chơi” cho công bằng hơn. Tuy nhiên điểm mấu chốt ở đây là các nhà lãnh đạo Trung Quốc chưa bất mãn đến độ cảm thấy buộc phải lật đổ trật tự hiện nay và thay thế bằng một trật tự thế giới của riêng mình như Hitler vào những năm 1930.
Cuối cùng, tuy Trung Quốc nay đã hùng mạnh hơn trước rất nhiều nhưng xét về mọi mặt vẫn còn thua kém Mỹ rất nhiều. Một nghiên cứu mới đây đã khảo sát ý kiến của hơn 300 học giả hàng đầu Trung Quốc về quan hệ quốc tế tại một hội thảo ở Bắc Kinh. Kết quả của cuộc khảo sát cho thấy đa số các chuyên gia đều tin rằng Trung Quốc sẽ khó có thể vượt mặt được Mỹ trong vòng 10 năm tới và họ tin rằng chính sách xoay trục của Mỹ đang đặt ra thách thức lớn đối với Trung Quốc và là nguyên nhân dẫn đến các chính sách cứng rắn mới đây của chính quyền Bắc Kinh. Do đó, Mỹ không có lý do gì để tìm cách kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, đặc biệt nếu như đây là một sự trỗi dậy thực sự hòa bình.
Kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông: Vì sao và làm thế nào?
Mỹ cần phải chấp nhận rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc là một thực tế không thể chối bỏ và Mỹ gần như không thể làm gì để kìm hãm sự trỗi dậy của Trung Quốc mà không tự hủy hoại chính mình. Tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc Mỹ nên khoanh tay đứng nhìn Trung Quốc chèn ép các nước láng giềng và ngang nhiên bành trướng lãnh thổ ở Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế. Hiện nay chính quyền Bắc Kinh đang theo đuổi chiến lược “tằm ăn dâu” từng bước mở rộng phạm vi kiểm soát của mình ở Biển Đông với mục tiêu cuối cùng là thâu tóm toàn bộ vùng biển trọng yếu này. Đây mới là mối đe dọa thực sự đối với lợi ích an ninh của Mỹ.
Một khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Mỹ và các đồng minh không thể hóa giải được chiến lược bành trướng của họ, họ sẽ kết luận rằng đây là một cách thức tốt để thách thức Mỹ ở các khu vực khác, sát sườn với Mỹ hơn khi điều kiện cho phép. Chúng ta cũng biết rằng các quốc gia luôn có xu hướng “sao chép” các chính sách có hiệu quả của các nước khác. Chính vì thế, rất có thể những đối thủ khác của Mỹ hiện nay như Nga cũng sẽ học theo mô hình bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông và áp dụng nó ở những khu vực có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh của Mỹ và các đồng minh như ở Đông Âu.
Hơn nữa, Mỹ cần phải ngăn chặn bước tiến của Trung Quốc ở Biển Đông bởi những hành động hiện nay của Trung Quốc là những đòn tấn công trực tiếp vào trật tự khu vực dựa trên luật lệ (rules-based). Tất cả những gì Trung Quốc đang làm hiện nay, từ bồi đắp đảo nhân tạo cho tới dùng vũ lực để uy hiếp tàu bè của các nước láng giềng là những hành động vi phạm luật pháp quốc tế. Nếu Mỹ không thuyết phục được Trung Quốc ngưng những hành động trên có nghĩa là họ ngầm chấp nhận cho Trung Quốc dùng sức mạnh của mình để thay đổi hiện trạng, bất chấp luật pháp quốc tế. Cuối cùng, lúc này là cơ hội tốt nhất để Mỹ có thể ngăn chặn được bước tiến của Trung Quốc bởi sức mạnh của Trung Quốc vẫn còn chưa ngang bằng với Mỹ. Có thể trong 5, 10 năm tới Trung Quốc sẽ suy yếu và không còn là mối hiểm họa nữa nhưng có thể họ sẽ trở nên ngang bằng với Mỹ hoặc thậm chí là mạnh hơn. Lúc đó dù Mỹ muốn kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông, họ cũng sẽ không còn cơ hội nữa.
Vậy phải làm thế nào để có thể kiềm chế được Trung Quốc ở Biển Đông? Theo tác giả, Mỹ cần thực hiện một chiến lược “Phản ứng Linh hoạt” với mục tiêu lớn nhất là hạn chế và vô hiệu hoá các nỗ lực của Trung Quốc nhằm thay đổi hiện trạng lãnh thổ và cán cân quyền lực ở Biển Đông bằng cách buộc nước này phải trả giá cho mọi hành động thiếu xây dựng và gây leo thang căng thẳng. Chiến lược này có bốn đặc điểm chính: kịp thời, độc lập, chọn lọc và tương xứng.
Thứ nhất là, kịp thời: Mỹ cần trả đũa kịp thời sau khi Trung Quốc có hành động leo thang căng thẳng để gửi đi tín hiệu rằng Trung Quốc sẽ phải trả giá cho bất kì hành động nào không mang tính chất xây dựng, dù lớn dù nhỏ. Ví dụ thực tế là chỉ hai ngày sau khi Bắc Kinh đơn phương tuyên bố thiết lập ADIZ trên vùng biển Hoa Đông, Mỹ đã lặp tức đưa hai “pháo đài bay” B-52 bay qua để gửi đi tín hiệu rằng mình không công nhận ADIZ của Trung Quốc. Việc buộc Trung Quốc phải trả giá ngay lập tức cho tất cả các hành động thiếu tính xây dựng ở Biển Đông sẽ thuyết phục các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh rằng những bước đi gây leo thang căng thẳng của họ sẽ “lợi bất cập hại”.
