Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT HIẾM HOI TRONG NGÀY THÁNG CUỐI ĐỜI CỦA " BẠO CHÚA" MAO TRẠCH ĐÔNG

Mao Trạch Đông và Biến cố Thiên An Môn 1976

Print Friendly, PDF & Email
tiananmen1976
Tác giả: Lưu Á Châu | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành
Mao Trạch Đông phát động cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, thả lũ ma quỷ ra khỏi chiếc bình của ông nhưng sau đấy không thể nào thu hồi lại chúng. Dân tộc [Trung Hoa] cổ xưa này nhiễm phải một cơn sốt điên cuồng chẳng khác ông già rơi vào lưới tình. Hỡi các bạn trẻ, hãy nghĩ tới tình cảnh bạn bị một bà lão điên cuồng theo đuổi mình. Hãy nhớ lấy đôi mắt cháy bỏng và cặp vú khô đét ấy. Đó là cuộc Đại Cách mạng Văn hóa.
Thời gian biểu ban đầu của Mao Trạch Đông là: sau một đến hai năm thì Đại Cách mạng Văn hóa kết thúc thắng lợi, Lưu Thiếu Kỳ trở thành tù binh, Mao Trạch Đông dẫn toàn Đảng tiếp tục lên đường. Ông tuyệt nhiên không ngờ rằng cuộc cách mạng ấy như con ngựa hoang phi nước đại, ông hoàn toàn chẳng thể điều khiển được nó. Sự phản bội của Lâm Bưu là một cú đánh đẹp giáng vào ông. Mao Trạch Đông tín nhiệm Lâm Bưu đến mức cái gì có thể cho hắn thì đã cho hết, nhưng Lâm Bưu vẫn chưa thỏa mãn. Hiển nhiên hắn còn muốn một thứ quý giá hơn: tính mạng Mao Trạch Đông.
Đúng là cuối cùng Lâm Bưu hoảng hốt bỏ trốn. Nhưng trước khi hắn trốn đi, chẳng phải Mao Trạch Đông cũng hốt hoảng lo hết hồn đấy ư? Trên đường đi thị sát miền Nam trở về, để tránh bị Lâm Bưu phục kích, Mao Trạch Đông thoắt đi thoắt dừng, mỗi ngày mấy lần thay đổi kế hoạch đi đường, khiến mọi người chẳng biết thế nào. Sau khi đến địa phận Bắc Kinh, ông lặng lẽ xuống tàu tại ga Phong Đài. Nhà thống trị mà lại hành động lén lút như vậy trên địa bàn mình thống trị thì quả thật là bi đát.
Sau vụ Lâm Bưu, nhân dân cả nước kinh ngạc chú ý tới một hiện tượng: Mao Trạch Đông già sọm đi một cách không thể nào cưỡng lại. Đem so sánh ảnh chụp tuần này tiếp khách nước ngoài với ảnh chụp tiếp khách tuần trước, nhất định thấy khác nhau. Trên ý nghĩa ấy mà nói thì Lâm Bưu không hoàn toàn thua: rốt cuộc hắn đã làm Chủ tịch Mao tổn thọ. Cú đánh này quả là nặng nề nhưng chưa phải nặng nhất.
Cú đánh nặng nhất đến từ QUẢNG TRƯỜNG THIÊN AN MÔN. Tôi muốn nói về SỰ KIỆN THIÊN AN MÔN NGÀY 5 THÁNG TƯ (năm 1976).
Trung Quốc năm 1976 là Trung Quốc chơi trò thâm trầm.[1] Nhân dân đang suy nghĩ. Mấy chục năm sau phong trào Ngũ Tứ [cuộc nổi dậy ngày 4 tháng 5 năm 1919 của học sinh Bắc Kinh tại Quảng trường Thiên An Môn chống chính phủ phản động và bị chúng đàn áp đẫm máu], dân Trung Quốc không được phép suy nghĩ. Lãnh tụ thay họ nghĩ xong cả rồi.
Nô lệ có suy nghĩ là nô lệ nguy hiểm. Nhìn tổng thể, họ không thích suy nghĩ. Năm 1976, một bộ phận nhân dân hơi động não suy nghĩ một chút, thế là tòi ra “Sự kiện Thiên An Môn ngày 5 tháng Tư”. Sau đấy, khi Hoa Quốc Phong đập tan “Bè Lũ Bốn Tên” thì nhân dân lại không suy nghĩ nữa.
Cách mạng Văn hóa là con hổ giấy, chưa cần nói nó không chịu nổi một cú chọc phá mà nó thậm chí không chịu nổi sự suy nghĩ. Khi [nhân dân] vừa bắt đầu suy nghĩ thì nó đã tan vỡ. Mọi người phát hiện thấy Cách mạng Văn hóa là trò không tưởng. Ê kíp nhà thiết kế đầu tiên trò không tưởng này là những người có tâm. Nhưng hiện nay những người chống không tưởng mới là người có tâm. Tiếp tục tiến hành Cách mạng Văn hóa là điều không thể được – rốt cuộc trò diễn thì vẫn là trò diễn. Nhân dân phản đối Cách mạng Văn hóa, mà phản đối Cách mạng Văn hóa tức là phản đối Mao Trạch Đông.
Đây là linh hồn của “Sự kiện Thiên An Môn ngày 5 tháng Tư”. Thương tiếc Chu Ân Lai là một phát súng giả vờ tấn công, thực ra là để rút lui….. Mọi người đang tìm điểm bùng nổ. Sự qua đời của Chu Ân Lai đến vừa đúng lúc, cuối cùng ông đã đem lại cơ hội cho nhân dân.