Thứ hai là, độc lập: biện pháp trả đũa phải được thực hiện một cách độc lập, tức mỗi đòn trả đũa đều phải là một hành động cụ thể và đủ đơn giản để Mỹ có thể triển khai tức thì. Ví dụ cụ thể của một hành động trả đũa độc lập là việc Mỹ đưa tàu khu trục USS Lassen đi qua vùng 12 hải lý để thách thức yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông vào cuối năm 2015. Một đòn trả đũa sẽ độc lập nếu nó không cần phải được triển khai cùng lúc với nhiều biện pháp khác và không cần sự đồng ý hay phối hợp của các bên khác.
Thứ ba là, chọn lọc: đòn trả đũa phải nhắm vào các mục tiêu cụ thể để nhắm vào. Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng bởi chọn lọc mục tiêu sẽ giảm thiểu rủi ro Trung Quốc leo thang qua việc đáp trả bằng các đòn trừng phạt ở quy mô lớn. Điều này cũng sẽ giúp xây dựng tính chính đáng cho chính sách kiềm chế của Mỹ bởi các đòn trả đũa hoàn toàn chỉ nhắm vào các đối tượng trực tiếp tham dự vào các hành động nhằm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông. Ví dụ như thay vì bao vây cấm vận Trung Quốc, Mỹ nên ngăn chặn các hành động cải tạo và bồi đắp đảo nhân tạo của Trung Quốc thông qua việc trừng phạt các cá nhân và công ty có liên quan đến hành động này. Trong trường hợp này, Mỹ phải nhắm vào công ty nạo vét thuộc Tập đoàn Giao thông và Xây dựng Trung Quốc (CCCC). Đồng thời Mỹ có thể cấm đi lại và phong toả tài sản ở nước ngoài của các quan chức Trung Quốc có liên quan đến các hành động cải tạo và bồi đắp đảo nhân tạo ở Biển Đông. Hơn nữa, việc nhắm vào các công ty có thể sẽ tránh cho Mỹ phải đối đầu trực tiếp với chính phủ Trung Quốc.
Cuối cùng là, tương xứng: độ mạnh của đòn trả đũa phải tương xứng với hành động khiêu khích của Trung Quốc. Yếu tố này sẽ giúp giảm thiểu khả năng leo thang xung đột giữa hai bên, tránh xảy ra chiến tranh chính quy ở diện rộng. Hơn nữa, việc phản ứng một cách tương xứng như vậy sẽ giúp người Trung Quốc hiểu rằng họ mới là người quyết định xem Trung Quốc sẽ phải trả cái giá lớn đến mức nào cho các hành động của mình. Nói cách khác, Bắc Kinh cư xử càng thô bạo thì đòn trả đũa càng cứng rắn, Trung Quốc càng mềm mỏng thì đòn trả đũa càng nhẹ nhàng.
Kết luận
Mỹ không thể kiểm soát được sự trỗi dậy của Trung Quốc và hơn nữa, một Trung Quốc hùng cường nhưng thân thiện và có trách nhiệm là một nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của cả thế giới. Tuy nhiên Mỹ không thể khoanh tay đứng trước tham vọng độc bá của Trung Quốc ở Biển Đông bởi sớm muộn chính sách bành trướng của Trung Quốc ở vùng biển này sẽ đe dọa an ninh của Mỹ và các đồng minh.
Chính quyền Trump đã tuyên bố chấm dứt chính sách xoay trục nhưng cũng như người tiền nhiệm của mình, tân tổng thống Donald Trump sẽ buộc phải đối mặt với thách thức từ Trung Quốc. Trong bối cảnh hiện nay, chiến lược phản ứng linh hoạt như tác giả đã đề xuất là cách tốt nhất để Mỹ kìm hãm bước tiến của Trung Quốc ở Biển Đông.
Chiến lược này sẽ không có tác dụng ngay trong một sớm một chiều nhưng nếu Mỹ có thể duy trì chiến lược này một cách kiên trì và bền bỉ, họ sẽ thuyết phục được các nhà lãnh đạo Bắc Kinh rằng việc độc chiếm Biển Đông không những là một mục tiêu bất khả thi mà còn có tổn phí cực kỳ to lớn nếu họ cố chấp theo đuổi. Và nếu Mỹ thành công trong việc thuyết phục Trung Quốc từ bỏ tham vọng ở Biển Đông, họ sẽ không những đảm bảo được ngôi vị dẫn đầu của mình mà còn chứng minh cho tất cả thấy rằng nước Mỹ tiếp tục xứng đáng được lãnh đạo thế giới.
Ngô Di Lân là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Brandeis, Hoa Kỳ. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của cá nhân tác giả.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2017/03/20/kiem-che-trung-quoc-nhiem-vu-bat-kha-thi/#sthash.NxSCPvWS.dpuf - See more at: http://nghiencuuquocte.org/2017/03/20/kiem-che-trung-quoc-nhiem-vu-bat-kha-thi/#sthash.NxSCPvWS.dpuf