Con người ấy chết có chút bi thảm. Chu Ân Lai phối hợp cực kỳ hoàn hảo với Mao Trạch Đông. Đó là do Chu vô cùng thận trọng. Ông thận trọng đến mức thế này: trong lần dự tiệc chiêu đãi Khrushchev thăm Trung Quốc, khi vị khách ấy nâng cốc muốn chạm cốc với Chu Ân Lai, nhưng vì thấy Mao Trạch Đông không nâng cốc nên Chu cũng nhất quyết không nâng cốc.
Nếu Nhà nước làm quốc tang cho Chu Ân Lai, nếu Mao Trạch Đông đến viếng hoặc dự lễ truy điệu Chu Ân Lai thì sẽ chẳng xảy ra chuyện gì sất. Sau khi Chu Ân Lai qua đời, Uông Đông Hưng, Trương Diệu Từ đã điều tra thăm dò xong tuyến đường từ Trung Nam Hải đến Bệnh viện Bắc Kinh, tưởng rằng Mao Trạch Đông sẽ đi [viếng Chu Ân Lai], nhưng rốt cuộc ông không đi. Vì thế mà Uông Đông Hưng có cằn nhằn hai câu. Trương Ngọc Phượng cũng ứa nước mắt khuyên Mao đi, nhưng ông từ chối.
Nói cho công bằng thì Mao Trạch Đông chẳng còn hơi sức đâu mà đi, ông đang ốm sắp chết. Nên phải nói là trong mấy hôm ấy ông chẳng làm sai điều gì. Trừ chuyện đốt pháo khiến người ta có chút khó hiểu ra thì về cơ bản Mao Trạch Đông không có gì phải hổ thẹn.
Chu Ân Lai chết [ngày 8/1/1976] được mấy hôm thì đến Tết Nguyên đán. Đêm giao thừa, cả nước không có một tiếng pháo nào. Tôi dám đánh cuộc là không. Nhưng Mao Trạch Đông lại dặn bọn Trương Ngọc Phượng đi kiếm pháo về rồi đem đốt thả cửa trước cổng bể bơi [về cuối đời, Mao sống ở khu nhà có bể bơi trong Trung Nam Hải]. Lúc ấy Mao đã yếu lắm, phải có người dìu để ông chơi trò đốt pháo nổ hai lần [lần nổ đầu, quả pháo phọt lên cao chừng mươi mét rồi lại nổ lần nữa]. Trước đây ông chưa bao giờ tự mình đốt pháo, thế mà hôm nay ông đã châm lửa đốt pháo. Khuôn mặt sắp chết của ông nở nụ cười thanh thản. Tối hôm ấy Chủ tịch Mao và tốp nhân viên phục vụ ông đốt rất nhiều pháo. Sáng hôm sau, người ta dùng xe tải 301 chở xác pháo đi.
Tóm lại, nhân dân không thể nào chịu đựng được nữa, dù là người biết sự thật hay không biết. Tháng Tư, cuộc chiến đấu quyết tử bắt đầu. Một lần nữa, quảng trường Thiên An Môn lại trở thành ngôi sao sáng. Dường như người dân toàn Trung Quốc đều đã kéo tới quảng trường này. Tại đây, những người ông của họ từng kịch chiến chặn đoàn ngựa của bọn quân phiệt. Những người cha của họ từng tới đây vui mừng chào đón ngày thành lập nước cộng hòa. Bản thân họ từng đến quảng trường này, khóc sướt mướt thề trung thành với Cách mạng Văn hóa. Nhưng bây giờ họ chống lại cuộc cách mạng ấy.
Mấy hôm đó, Mao Trạch Đông chăm chú theo dõi tình hình Quảng trường Thiên An Môn. Ông cùng nhịp thở, chung số phận với Quảng trường. Cho dù ông đã gần đất xa trời nhưng điều đó không ngăn cản ông nắm tình hình Quảng trường. Sau này Hoa Quốc Phong có nói gì đây, rằng Giang Thanh, Mao Viễn Tân che giấu lừa dối Chủ tịch Mao. Hoa Quốc Phong nói thế là có ý đồ riêng mà thôi. Chẳng ai có thể che giấu lừa dối nổi Chủ tịch, trừ Lâm Bưu.
Hồi ấy Mao Trạch Đông có tâm trạng rất nặng nề. Trước đây Quảng trường thuộc về ông. Bây giờ nó không thuộc về ông nữa. Mao buồn bã hiểu được rằng tuần trăng mật của mình với Quảng trường đã chấm dứt, ông không còn là người trong Quảng trường Thiên An Môn. Ông cố sức ở lại, nhưng Quảng trường không còn thu nhận ông nữa. Nó vứt bỏ ông rồi.
Hôm ấy, khi Mao Viễn Tân đọc cho Mao Trạch Đông nghe bài thơ bị Bộ Công an xác định là bài thơ phản cách mạng số 001, mặt ông tái nhợt.
Dục bi văn quỷ khiếu,
Ngã khóc tài lang tiếu,
Sái lệ tế hùng kiệt,
Dương mi kiếm xuất sáo.
Tạm dịch ý: “Muốn buồn nghe quỷ kêu/ Ta khóc, lang sói cười/ Rơi lệ tế hùng kiệt/ Ngước mắt tuốt gươm ra”.[2]
Mao Viễn Tân vừa đọc vừa liếc nhìn ông chú mình, chỉ sợ ông lên cơn thịnh nộ. Nhưng ông không nổi giận mà nặng nề thở một hơi dài rồi gục đầu xuống. Mấy sợi tóc bạc lơ thơ không che nổi cái đầu đã hói nhẵn. Có đến mấy chục phút ông gục đầu như thế không nói một lời. Mao Viễn Tân tưởng chú mình đã ngủ bèn khẽ quay người định đi ra, ai ngờ ông chú bỗng dưng mở miệng: “Rơi lệ hay là rơi máu?” “Rơi lệ.”
Khi viết “Giản báo” [Báo cáo ngắn], Diêu Văn Nguyên [một thành viên trong Bè Lũ Bốn Tên] lập tức sửa câu đó thành “ Rơi máu tế hùng kiệt”.