Đào tài nguyên đem bán, loạt công ty con TKV vẫn lỗ

(Doanh nghiệp) - Hàng loạt công ty con thua lỗ, nợ phải trả của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) lên tới hơn 100.000 tỷ đồng.

VnEconomy dẫn báo cáo kết quả thanh tra TKV năm 2015 cho hay, tình hình đầu tư tài chính của nhiều đơn vị thuộc tập đoàn này đang rơi vào thua lỗ.
Cụ thể, có 3/6 doanh nghiệp đầu tư tài chính dài hạn chưa hiệu quả.
Công ty mẹ - tập đoàn TKV, đầu tư tài chính dài hạn tại 31/12/2015 là 15.729 tỷ đồng vào 59 công ty con, công ty liên kết. Năm 2015, có 50 công ty kinh doanh có lãi với số tiền đạt 654 tỷ đồng, cổ tức và lợi nhuận được chia là 98,6 tỷ đồng.
Trong khi đó, có 9 công ty kinh doanh thua lỗ với số tiền 594 tỷ đồng. Có 11 công ty kinh doanh lỗ luỹ kế lên tới 1.407 tỷ đồng.
Dao tai nguyen dem ban, loat cong ty con TKV van lo
Múc khoáng sản thô đem bán, TKV vẫn lỗ
Cụ thể, Tổng công ty Điện lực TKV lỗ luỹ kế 828 tỷ đồng, nguyên nhân chủ yếu là do phát sinh chênh lệch tỷ giá ngoại tệ lớn, Công ty Cổ phần Vận tải thuỷ lỗ 139 tỷ đồng, Công ty Cổ phần Cromit Cổ Định Thanh Hoá lỗ 115 tỷ đồng, Công ty Đóng tàu Sông Ninh lỗ 90,3 tỷ đồng, Công ty Liên doanh Aluminna (Campuchia - Việt Nam) lỗ 69,7 tỷ đồng, Công ty Cổ phần Than Tây Nam Đá Mài lỗ gần 70 tỷ đồng, Công ty Cổ phần Sắt Thạch Kê lỗ 17 tỷ đồng.
Tổng công ty Khoáng sản TKV đầu tư dài hạn tại thời điểm 31/12/2015 là 720,5 tỷ đồng, vào 18 công ty. Năm 2015, có 11 công ty kinh doanh có lãi với số tiền 71,8 tỷ đồng, cổ tức và lợi nhuận được chia là 12 tỷ đồng. Tuy nhiên, có 7 công ty kinh doanh thua lỗ tổng cộng 124 tỷ đồng.
Báo cáo thanh tra cũng công bố tình hình tài chính của TKV năm 2015. Theo đó, tổng tài sản tập đoàn đến cuối năm 2015 đạt 138.526 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu là 38.182 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối âm 478 tỷ đồng.
Tổng nợ phải trả lên tới 100.343 tỷ đồng. Trong đó, nợ ngắn hạn là 37.609 tỷ đồng, nợ dài hạn lên tới 62.734 tỷ đồng.
Đoàn thanh tra đã kiểm tra 6 doanh nghiệp, trong đó có tới 2/6 doanh nghiệp được thanh tra chưa thực hiện đối chiếu đầy đủ nợ phải trả ngắn hạn với các chủ nợ trong thời điểm 31/12/2015.
6 doanh nghiệp có nợ phải trả dài hạn tính đến cuối năm 2015 lên tới 48.163 tỷ đồng, chủ yếu là các khoản vay dài hạn để đầu tư dự án, không phát sinh nợ quá hạn.
Qua thanh tra, có 5/6 doanh nghiệp có hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu đảm bảo khả năng trả nợ khi đáp ứng tiêu chí tại Nghị định 2016 của Chính phủ: “Doanh nghiệp phải đảm bảo hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không vượt quá 3 lần”.
Tuy nhiên, Tổng công ty Công nghiệp Hoá chất mỏ có hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là 3,79 lần, nguyên nhân là do đầu tư dự án mới Nhà máy sản xuất Amon Nitrat công suất 200.0000 tấn/năm, tổng mức đầu tư 5.761 tỷ đồng, chủ yếu sử dụng vốn vay.
TKV được Nhà nước giao quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên trữ lượng than, bôxít và các khoáng sản khác của quốc gia.
Nhiều chuyên gia đã chỉ rõ, ngoài việc là tập đoàn độc quyền, luôn được hưởng nhiều ưu đãi, lĩnh vực sản xuất của TKV là lĩnh vực đặc thù, được hưởng lợi thế công khai từ nguồn tài nguyên sẵn có mà chi phí mua gần như bằng 0.
Trong khi đó, cơ sở hạ tầng hầu hết đều được đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước (cũng chính là tiền thuế do người dân đóng góp), máy móc, thiết bị gần như không còn khấu hao. Đặc biệt, than còn đang được lợi lớn từ việc đào lên rồi xuất khẩu.
Minh Thái

PGS-TS Đinh Trọng Thịnh: ‘Không thể tiếp nhận tràn lan vốn FDI từ Trung Quốc’; Bà Rịa-Vũng Tàu: Thương lái Trung Quốc thu mua quýt non

Đăng lúc: 17.03.2017 06:10

PGS-TS Đinh Trọng Thịnh, Trưởng bộ môn Kinh tế (Học viện Tài chính)
   Vốn FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam tăng mạnh trong 2 tháng đầu năm, vượt Hàn Quốc, Nhật Bản. Trước “làn sóng” này, nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam cần có cách tiếp nhận chọn lọc và khôn ngoan.
Vốn FDI tăng “chóng mặt”
Theo số liệu mới nhất của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc vào Việt Nam đã đạt hơn 721 triệu USD.
Trong tổng số 163 dự án có liên quan đến vốn đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam, các nhà đầu tư Trung Quốc đang đẩy mạnh mua vốn cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam khi lên sàn với 123 dự án (chiếm 75%) số dự án, chỉ có hơn 35 dự án đầu tư trực tiếp vào cấp mới, tăng thêm vốn và 5 dự án đầu tư tăng vốn.
Với số vốn 721 triệu USD, so với hai tháng cùng kỳ năm 2016, vốn của các nhà đầu tư Trung Quốc đã vượt gấp 4 lần, tốc độ chuyển vốn khá nhanh so với các đối tác đầu tư khác tại Việt Nam như: Mỹ, Nhật Bản, Malaysia...
Về lĩnh vực đầu tư, hiện vốn đầu tư FDI của Trung Quốc đổ vào Việt Nam tập trung phần lớn vào các ngành như: dệt may, da giày, bất động sản, xây dựng, dây và cáp điện, nhiệt điện và khai khoáng...
Với những điều tiếng trong các dự án đầu tư của mình, việc vốn FDI từ Trung Quốc tăng mạnh khiến nhiều người lo ngại. Các chuyên gia cho rằng cần phải cẩn trọng và thẩm định kỹ đối với dòng vốn từ quốc gia này và chỉ nhận “vốn sạch”, có công nghệ cao, đảm bảo các yếu tố môi trường.

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 do tổng thầu là Tập đoàn Điện khí Thượng Hải bị người dân phản đối vì ô nhiễm môi trường 
Trao đổi với báo điện tử Một Thế Giới, PGS-TS Đinh Trọng Thịnh, Trưởng bộ môn Kinh tế (Học viện Tài chính) cho biết, vốn Trung Quốc vào Việt Nam nhiều bởi Việt Nam có các hiệp ước song phương và đa phương với nhiều quốc gia trên thế giới. Các nhà đầu tư Trung Quốc muốn vào Việt Nam để hưởng những ưu đãi mà Việt Nam đã ký.
“Bên cạnh đó, hàng hóa Trung Quốc cũng có những điều tiếng không tốt trên thế giới nên họ cũng muốn thay đổi tên tuổi của hàng hóa. Đây cũng là một trong những lý do họ đầu tư vào Việt Nam”, ông Thịnh chia sẻ.
Theo chuyên gia này, một lý do nữa là Trung Quốc đang trong quá trình cải tổ mạnh mẽ nền kinh tế và họ đang dừng các dự án có mức độ ô nhiễm cao, công nghệ thấp ở trong nước để thay đổi công nghệ. Nhân dịp này, các doanh nghiệp Trung Quốc đang muốn đẩy những công nghệ cũ đó đến nước khác. Ông Thịnh cũng chia sẻ, kinh tế Trung Quốc thời gian qua cũng gặp nhiều vấn đề, nhất là việc đồng nhân dân tệ mất giá. Do đó, đây là cơ hội cho các doanh nghiệp Trung Quốc đưa tài sản ra nước ngoài một cách “được giá” nhất.
“Việc dự trữ ngoại tệ chỉ để đáp ứng nhu cầu phòng ngừa rủi ro cho nền kinh tế, còn nếu dự trữ nhiều thì tính chất sinh lời không lớn. Hiện Trung Quốc đang đẩy một phần dự trữ ngoại tệ ra nước ngoài. Lượng dự trữ này đi đến nhiều nơi trên thế giới, có thể là đầu tư, cho vay vốn ODA, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư Trung Quốc có bàn đạp để đầu tư”, ông Thịnh cho hay.
Thêm nữa, theo chuyên gia này, Trung Quốc cũng muốn khẳng định vị thế của mình đối với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây là mục tiêu rất quan trọng mà Trung Quốc đặt ra từ nay đến năm 2050, cạnh tranh với Mỹ ở vị trí số 1.
Chỉ nhận “vốn sạch”
Vốn FDI của Trung Quốc từ trước đến nay là có chất lượng thấp, thể hiện ở việc dòng vốn FDI có công nghệ sản xuất không cao, xả thải nhiều, gây ô nhiễm. Hơn nữa, công nghệ của Trung Quốc không cao nên hiệu suất sử dụng không lớn, hiệu quả không nhiều, tiêu tốn nhiên liệu, sản phẩm sản xuất ra chất lượng thấp…
Theo ông Đinh Trong Thịnh, vốn FDI của Trung Quốc chiếm giữ một diện tích đất đai lớn nhưng hiệu quả không cao. Việc kéo dài thời gian sử dụng cũng khiến giảm hiệu quả việc đầu tư, từ đó, đóng góp cho nền kinh tế sở tại không lớn. Hàng loạt dự án có "bàn tay" Trung Quốc đều không hoàn thành đúng kỳ hạn khiến những nhà đầu tư với Trung Quốc lâm vào khó khăn.

PGS-TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng cần chú ý đến công nghệ và môi trường khi tiếp nhận FDI Trung Quốc
“Do đó, chúng ta cần thận trọng đối với dòng vốn từ Trung Quốc. Tất nhiên, chúng ta cũng không thể từ chối họ theo cách phân biệt đối xử. Cho nên, cơ quan nhà nước cần phải lựa chọn các đối tác có công nghệ cao, có khả năng thực hiện đúng kế hoạch và đảm bảo môi trường. Từ trước đến nay việc này chúng ta làm chưa tốt, việc quản lý chất lượng công nghệ trong các luồng vốn FDI còn yếu kém. Cái chúng ta cần là công nghệ cao chứ không thể dùng mãi công nghệ lạc hậu”, ông Thịnh nêu rõ.
Báo cáo kết quả phát triển công nghiệp và chính sách công nghiệp quốc gia 2006-2015 nhận định, nền công nghiệp Việt Nam quá phụ thuộc vào khu vực FDI và khu vực này không có sự kết nối chặt chẽ với khu vực tư nhân trong nước. Hiện nay, FDI chiếm tới 50% sản lượng công nghiệp và khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghiệp của Việt Nam, trong đó một số mặt hàng chiếm tới 100% kim ngạch xuất khẩu như điện thoại di động.
Chuyên gia Đinh Trọng Thịnh cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam vẫn phải xem dòng vốn FDI là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế. Muốn có tăng trưởng thì phải có vốn đầu tư, nhưng vốn đầu tư của Việt Nam thì lấy đâu ra? Nhiều chuyên gia nói chúng ta phụ thuộc vào nguồn vốn FDI nhưng nếu không có dòng vốn đó làm sao chúng ta tăng trưởng?
“Nguồn đầu tư của ngân sách thì đang thâm thủng, nợ công quá cao nên không trông chờ gì vào đầu tư công. Còn nguồn vốn cho vay từ ngân hàng thì trong thời gian qua nợ xấu tăng lên nhanh chóng. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã hạ được tỷ lệ nợ xấu xuống 3% nhưng thực ra vẫn còn quá lớn, tạo ra điểm nghẽn”, ông Thịnh nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, theo ông Thịnh, thời gian vừa qua Chính phủ cũng đã có nhiều biện pháp và ưu đãi cho đầu tư tư nhân nhưng giữa chính sách và thực thi còn quá nhiều khoảng cách, nên không thể làm cho khu vực tư nhân tích cực đầu tư. Hơn nữa, tích lũy trong khu vực tư nhân cũng chưa lớn, phần đầu tư này trong tổng đầu tư xã hội chưa được như mong muốn.
“Tuy nhiên, chúng ta cần phải quyết liệt, chỉ nhận vốn sạch, có công nghệ cao và nghĩ đến lợi ích lâu dài của nền kinh tế chứ không thể tiếp nhận tràn lan vốn FDI từ Trung Quốc”, ông Thịnh nói.
Song song với đó, chuyên gia này cho rằng cần thúc đẩy nhanh tiến trình kết nối doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu, cải thiện chính sách để nuôi dưỡng các ngành công nghiệp tiềm năng, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Hoài Phong