Đêm khuya ngày 5 tháng Tư, đại binh xuất quân, một trận quét sạch Quảng trường Thiên An Môn. Lại một lần nữa Quảng trường ngập máu tươi. Vương Hồng Văn ngồi trong Đại lễ đường nhân dân chỉ huy cuộc tàn sát này.
Sau khi dọn dẹp xong chiến trường, Vương hớn hở đến Trung Nam Hải gặp Mao Trạch Đông. Chủ tịch mặc quần áo ngủ đang nằm trên giường đọc “Hồng Lâu Mộng”.
Vương Hồng Văn nói: “Thưa Chủ tịch, chúng ta thắng rồi!”
Trái ngược với thần sắc mừng rỡ của Vương Hồng Văn, khuôn mặt Mao Trạch Đông đầy vẻ sầu muộn. Ông đang đọc đến đoạn Bảo Ngọc thành hôn với Bảo Thoa. Lâm Đại Ngọc một mình nằm trên giường lắng nghe tiếng đàn sáo tưng bừng từ phía xa vẳng lại, chắc hẳn cô cũng tưởng tượng ra cảnh tình nhân của mình giờ này đang làm tình với kẻ khác, nghĩ đến chuyện ấy, lòng cô đau như cắt. Vốn là người mềm yếu thấy hoa rụng cũng khóc, thế mà lúc này mắt Đại Ngọc lại ráo hoảnh, cô nói: “Bảo Ngọc, ní hảo……”. Không có đoạn viết tiếp.
Vương Hồng Văn oang oang kể lại trận kịch chiến trên Quảng trường Thiên An Môn, miệng bắn nước bọt tung tóe. Mao Trạch Đông vẫn nằm như cũ, không ngẩng đầu lên. Vương Hồng Văn báo cáo xong, chờ đợi vị Thầy dẫn đường của mình khen ngợi. Chẳng ngờ Mao Trạch Đông nói: “Đại Ngọc nói: ‘Bảo Ngọc, ní hảo [chào anh]……’, hảo cái gì thế? Đây thật là bí ẩn muôn đời. Ní hảo cái lòng lang dạ thú ư? Ní hảo hao [anh gắng mà] chiều Bảo Thoa ư? Anh không trông nom việc nhà ư?……”
Vương Hồng Văn tiu nghỉu. Mao Trạch Đông hoàn toàn chẳng nhìn Vương Hồng Văn, mà tiếp tục lúng búng trong miệng: “Ní hảo hao [anh gắng mà] ngủ ư? Ní hảo [anh thật] khổ ư? Anh thật khổ…… Anh thật khổ? À, đúng rồi, là câu: Anh thật khổ. ……”
Ngày mồng 6 tháng Tư, Bộ Chính trị họp, xác định sự kiện Thiên An Môn là bạo loạn phản cách mạng. Mao Trạch Đông tay run rẩy viết lời phê duyệt: “Sĩ khí hăng hái lớn, tốt! Tốt! Tốt! Một Thủ đô, hai Thiên An Môn, ba đốt đánh, tính chất đã thay đổi rồi.”[3]
Tối hôm ấy ông ốm. Sốt. Ho, đờm có máu. Ông bảo mọi người sĩ khí hăng hái lớn mà sĩ khí của ông thì không gượng dậy nổi. Hôm ấy do tâm trạng chán chường, ông nói nhiều nhất đến cái chết. Vương Hồng Văn đến thăm ông, ông hỏi người kế vị trẻ tuổi này: “Sau khi tôi chết rồi, Trung Quốc sẽ xảy ra chuyện gì?”
Trước đây một năm, ông từng hỏi Vương Hồng Văn và Đặng Tiểu Bình cùng một vấn đề như vậy. Vương trả lời: “Toàn Đảng sẽ tự giác thi hành đường lối cách mạng của Chủ tịch Mao, tiến hành cách mạng đến cùng.” Đặng ồm ồm nói: “Quân phiệt hỗn chiến.” Mao Trạch Đông tán thưởng câu nói của Đặng.
Lúc này Vương Hồng Văn ngớ người ra một lúc, rồi chớp lấy cái khôn lỏi của Đặng Tiểu Bình, Vương khẽ trả lời: “Quân phiệt hỗn chiến”.
Mao Trạch Đông lườm Vương một cái: “Nói bậy nào.”
Trương Ngọc Phượng cho ông uống thuốc. Ông vuốt ve tay cô: “Bác kể cho cháu nghe câu chuyện này. Hôm ấy ở Diên An trời mưa có sấm sét. Ông Chủ tịch huyện bị sét đánh chết. Bà con bảo nhau, sét đánh không chết Mao Trạch Đông. Bác rút ra một kết luận: sét đánh bác không chết nhưng bệnh tật thì có thể đánh chết bác.” Trương Ngọc Phượng đưa thìa thuốc vào miệng ông. Miệng ông run lập cập, thuốc rớt ra ngoài.
Tối hôm ấy Mao Trạch Đông muốn xem phim. Trương Ngọc Phượng lấy từ Văn phòng Trung ương về một bộ phim mới “Cuộc chiến đấu khó quên”. Hôm nay Mao Trạch Đông ốm, cho nên người ngồi bên cạnh ông là cô Y tá trưởng của Phòng khám bệnh Trung Nam Hải. Đoạn mở đầu phim có cảnh Giải phóng quân giải phóng được một thành phố, quân đội xếp hàng tiến vào. Dân chúng tay cầm những lá cờ nhỏ đứng hai bên đường chào đón. Bỗng dưng Y tá trưởng cảm thấy có một luồng hơi ẩm thoảng qua. Cô nhìn Mao Trạch Đông và giật mình. Hai dòng nước mắt lóng lánh hiện lên trên khuôn mặt ông. Mao Chủ tịch khóc rồi! Y tá trưởng để ý thấy nước mắt ông tiếp tục trào ra. “Chủ tịch sao thế ạ?” – cô hỏi.
Trên màn ảnh hiện lên cảnh một đám học trò đem những bọc cơm nhỏ tặng các chiến sĩ Giải phóng quân. Mao Trạch Đông chỉ lên màn ảnh hỏi Y tá trưởng: “Cháu có mặt trong đám học trò này không đấy?” Ông biết rằng hồi mới giải phóng, Y tá trưởng là học sinh Thượng Hải. Đúng là năm ấy cô cũng đứng trong đoàn người ra đường hoan nghênh bộ đội ta. Mao Trạch Đông hỏi thế làm Y tá trưởng bỗng dưng chẳng biết vì sao cảm thấy trong lòng xót xa, nước mắt vỡ òa ứa ra. Cô gật gật đầu: “Thưa vâng, cháu có ở đấy ạ.”
Mao Trạch Đông cũng gật gật đầu. Hơi ẩm từ khuôn mặt ông tỏa ra càng nhiều hơn. Xa một chút vẳng lên tiếng thút thít, đó là Trương Ngọc Phượng. Các nhân viên phục vụ khác cùng khóc theo. Những giọt nước mắt của Mao Trạch Đông đã truyền cảm cho mọi người. Ngược lại, tiếng khóc của họ lại truyền cảm cho ông.
Mao Trạch Đông, bàn tay sắt thống trị Trung Quốc mấy chục năm nay, khi vợ con chết ông đều chưa hề nhỏ một giọt nước mắt, thế mà bây giờ lại thút thít khóc thành tiếng. Mỗi lúc càng không thể kiềm chế mình, ông lấy tay bưng mặt, nước mắt chảy qua kẽ tay rơi xuống. Tiếng khóc vang lên khắp gian phòng. Buổi chiếu phim không thể tiếp tục được nữa. Trương Ngọc Phượng và Y tá trưởng dìu Mao Trạch Đông đi ra…..
Thượng Đế dùng một chữ “sinh” để trưng bày tác phẩm của mình, sau đó dùng một chữ “Tử” thu về tất cả. Nửa năm sau sự kiện Thiên An Môn, Mao Trạch Đông từ giã cõi đời.
Lưu Á Châu sinh 1952, hội viên Hội Nhà văn Trung Quốc, Ủy viên Trung ương ĐCSTQ khóa XVIII, Thượng tướng, Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc, con rể cựu chủ tịch nước Trung Quốc Lý Tiên Niệm, có quan điểm phê phán Khổng Tử và Mao Trạch Đông.
Hình: Người dân tưởng niệm Chu Ân Lai trên Quảng trường Thiên An Môn năm 1976.
Nguồn: Ba bài viết của Thượng tướng Lưu Á Châu làm rúng động lòng người Trung Quốc: Phác họa chân dung Mao, Lưu, Chu. Bài một:  “Chứng nhân của quảng trường”. 刘亚洲上将令人震撼的三篇文章:写意毛刘周 – 《广场的见证》
—————
[1] Từ Hán-Việt là ngoạn thâm trầm; từ này không có trong từ điển. Tạm hiểu là đùa cợt với sự thâm trầm. Người thâm trầm là người sắc sảo, rất hiểu biết nhưng kín đáo. Kẻ chơi trò thâm trầm là kẻ tư tưởng nông cạn nhưng lại tỏ ra sâu sắc, kém hiểu biết nhưng lại tỏ ra rất hiểu biết. Có học giả Trung Quốc nói thâm trầm là một trong 4 đặc trưng lớn của dân tộc Trung Quốc. Năm 1966, Mao Trạch Đông phát động Cách mạng Văn hóa, tưởng rằng đó là hành động có ý nghĩa thâm sâu, nhưng thực ra là nông nổi, ấu trĩ, ngạo mạn khinh đời.
[2] Dịp tiết Thanh minh 1976, mỗi ngày cả triệu dân kéo đến Quảng trường Thiên An Môn dâng hoa, đọc thơ, dán báo chữ lớn tỏ lòng thương tiếc Chu Ân Lai và chửi rủa chính quyền trong tay “Bè Lũ Bốn Tên” chống Chu Ân Lai. Ngày 5/4/1976, thanh niên Vương Lập Sơn đọc rồi dán thơ này lên Đài Liệt sĩ, dân chúng chép truyền tay nhau. Đại ý: Nhân dân đang đau buồn thương tiếc Thủ Tướng, bỗng nghe thấy “lời ma quỷ kêu” (tức tiếng loa phóng thanh yêu cầu giải tán biểu tình). Dân khóc thương, bọn lang sói Bè Lũ Bốn Tên thì hả hê cười. Dân rơi lệ tưởng niệm người anh hùng hào kiệt Chu Ân Lai. Hãy đứng lên đánh đổ chính quyền này. Câu thơ bị Bè Lũ Bốn Tên dựng thành “Vụ án phản cách mạng số 001”, đưa lên báo Nhân Dân và đài phát thanh, ra lệnh truy nã tác giả. Vương Lập Sơn trốn đi. Sau khi Bè Lũ Bốn Tên bị lật đổ, Vường Lập Sơn  được nêu tên là Thanh niên gương mẫu. Năm 2010 báo Trung Quốc có đăng bài phỏng vấn Vương Lập Sơn.
[3] Liên lạc viên Mao Viễn Tân (cháu ruột Mao Trạch Đông) mang Lời phê do Mao viết đưa cho Bộ Chính trị và giải thích: Chủ tịch Mao chỉ thị: Thủ đô, quảng trường Thiên An Môn đã xảy ra tình trạng [dân chúng biểu tình] đốt phá, đánh [đánh lại lực lượng đàn áp], các hoạt động ở đây đã có tính chất phản cách mạng. Trong bài này Lưu Á Châu muốn nói Mao đồng ý vụ đàn áp đẫm máu này, trái với quan điểm chính thống ở Trung Quốc (tránh phê bình Mao, mọi sai lầm của Cách mạng Văn hóa và vụ đàn áp 5/4/1976 đều đổ tội lên đầu Bè Lũ Bốn Tên).