Bà Rịa-Vũng Tàu: Thương lái Trung Quốc thu mua quýt non

VOV  3 liên quan

Bà con nông dân ở xã Tân Lâm cho biết, đây là lần đầu tiên thương lái thu mua quýt non ở vùng này.
Trong những ngày qua, tại vùng quýt Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thương lái đến từng nhà thu mua quýt non với giá 10.000 đồng/kg. Nhiều nông dân đã mạnh dạn cắt bán vì quýt đang có dấu hiệu tổn hại.
Ba Ria-Vung Tau: Thuong lai Trung Quoc thu mua quyt non - Anh 1
Người dân chấp nhận hái quýt non bán cho thương lái.
Bà con nông dân ở xã Tân Lâm cho biết: đây là lần đầu tiên thương lái thu mua quýt non ở vùng này. Theo tìm hiểu của phóng viên, việc thu mua quýt non chủ yếu do thương lái trong vùng đứng ra thu mua rồi xuất đi Trung Quốc. Việc thu mua quýt non mới chỉ xuất hiện trên địa bàn khoảng 3 - 5 ngày nay. Ban đầu thương lái thu mua với giá 6.000 đồng/kg, hiện đã tăng lên 10.000 đồng/kg.
Ba Ria-Vung Tau: Thuong lai Trung Quoc thu mua quyt non - Anh 2
Vùng quýt Tân Lâm.
Gia đình bà Nguyễn Thị Chép ở ấp Bàu Hàm, xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, cho biết cách đây 4 ngày, gia đình bà có thương lái tới hỏi mua quýt non, bà đã đồng ý bán bởi vườn quýt của gia đình đang bị bệnh. Bà chỉ thấy thương lái nói mua quýt non để xuất đi Trung Quốc họ làm tinh dầu.
Với diện tích 1,5ha, bà Chép bán được 5 tạ quýt non, thu về 5 triệu đồng, bà Chép cho biết thêm: "Người ta đến thu mua quýt, nói bán cho Trung Quốc mà không nói làm gì hết. Tôi thấy cây mình vàng rồi, không bán thì cũng rụng đi, thà bán để kiếm tiền trả tiền công./.
Lưu Sơn/VOV-TP.HCM

Nguyễn Thông - Tướng Long cưỡi ngựa một mình chẳng phải vịn ai

Kết quả hình ảnh cho Thuơng Tướng trương giang long

 Một bạn mấy hôm rồi gửi cho tôi cái video clip vị thiếu tướng công an nói chuyện nội bộ. Lúc đầu mình hãi, biết đâu người ta lừa, mở ra bọn vi rút ùa vào máy thì bỏ bà, sau kiểm tra kỹ lưỡng nhiều cách thấy cũng ổn, liền tò mò. Bệnh tò mò ai chả có, nhiều ông thân bại danh liệt cũng chỉ bởi tò mò. Mình thân và danh về mo nên điếc không sợ súng cứ tò mò nghe, xem nó thế nào.

Ông thiếu tướng Rồng này tôi có biết. Hồi tôi còn dạy học, ổng là sinh viên vào học tiếng Nga ở trường tôi 1 năm, sau được thầy Phương Văn Dần đưa đi Liên Xô, tốt nghiệp về nước dạy ở Trường đại học Kinh tế, sau chuyển qua làm ở tạp chí Cộng sản, lên đến chức trưởng cơ quan đại diện tạp chí này tại TP.HCM (tạp chí của đảng có khác, xây tòa cao ốc to đùng ngay góc ngã tư Nguyễn Đình Chiểu - Phạm Ngọc Thạch, lúc đầu làm cái biển hiệu rõ to, sau cho bọn ngân hàng Dầu khí thuê, thấy biển hiệu chướng quá nên sửa nhỏ lại, chả biết tiền cho thuê có làm nghĩa vụ thuế không). Đùng một cái, vị quan chức tạp chí CS được đánh sang Bộ Công an, phong hàm thiếu tướng, giữ chức Phó tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng (rồi sau đổi thành Tổng cục Chính trị), kiêm Giám đốc Học viện Chính trị CAND. Có người bảo cộng an họ gài người khắp nơi, lúc cần thì rút về; cũng có người nói tạp chí CS với Bộ CA thì cũng rứa, làm chỗ nào chả thế.

Lại nói về cái video clip. Thực ra cũng chỉ loanh quanh những thứ gọi là nửa kín nửa hở. Lừa được mấy ông già về hưu ôm sổ hưu. Buồn cười nhất là đến thời này mà từ mồm một vị tướng công an vẫn còn phát ra thứ tư duy cũ kỹ, đúng ra phải vứt vào sọt rác từ lâu rồi. Tinh dững khoe khoang, khen ta khéo léo, tài giỏi, giữ thế thượng phong, biết chuyển bại thành thắng, biết xoay chuyển tình hình, đảo ngược bàn cờ, bắt bọn này bọn kia phải làm theo ý mình... Kiểu như Tổng bí thư sang thăm Mỹ, ta bắt nó phải tiếp đón ở Nhà Trắng chứ không được ở nơi khác, nó cũng phải tuân theo... Thật ra cũng có thể xảy ra những điều như thế, mà thực chất đó chỉ là mấy thứ trò trẻ ranh, mưu mẹo vườn, láu tôm láu cá, dằn dỗi ăn vòi.         

Nghe những chuyện kiểu ấy, tôi lại nhớ có một thời suốt mấy chục năm người ta ca ngợi thắng lợi ở hội nghị Paris, nào là bắt kẻ thù phải ngồi bàn tròn để tư thế ngang nhau, từ 2 bên thành 4 bên để chính thức hóa mặt trận DTGP mà nó phải chịu, nào là đi cửa trước chứ không bao giờ theo cửa sau, nào là nó nói một câu thì mình cũng quật lại một câu, nó bắt tay mình thì ngay lập tức mình rút khăn mùi xoa lau luôn... Tức là tinh những trò vặt vãnh láu cá nhưng lại được tôn lên thành thắng lợi, vinh quang, đứng trên đầu thù...

Nghe xong video càng chán, tưởng thế nào, hóa ra tướng cũng không hơn tầm chủ nhiệm hợp tác xã ngày xưa.

Nguyễn Thông

(Blog Nguyễn Thông)

Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2017

Dự án Bauxite Tây Nguyên: đã đến lúc hái “trái đắng”!

Những lo ngại về hậu quả của dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên không còn là lời cảnh báo mà nó đã và đang dần trở thành hiện thực. Những tính toán ban đầu đầy lạc quan (thu ngân sách 850 tỷ đồng/ năm, tạo công ăn việc làm cho 3.000 lao động, phát triển công nghiệp nhôm, phát triển kết cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế…) không thể che lấp sự thật, hiện tại hoạt động sản xuất kinh doanh đang “lỗ nặng” – lỗ vượt dự kiến. Có lẽ “trái đắng” của dự án đã đến lúc hái.