Học giả Đài Loan: Trước Đại hội 19, có thể sẽ xảy ra chém giết nhau trong nội bộ Đảng CS Trung Quốc

Chiến dịch “đả hổ” của ông Tập Cận Bình đã đánh hạ rất nhiều quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), điều này sẽ khiến những thế lực còn sót lại trước Đại hội 19 đấu tranh đến cùng trong tình cảnh không còn lối thoát.

đại hội 19, Tap Can Binh, cuộc chiến quyền lực,
Ông Tập Cận Bình đang tiến hành cải cách quân đội, tách khỏi thể chế “đại lục quân” đã tồn tại nhiều năm. (Ảnh: Chinadaily)
Ngày 22/9, học giả Đài Loan Lý Tấn Dĩnh có bài viết trên trang storm.msg, lấy bút danh Hán Dương cho rằng ông Tập Cận Bình nhậm chức đã 4 năm, đã trải qua việc chống tham nhũng đối với các nhóm lợi ích, một mặt là quét sạch kẻ địch chính trị thuộc phe cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân, mặt khác đã giành được sự ủng hộ lớn từ người dân. Do đó, ông Tập ngày càng tập trung được nhiều quyền lực và xác lập quyền uy cá nhân không thể bị thách thức trong đảng.
Bài viết chỉ ra rằng, ông Tập Cận Bình tiến hành cải cách quân đội, tách khỏi thể chế “đại lục quân” đã tồn tại nhiều năm. Đối với quân đoàn cũ thì tiến hành xóa bỏ hoặc sắp xếp lại biên chế, và còn thanh trừ di độc của hai ông Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu.
Đồng thời, kèm theo việc nhiều “lão hổ” trong quân đội bị “ngã ngựa”, cho đến việc điều động quy mô lớn các tướng lĩnh từ cấp phó đại quân trở lên, và danh sách công bố trong những ngày gần đây mà nói, thì ông Tập đã tẩy sạch Quân ủy Trung ương của ĐSCTQ, hoàn toàn nắm vững “báng súng”, và quân đội chỉ thuần phục một mình ông Tập.
Bài viết còn đưa ra nhận định, ông Tập có thể giống như Tổng thống Nga Putin và Thủ tướng Nhật Abe Shinzo, có thể kéo dài nhiệm kỳ mà không có chút lo lắng nào. Nhưng nếu muốn tiếp tục tại nhiệm ở Đại hội 20, thì chế độ ở đại hội này phải cải biến, vì vậy ông một mực thâu tóm quyền lực chính trị ở Đại hội khóa 19 để dễ bề tiến hành cải cách chế độ ở khóa tiếp theo.
Điều này cũng sẽ khiến những thế lực còn sót lại trước Đại hội 19 đấu tranh đến cùng trong tình cảnh không còn lối thoát. Hiện nay, trong nội bộ ĐCSTQ tình thế đang rất căng thẳng, có khả năng vì việc chọn người và thứ tự vai vế trong Thường ủy Bộ Chính trị vẫn chưa xác lập.
Cuối cùng bài viết cho rằng càng tới gần Đại hội 19, thì trong nội bộ của ĐCSTQ lúc nào cũng có khả năng có biến động về mặt nhân sự, thậm chí rất có khả năng xuất hiện sự kiện “tử vong phi tự nhiên”.
Trước đây, nhà hoạt động dân chủ người Trung Quốc là ông Vương Quân Đào nói trên tạp chí “Động Hướng” của Hong Kong rằng, sau khi Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSTQ, nguyên Bí thư Thành ủy Trùng Khánh Tôn Chính Tài “ngã ngựa” 2 ngày, thì từ ngày 26 đến 27/7, ông Tập Cận Bình dẫn đầu 7 vị thường ủy mở một hội nghị bí mật có 300 quan chức cấp tỉnh bộ và tướng lĩnh quân đội tham gia.
Hội nghị được đổi sang tổ chức ở Trường Đảng Trung ương ĐCSTQ, lựa chọn nhà khách Kinh Tây nằm dưới sự khống chế tuyệt đối của quân đội. Hội nghị chỉ cho phép nhân viên nghe, không cho phép ghi chép vào sổ, được ví giống như hội nghị cao cấp sau sự kiện Lâm Bưu trốn thoát.
Ông Vương Quân Đào nhận định, theo tin rò rỉ thì hội nghị có truyền đạt vấn đề liên quan đến ông Tôn Chính Tài, nhắc lại nghiêm minh kỷ luật chính trị, cho thấy rõ việc quan trọng nhất trước Đại hội 19 là cảnh giác và đề phòng những người có dã tâm dám thách thức “Tập hạt nhân”.
Ông Vương Quân Đào nói, có lẽ ông Tập Cận Bình đã đập nát một cuộc chính biến chưa thành, hoặc là đang dập tắt một âm mưu chính biến của những người phản đối trước Đại hội 19.
Sau đó, khi ông Vương trả lời phỏng vấn của đài RFI đã nói, cho dù Đại hội 19 có những chuẩn bị nghiêm mật thì vẫn có thể xuất hiện sự việc ngoài ý muốn. Trong Đại hội Đại biểu Toàn Quốc của ĐCSTQ có người có thể sẽ xúi giục đại biểu, đề xuất một số đề án, đả đảo nội dung đã đạt được trước hội nghị, sau đó làm ra một số biến động tạm thời ngay trong hội nghị, tiến hành một số hoạt động có tính chất giống như “sắp chính biến”.
Trước đây, ngoại giới có một số quan điểm cho rằng, cho dù ĐCSTQ có bố trí và lên kế hoạch cho cái gọi là Đại hội 19, Đại hội 20, nhưng sự diệt vong của chính quyền ĐCSTQ, có thể chỉ vì sự đấu đá kịch liệt giữa các phe phái trong nội bộ Trung Nam Hải mà trở thành hiện thực.
Theo Trithucvn