10 năm, hơn 32.000 tỷ vào alumin, bauxite Tây Nguyên
Ngoài khai thác bauxite, những năm qua, TKV cũng dồn sức thực hiện dự án nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ.
Báo Dân trí, ngày 13/3/2017 đưa tin "Tổ hợp Bauxite-Nhôm Lâm Đồng lỗ gần 3.700 tỷ đồng". Cụ thể, Tổ hợp Bauxite -Nhôm Lâm Đồng do Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) làm chủ đầu tư đã thua lỗ 3.696 tỷ đồng sau 3 năm đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh (10/2013-30/9/2016). Trong đó, lỗ do hoạt động sản xuất, kinh doanh là 2.520 tỷ đồng, lỗ do chênh lệch tỷ giá khoảng 1.176 tỷ đồng. Con số lỗ này đã vượt xa so với số lỗ luỹ tiến dự kiến theo kế hoạch là 1.660 tỷ đồng (không kể phần lỗ do chênh lệch tỷ giá).

Điều đáng nói, TKV tính toán, dự báo thế nào mà dự án bôxit Tân Ra, dự kiến lỗ trong 3 năm khoảng 860 tỷ nhưng đã vượt kế hoạch gần 3.700 tỷ?

Lý giải nguyên nhân “lỗ”, Ông Nguyễn Văn Biên, phó tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản VN (TKV) nói, lỗi là do "chênh lệch tỷ giá", do “cơ chế chính sách thay đổi”, do thuế tài nguyên tăng” do "nhiều yếu tố khách quan" do “thị trường biến động”... Và hứa hẹn năm nay dự án sẽ bắt đầu có lãi. Dự kiến mức lãi năm 2017 sẽ khoảng 100 tỉ đồng. Các năm sau mức lãi sẽ tăng. Thời gian thu hồi vốn dự tính từ 10-12 năm - tính từ khi dự án đi vào sản xuất năm 2013 (Theo Tuổi trẻ, 15/3/2017).

Làm phép tính đơn giản, nếu lãi một năm trung bình 100 tỷ đồng thì cần 37 năm mới bù được khoản lỗ của 3 năm 2013-2016.

Vậy với số tiền 32.000 tỷ đồng đầu tư vào dư án khi nào mới lấy lại được vốn? Một câu hỏi mà không vị lãnh đạo nào có thể cho câu trả lời chính xác.

Ông Nguyễn Văn Biên nói thêm: "Thực tế là sau 3 năm vận hành, đến nay đã làm chủ được công nghệ". Nhân loại khai thác nhôm đã hàng trăm năm nay, công nghệ hiện đại từ Mỹ, Châu Âu, Nhật thì không sử dụng, lại dùng công nghệ lạc hậu của Trung Quốc để rồi vừa học vừa làm, vậy còn lấy tự hào, đúng là chẳng giống ai. Việc này giống như chuyện mua 164 tàu cũ của Trung Quốc (sản xuất cách đây 20 năm) giá mua 210 – 315 triệu/toa, để những toa tàu này lăn bánh được giá thành lên đến 870 triệu/toa. Trong khi đóng mới trong nước giá chỉ có 800tr/ toa. Xin chịu thua cách làm ăn, tính toán của quan chức nước mình, toàn đi ngược lại sự phát triển nhân loại.

Đọc những thông tin trên chỉ biết kêu trời, chẳng có thời nào làm ăn lại bết bát đến vậy. Chỉ việc đào tài nguyên đem bán cũng lỗ thì trách gì việc đâu tư vào đóng tàu, sản xuất ô tô, lọc dầu... không thất bại. Những quả đấm thép của nền kinh tế giờ đây trở thành gánh nặng nợ nần đè lên vai người dân. Ấy vậy khi nó được triển khai bao giờ cũng là chủ trương lớn của đảng, nhà nước. Ruốt cục, khi thất bại bao giờ cũng được giải thích rằng, chủ trương không sai, chỉ có cách thực hiện sai. Tổ chức không sai, chỉ có cá nhân sai.

Nói đến dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên không ai không biết, các bài viết phân tích, đánh giá cũng như các ý kiến phản biện về nó đã có quá nhiều, nghĩ rằng không cần phải nói thêm ở đây. Những ai muốn tìm hiểu, chỉ cần tìm kiếm trên Google từ khóa “Dự án Buaxite Tây Nguyên” sẽ cho ra gần 250 ngàn kết quả trong một giây.

Trước nay không có dự án nào ngay từ khi bắt đầu triển khai đã gây ra nhiều tranh cãi trong dư luận, báo chí và cả Quốc hội như dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Quan điểm ủng thì hộ ít, ý kiến phản đối thì nhiều. Và không chỉ người dân, tầng lớp trí thức, nhà khoa học, nhà báo mà ngay trong hàng ngũ lãnh đạo cấp cao cũng có người lên tiếng phản đối như: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (có hơn 2000 các cựu lãnh đạo và trí thức ký vào đơn thỉnh nguyện dừng dự án). Nhưng mọi ý kiến, kiến nghị , phản đối điều bị gạt bỏ và không ít người đã bị bắt bớ, tù đày. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi đó đã khẳng định: “khai thác quặng bô xít là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta đã được nêu trong Nghị quyết Đại hội X. Bộ Chính trị cũng đã 3 lần nghe chiến lược về phát triển bô xít. Chính phủ đã phê duyệt qui hoạch phát triển bô xít Tây Nguyên với tinh thần đảm bảo hiệu quả, bền vững” (Dân trí 05/2/2009). Ngày 23/6/2014 Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 775/NQ-UBTVQH13, đánh giá việc triển khai thí điểm 2 dự án là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của các địa phương có tài nguyên khoáng sản, thúc đẩy phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở khu vực địa bàn chiến lược Tây Nguyên (http://www.moit.gov.vn 30/03/2015).