ĐẶT KINH ĐÔ Ở HÀM DƯƠNG, NƠI VƯỢNG DƯƠNG KHÍ, TẦN THỦY HOÀNG HOÀN THÀNH ĐẠI NGHIỆP THỐNG NHẤT TRUNG QUỐC

Bí ẩn phong thủy trợ giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ

Trong con mắt của các nhà phong thủy, Tần Thủy Hoàng sở dĩ thành đại nghiệp, tiêu diệt lục quốc, thống nhất giang sơn, trở thành Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc là nhờ bố cục phong thủy đắc địa của kinh đô Hàm Dương.

tan thuy hoang, phong thủy, kinh đô hàm dương,
Hàm Dương là một trong những kinh đô cổ đại nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. (Ảnh: Kknews)
Kinh đô Hàm Dương của nước Tần nằm ở phía Nam của núi Cửu Trọng, phía Bắc của dòng Vị Thủy, cả núi lẫn sông đều vượng dương khí, vì vậy nơi đây mới có tên là Hàm Dương.
Nếu như nói rằng, nước Tần có được vùng Quan Trung như hổ mọc thêm cánh thì có thể nói Hàm Dương chính là cái vuốt sắc nhọn và lợi hại nhất của con hổ ấy. Thậm chí, có người nói rằng, không có sự phù trợ của kinh đô Hàm Dương, sự nghiệp thống nhất thiên hạ của Tần Thủy Hoàng chưa chắc đã hoàn thành dễ dàng như vậy.
Nằm dưới chân ngọn núi Cửu Trọng tráng lệ và hùng vĩ, bình nguyên Tần Xuyên dài 800 dặm mênh mang, lúc ẩn, lúc hiện. Thành cổ Hàm Dương nằm ngay trong lòng của bình nguyên Tần Xuyên rộng lớn ấy. Vùng đất này có sản vật phong phú, đất đai màu mỡ, là nơi phát tích ra 12 vương triều Chu, Tần, Hán, Tùy, Đường,… Có thể nói, Hàm Dương hoàn toàn không hổ danh là nơi đất tổ của “long mạch”.
Các nhà phong thủy cho rằng, một trong những nguyên tắc cơ bản trong phong thủy là “y sơn, bàng thủy” (dựa vào núi và gần sông, biển). Núi giống như xương sống của đất và là kho thiên nhiên của con người. Còn sông, hồ, biển cả là suối nguồn sự sống của con người. Không có nước, con người không thể nào tồn tại được.
Trên bình nguyên Tần Xuyên rộng lớn, có một dòng sông Vị Hà chảy xuôi xuống phía Nam, tạo nên sự phong phú cho long mạch vùng đất Hàm Dương. Sông Vị Hà là nhánh lớn nhất của dòng Hoàng Hà, con sông lớn nhất Trung Quốc. Chính vì vậy, có thể nói sự giàu có của Hàm Dương nhờ một phần rất lớn vào dòng sông này.
Truyền thuyết kể rằng, vào ngày lập xuân, Tần Vương Doanh Chính muốn làm lễ tế trời bên dòng sông Vị Hà. Khi đoàn người náo nhiệt kéo tới chỗ được lựa chọn làm lễ tế thì phát hiện trong dòng nước chảy của sông Vị Hà phát ra những âm thanh lạ kỳ, trong khi mặt nước vẫn tĩnh lặng, không hề xảy ra điều gì bất thường.
Sau khi đại lễ bắt đầu thì bỗng nhiên mây đen từ đâu kéo về che kín bầu trời. Khi mọi người còn đang hoảng hốt không hiểu lý do thì dòng Vị Hà sóng nổi cuồn cuộn, những ngọn sóng cao ngất tới tấp đánh vào bờ. Đoàn người tế lễ triều Tần vội vàng xông tới bảo vệ cho Tần Vương. Đúng lúc đó, đột nhiên từ dưới dòng nước bay vụt lên một con rồng màu xanh khiến bọt nước bay đầy trời. Tần Vương Doanh Chính đứng sững người, bình tĩnh quan sát tất cả sự việc đang xảy ra trước mắt mình.
tan thuy hoang, phong thủy, kinh đô hàm dương,
Chân dung Hoàng đế Tần Thủy Hoàng. (Ảnh: Kknews)
Con rồng xanh sau khi xuất hiện, bay vòng quanh trên bầu trời ba vòng rồi hướng về phía Tần Vương Doanh Chính gật đầu ba cái. Sau đó, con rồng lại một lần nữa bay vút lên trời cao rồi lao xuống dòng nước sông biến mất. Một lúc sau, dòng sông Vị Hà trở lại vẻ tĩnh lặng ban đầu. Từ đó về sau, sông Vị Hà được Tần Vương Doanh Chính gọi là Thánh Thủy.
Nhờ có được sự giúp đỡ của thần sông Vị Hà nên sau khi thành đại nghiệp, thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng tự coi mình thuộc về “Thủy đức”. Căn cứ theo quan niệm Âm dương Ngũ hành thì nhà Chu thuộc “Hỏa đức”, nhà Tần thay thế nhà Chu, thống nhất Trung Quốc đương nhiên thuộc “Thủy đức”. “Thủy đức” vượng nhất vào tháng 10, vì vậy, khi lập pháp, nhà Tần lấy tháng 10 làm tháng đầu của năm.
Trong Ngũ hành, “Thủy đức” ứng với màu đen, vì vậy, nhà Tần rất chuộng màu đen, từ quần áo tới cờ quạt, tất thảy đều có màu đen. Con số biểu tượng của thủy là số 6, vì vậy, tất cả đều lấy con số 6 làm chuẩn. Chẳng hạn như ấn tín, mũ quan đều dài và cao 6 tấc, xe rộng 6 thước (khoảng 1,8 mét), xe ngựa dùng 6 ngựa và cứ 6 thước thì tính là một bộ… Trong những ghi chép của triều đại nhà Tần, ở đâu cũng có thể thấy được dấu vết của “Thủy đức”.
“Y sơn, bàng thủy” không chỉ là tiêu chuẩn lựa chọn của phong thủy, mà về mặt quân sự cũng phát huy những ý nghĩa quan trọng. Từ khi trở thành một chư hầu hùng cứ một phương, nhà Tần đã rất nhiều lần dời đô và gần như tất cả các lần dời đô ấy đều có liên quan tới phong thủy. Chẳng hạn, ban đầu nhà Tần lấy vùng Tần Ninh (nay là huyện Hoa, Thiểm Tây) làm trung tâm chính trị là do Tần Ninh có núi Phượng Hoàng che chở, Bắc có sông Vị Thủy, Tây Nam có các kênh đào bao quanh.
Tiếp đó, nước Tần lại chuyển kinh đô về Ung Thành. Nguyên nhân cũng là vì Ung Thành phía Đông giáp sông Hoành Thủy, phía Tây dựa vào ngọn Linh Sơn, phía Nam giáp Hãn Hà, phía Bắc thì có ngọn Quân Pha. Về mặt quân sự, phía Nam có thể khống chế đường nối giữa Hán Trung và Tứ Xuyên, Tây có thể quản chặt đường giao thông phía Tây. Sau đó, nhà Tần lại dời đô một lần nữa.
Lần này là tới Lịch Dương. Phía Bắc của Lịch Dương là giáp với ngoại tộc, phía Đông thông với ba nước Tam tấn là Hàn – Ngụy – Triệu. Có thể thấy rằng, mỗi lần dời đô, nước Tần đều chú ý chọn được vị trí có ưu thế nhất về mặt quân sự, từ đó mở rộng bản đồ lãnh thổ của mình.
Tới thời Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế này quyết định định đô ở Hàm Dương vẫn là vì nguyên nhân “dựa núi, gần sông biển”, tiến thoái đều dễ dàng, nhờ vậy cuối cùng đã thành được đại nghiệp thống nhất Trung Quốc. Theo đó, có thể thấy rằng vị trí địa lý và hoàn cảnh có vai trò thế nào đối với sự phát triển của một vương quốc.
Như vậy, Hàm Dương sung túc no đủ là nhờ vào thủy khí và sơn thể mà hùng giáp thiên hạ. Thêm nữa, Doanh Chính còn được rồng xanh ở Vị Hà phù trợ nên hưởng trọn tinh hoa của sơn thủy Hàm Dương, thừa hưởng được “chân long chi khí” của huyết mạch, phát triển Tần quốc lớn mạnh thành Tần triều và Doanh Chính trở thành Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc.
TinhHoa tổng hợp

Khổ thân ông Cục phó; Nguyễn Quang Vinh - Anh nhé...!



XUÂN DƯƠNG

(GDVN) - Tiền ông mang trong túi, lại bị mất lúc ông công cán cách nhà hàng nghìn cây số thì làm thế nào chứng minh được đó là “tiền mồ hôi nước mắt của vợ con”?

Thông tin đại chúng vừa chớp được tin nóng hôi hổi, ông Nguyễn Xuân Quang - Cục phó Cục Kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường (dân gian gọi đùa là bộ Tài Môi), trong chuyến công tác kiểm tra tình trạng ô nhiễm tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đã bị kẻ trộm khoắng mất một máy tính xách tay và 385 triệu đồng tiền mặt.
Tính tròm trèm cái máy tính trị giá 15 triệu, số tiền mà ông Cục phó mất là tròn 400 triệu đồng. Ông đi công tác xa nhà phải mang theo cục tiền to nặng thế thật là tội.
Nghe nói công an đã khám nghiệm hiện trường và thông tin được Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam tường thuật như sau:
Theo lời người chứng kiến cuộc khám nghiệm hiện trường, công an đã ghi nhận một phiếu nộp tiền vào tài khoản tại một chi nhánh ngân hàng ở Long An vào ngày thứ hai, trước khi bị mất trộm một ngày.
Nếu ông Nguyễn Xuân Quang không kịp nộp, số tiền bị mất còn lớn hơn. Tại hiện trường, còn lại một số tiền USD và một số phong bì đã bóc và chưa bóc vỏ”. [1]

Đi kiểm tra doanh nghiệp, một Phó Cục trưởng báo mất 385 triệu đồng

Trao đổi qua điện thoại với phóng viên Báo Người Lao Động ông Quang nói:
Mất tài sản thì tôi phải thông báo chứ không lẽ im lặng à? Tiền của mình mồ hôi nước mắt của vợ con”. [2]
Tiền của ông Cục phó là “mồ hôi nước mắt của vợ con” mà có, mất thế thật đau lòng, cầu mong Công an sớm tìm ra kẻ trộm, trả lại tiền cho ông để ông không bị sốc, để ông yên tâm công tác.
Nhân chuyện “mồ hôi nước mắt”, chợt nhớ câu nói của con trai một vị (nguyên) Bí thư Tỉnh ủy được báo chí thuật lại:
Số tiền mà ông có được để bỏ ra xây dựng ngôi nhà tọa lạc trên khu đất hơn 4.000m2 này là tiền mồ hôi, nước mắt, xuất phát từ trí tuệ, vận động cá nhân chứ không phải là dựa dẫm vào bất kỳ ai, vào mối quan hệ nào”. [3]
Năm 2013 Chính phủ ban hành Nghị định Số: 78/2013/NĐ-CP “Về minh bạch tài sản, thu nhập”.
Cụ thể hóa Nghị định của Chính phủ, Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư 08/2013/TT-TTCP quy định về “Tài sản, thu nhập phải kê khai” đối với những người thuộc diện kê khai tài sản.
Khoản 3, điều 3, Thông tư 08/2013/TT-TTCP quy định kê khai tiền mặt như sau:
Tiền (tiền Việt Nam, ngoại tệ) gồm tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam mà tổng giá trị quy đổi từ 50 triệu đồng trở lên”.
Vậy không biết trong bản kê khai tài sản năm 2016 của ông Cục phó Nguyễn Xuân Quang, số tiền “mồ hôi nước mắt” 385 triệu đồng vừa bị mất có được ông khai, hay là của vợ con nên ông không có trách nhiệm phải báo cáo tổ chức?