Dự án không chứng minh được hiệu quả kinh tế, không đánh giá tác động đến môi trường nhưng vẫn được triển khai. Bài toán nào cho dự án khi công nghệ lạc hậu, đội vốn, sự cố, các khoản lỗ và thị trường thế giới đầy rủi do. Với tình hình hiện nay càng khai thác nhiều càng lỗ nhiều. Năm 2014, theo tính toán mỗi tấn alumin xuất khẩu của Tân Rai đang “ âm” hơn tới 49-59 USD/tấn so với mức giá dự báo trong bài toán đầu tư. Thời điểm hiện tại giá alumin đang ở mức thấp, giá cả trong tương lai cũng chỉ là dự báo, không có gì chắc chắn. Mà vấn đề giá bán alumin là yếu tố quyết định hiệu quả của dự án.

Theo thời gian những rủi ro từ dự án khai thác bauxite ngày cành lớn. Số tiền 32.000 tỷ đồng có nguy cơ bốc hơi theo mây khói. Dân Việt Nam lại gánh thêm một khoản nợ - theo tính toán mỗi người dân gánh 10 USD nợ cho nhà máy alumin.

Nhưng có lẽ giờ đây lỗ, lãi từ dự án không còn quan trọng mà là vấn đề môi trường. Hiện nay chưa có công nghệ nào xử lý được bùn đỏ trong sản xuất nhôm từ bauxite, nếu nó xảy ra sự cố thì sự hủy diệt hết sức khủng khiếp. Theo quan điểm của PGS. TS. Nguyễn Văn Phổ, Viện Công nghệ địa chất và Khoáng sản:“Tây Nguyên là khu vực nằm ở vị trí đầu nguồn các con sông, suối chảy về Nam Trung bộ, Nam bộ. Nếu để xảy ra ô nhiễm môi trường liên quan đến boxit thì hậu họa sẽ khôn lường…tác hại môi trường chẳng khác gì Formosa”. Và đã có sự cố xảy ra: Vỡ đê hồ thải quặng ngày 8/10/2014 khiến 5 ngàn mét khối nước và bùn đỏ đã tràn ra ngoài. Vỡ đường ống dẫn nước có chứa chất xút độc hại từ hồ bùn đỏ của Nhà máy alumin Tân Rai ngày 13/12/2016.

Khẳng định rằng, chủ trương khai thác bauxite ở Tây Nguyên là một quyết định rất sai lầm, mà cái giá phải trả là rất đắt. Hậu quả của nó chắc chắn người dân phải gánh chịu. Còn những người đưa ra chủ trương, những người lãnh đạo doanh doanh nghiệp họ không những không bị truy cứu trách nhiệm mà còn được thăng quan tiến chức. Vậy có công bằng?

Thiên Luân

Trung - Mỹ họp báo đầy lời ngoại giao có cánh; Trung – Mỹ chuẩn bị cho hội đàm cấp cao giữa nguyên thủ hai nước

19/03/2017 14:17 GMT+7

TTO - Những vấn đề gai góc có vẻ được gác sang một bên trong cuộc hội kiến giữa Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tại Bắc Kinh ngày 19-3.
Trung - Mỹ họp báo đầy lời ngoại giao có cánh
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) và Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson (phải) trong cuộc hội kiến tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh ngày 19-3 - Ảnh: Reuters
Hai bên đã dành cho nhau những lời rất "nồng ấm" và đầy tính ngoại giao khi nói về quan hệ hai nước, đồng thời bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác và hiểu biết.
Người đứng đầu ngành ngoại giao Mỹ cho biết Tổng thống Donald Trump "đánh giá rất cao những lần liên lạc" giữa ông và ông Tập Cận Bình, bày tỏ mong muốn sớm sang thăm Trung Quốc.
"Ông ấy (Trump) muốn tăng cường thêm sự hiểu biết cũng như cơ hội viếng thăm Trung Quốc trong tương lai. Chúng ta đều biết rằng thông qua những lần nói chuyện tiếp theo, hai bên sẽ đạt được sự hiểu biết sâu rộng hơn, từ đó tăng cường quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ, tạo tinh thần chung cho quan hệ hợp tác trong tương lai", ông Tillerson nói với Chủ tịch Trung Quốc.
Đáp lại, ông Tập Cận Bình đánh giá cao nỗ lực cá nhân của ông Tillerson trong việc xây dựng quan hệ Trung - Mỹ.
"Ông nói rằng quan hệ Trung - Mỹ chỉ có thể là hợp tác, và thật sự tôi đánh giá cao điều này. Các lợi ích chung của Trung Quốc và Mỹ lớn hơn rất nhiều sự khác biệt giữa hai nước và hợp tác là lựa chọn đúng đắn duy nhất", ông Tập nói và cho biết đã trao đổi với ông Trump vài lần, kể cả điện đàm và thư từ, tin nhắn.
"Cả hai chúng tôi (ông Tập và ông Trump) đều tin rằng hợp tác quan hệ Trung - Mỹ từ nay trở đi sẽ là định hướng để hai quốc gia cùng hướng tới vì kỷ nguyên mới cho một sự phát triển mang tính xây dựng", Chủ tịch Trung Quốc nhấn mạnh.
Trung Quốc là điểm dừng chân cuối cùng trong chuyến công du 3 nước Đông Á là Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc của Ngoại trưởng Mỹ. Sau buổi hội kiến, ông Tillerson đã lên chuyên cơ về Mỹ. 
Khác với những phát biểu tại hai quốc gia đồng minh là Nhật Bản và Hàn Quốc, Ngoại trưởng Mỹ đã hạ giọng về vấn đề Triều Tiên khi đến Bắc Kinh.
Trước khi hội kiến với ông Tập Cận Bình tại Đại lễ đường nhân dân, ông Tillerson đã có cuộc gặp với người đồng cấp nước chủ nhà Vương Nghị. Thông tin về cuộc gặp này khá ít ỏi, chủ yếu xoay quanh một số vấn đề mà hai nước cùng quan tâm, như vấn đề Triều Tiên, trong đó nhấn mạnh sẽ tiếp cận vấn đề theo một hướng khác.
Những tín hiệu từ cuộc hội kiến giữa ông Tillerson và Chủ tịch Trung Quốc đã xóa đi phần nào lo lắng rằng nhà lãnh đạo ngoại giao Mỹ sẽ phải đối mặt với bầu không khí lạnh nhạt khi tới Bắc Kinh. Nguyên do xuất phát từ dòng tin nhắn của ông Trump trên Twitter, rằng Trung Quốc gần như không làm gì để giúp giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên, chỉ vài giờ trước khi ông Tillerson lên máy bay từ Seoul sang Trung Quốc.
DUY LINH



Trung – Mỹ chuẩn bị cho hội đàm cấp cao giữa nguyên thủ hai nước

VOV.VN - Dù hai bên chưa thông báo chính thức nhưng có khả năng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ thăm Mỹ vào đầu tháng 4 tới.
Ngày 18/3, sau khi hội đàm với Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị, Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson đã có cuộc hội kiến với Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì nhằm chuẩn bị cho cuộc hội đàm cấp cao giữa nguyên thủ hai nước trong thời gian sắp tới.
trung quoc va my chuan bi cho cuoc gap donal trump va tap can binh hinh 1
Dù hai bên chưa thông báo chính thức nhưng có khả năng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ thăm Mỹ vào đầu tháng 4 tới.
Tại cuộc hội kiến, Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ Trung- Mỹ. Ông Dương Khiết Trì cho rằng, việc bảo đảm quan hệ Trung – Mỹ phát triển ổn định, lành mạnh, lâu dài cũng như hợp tác mang tính xây dựng giữa hai nước phù hợp với lợi ích của hai bên.
Theo tinh thần nhận thức chung mà nguyên thủ hai nước đạt được trong cuộc điện đàm tháng trước, hai bên cần chuẩn bị tốt cho hội đàm giữa nguyên thủ hai nước trong thời gian sắp tới, đảm bảo cuộc gặp cấp cao này thuận lợi, thành công và đạt được nhiều kết quả.
Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson cho rằng, kể từ sau khi Tổng thống Nixon thăm Trung Quốc đến nay, hợp tác Mỹ – Trung một mặt thúc đẩy sự phát triển của hai bên, mặt khác đã phát huy vai trò tích cực quan trọng đối với hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.
Mỹ và Trung Quốc có thể cùng nhau giải quyết ổn thỏa bất đồng, đảm bảo quan hệ hai nước không xung đột, không đối kháng, thúc đẩy hợp tác hai bên cùng có lợi. Mỹ sẽ cố gắng cùng Trung Quốc tích cực chuẩn bị cho cuộc gặp giữa nguyên thủ hai nước trong thời gian sắp tới.
Mặc dù hai bên chưa thông báo chính thức thời gian cũng như địa điểm tiến hành hội đàm cấp cao giữa nguyên thủ hai nước, nhưng theo dư luận quốc tế, nhiều khả năng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ thăm Mỹ vào đầu tháng 4 tới./. 

Hà Thắng/VOV-Bắc Kin

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tiếp Ngoại trưởng Mỹ Ti-lơ-xơn

2017-03-19 14:13:54     Xin Hua

Theo Tân Hoa xã: Ngày 19/3, tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tiếp Ngoại trưởng Mỹ Ti-lơ-xơn.
Chủ tịch Tập Cận Bình nhấn mạnh, lợi ích chung của Trung Quốc và Mỹ lớn hơn nhiều so với bất đồng, hợp tác là sự lựa chọn đúng đắn duy nhất của hai bên. Cần tăng cường trao đổi và điều phối trong các vấn đề điểm nóng khu vực. Cần tôn trọng lợi ích cốt lõi và các mối quan tâm quan trọng của nhau, giữ gìn sự ổn định của đại cục quan hệ hai nước. Cần khuyến khích và mở rộng giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước, không ngừng củng cố nền tảng xã hội của quan hệ Trung – Mỹ.
Ông Ti-lơ-xơn đã gửi lời thăm hỏi của Tổng thống Đô-nan Trăm tới Chủ tịch Tập Cận Bình, cho biết Tổng thống Trăm coi trọng cao độ việc điện đàm với Chủ tịch Tập Cận Bình, mong đợi sớm tổ chức cuộc gặp giữa Nguyên thủ hai nước. Mỹ sẵn sàng phát triển quan hệ với Trung Quốc dựa trên tinh thần không xung đột, không đối đầu, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác cùng thắng, không ngừng tăng cường sự hiểu biết giữa Mỹ và Trung Quốc, tăng cường điều phối hợp tác giữa hai nước, chung tay ứng phó các thách thức đặt ra cho cộng đồng quốc tế.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị hội đàm với Ngoại trưởng Mỹ Ti-lơ-xơn

2017-03-19 14:04:49     Xin Hua
Theo Tân Hoa xã: Ngày 18/3, tại Bắc Kinh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đã hội đàm với Ngoại trưởng Mỹ Ti-lơ-xơn đến thăm.
Bộ trưởng Vương Nghị cho biết, Trung Quốc sẵn sàng cùng nỗ lực với Mỹ, thực hiện nghiêm chỉnh các nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Đô-nan Trăm, thúc đẩy quan hệ Trung – Mỹ trong thời kỳ mới phát triển lành mạnh và ổn định trên quỹ đạo đúng đắn, mang lại nhiều hạnh phúc hơn cho nhân dân hai nước và nhân dân thế giới.
Bộ trưởng Vương Nghị đã trình bày lập trường và nguyên tắc của Trung Quốc trong các vấn đề Đài Loan và Nam Hải, nhấn mạnh hai bên cần tôn trọng lợi ích cốt lõi và các mối quan tâm quan trọng của nhau, xử lý thỏa đáng các vấn đề nhạy cảm, phòng ngừa đại cục của quan hệ Trung – Mỹ bị tác động không cần thiết.
Ông Ti-lơ-xơn cho biết, Mỹ sẵn sàng mật thiết giao lưu cấp cao và trong các lĩnh vực với Trung Quốc, nâng cấp đối thoại và hợp tác trong các lĩnh vực như an ninh ngoại giao, điều phối chính sách kinh tế vĩ mô, hành pháp, mạng In-tơ-nét, xã hội-nhân văn, v.v.. Mỹ sẵn sàng cùng Trung Quốc tích cực làm tốt các công tác trù bị chuyến thăm cấp cao giữa hai nước.