Bộ trưởng Tài Nguyên đã biết cán bộ đi công tác mất trộm gần 400 triệu đồng

Có điều tiền ông mang trong túi, lại bị mất lúc ông công cán cách nhà hàng nghìn cây số thì làm thế nào chứng minh được đó là “tiền mồ hôi nước mắt của vợ con”?
Rõ khổ cho người lòng dạ ngay thẳng tự nhiên lại vướng vào thị phi.
Theo ông Quang thì: “Tôi đã gọi lại luôn cho lãnh đạo công an thành phố Tân An thì công an thành phố Tân An nói rằng họ không chỉ đạo cung cấp thông tin cho báo chí". [3]
Vậy là rõ rồi, có kẻ tọc mạch muốn vu oan giá họa cho ông Cục phó đây mà, thế nhưng nếu để ý một tí, chỉ một tí thôi sẽ thấy một “cái sự lạ”, ấy là tường thuật của Vov.vn nêu trên, rằng “tại hiện trường, còn lại một số tiền USD và một số phong bì đã bóc và chưa bóc vỏ”.
Vậy cái số phong bì “đã bóc và chưa bóc” ấy chứa cái gì và chủ sở hữu là ai?
Nếu mặt ngoài mấy cai phong bì đó không ghi tên người nhận, và ông Cục phó không nhận là của mình thì chắc chắn là có kẻ ném vào phòng để hại ông.
Dân chúng cảm thấy bất bình thay cho ông, đề nghị Công an thành phố Tân An, tỉnh Long An phải làm cho ra nhẽ, không thể để bọn xấu làm tổn hại thanh danh cán bộ, nhất là khi ông ấy đang dẫn đầu đoàn thanh tra của trung ương về làm việc tại địa phương.
Theo quy định tại Thông tư 08/2013/TT-TTCP, chậm nhất là ngày 30 tháng 11 hàng năm, bộ phận phụ trách công tác tổ chức, cán bộ tiến hành lập danh sách người có nghĩa vụ kê khai của đơn vị mình, gửi bản mẫu kê khai tới người có nghĩa vụ kê khai.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, người có nghĩa vụ kê khai phải hoàn thành việc kê khai, nộp 01 bản về bộ phận phụ trách và lưu cá nhân 01 bản.
Giả thiết bản kê khai tài sản của ông Cục phó Quang năm 2016 chưa có khoản 385 triệu đồng và phần tài sản của vợ con cũng không ghi thì nghĩa là số tiền gần 400 triệu đồng bị mất chỉ mới xuất hiện trong hành lý đi công tác của ông gần đây.
Còn nếu ông đã kê khai thì mọi sự đều minh bạch, ông chả việc gì phải giãi bày cho tốn … nước bọt, cây ngay không sợ chết đứng, cây ngay càng không thể làm “củi”.
Vậy là chỉ còn chừng tháng nữa, Cục phó Nguyễn Xuân Quang phải kê khai tài sản năm 2017, nói thế vì chức Cục phó chắc là thuộc diện phải kê khai.
Vậy ông có nên khai trong mục biến động tài sản cá nhân như sau: “Năm 2017 tài sản tăng thêm 385 triệu đồng so với năm 2016 nhưng bị mất cắp rồi”.
Trường hợp số tiền đó là của vợ con thì có nên khai “phần tài sản mồ hôi nước mắt của vợ con 385 triệu đã bị bọn bất lương biển thủ trong chuyến công tác Miền Tây”!

Phó Cục trưởng đi công tác mang theo 400 triệu đồng là bất thường

Nghe nói Miền Tây trong đó có Long An, có khá nhiều đặc sản như: Thịt lợn muối chua; Cá lóc nướng trui; Thanh long Châu Thành; Gạo Nàng Thơm Chợ Đào; Rượu đế Gò Đen; Mắm còng Cần Giuộc;…
Mấy bác quê một cục đoán mò ông Cục phó Quang mang mấy trăm triệu để mua đặc sản Long An về làm quà cho gia đình hoặc bạn bè cùng công tác, hóa ra không phải, tiền ông mang là để giải quyết việc gia đình nhà vợ tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đúng là dân quê nghĩ quẩn, về Hà Nội, di dỉ dì di cái gì cũng có, tội gì phải mua từ trong ấy mang về.
Ông chỉ cần nhấc máy điện thoại gọi cho mấy em bán hàng qua mạng, gần 400 triệu đồng có mua cả xe tải hàng cũng chưa hết.
Thật tội, mất nhiều thế bây giờ ông lấy đâu ra tiền giải quyết chuyện gia đình? Của đau con xót thế mà có người lại cứ nghĩ này nghĩ nọ.
Hãy nghe ông nói: “Tôi bị mất tài sản cá nhân, tôi tiếc thì tôi phải đi khai báo. Không hiểu vì sao lại đưa ra với báo chí" để mà hiểu cho ông, chuyện cá nhân chứ có phải chuyện cán bộ đâu mà xắn tay vào tìm hiểu!
Có một sự trùng hợp “hơi” thú vị về con số 400 triệu đồng, chỉ mấy tháng trước, ngày 17/4/2017, ông Nguyễn Phúc Hà, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn cũng bị mất số tiền khoảng 400 triệu đồng. Nơi bị mất cắp chính là phòng làm việc của Giám đốc Sở.
Lại có một sự trùng hợp “hơi” thú vị khác về địa điểm mất cắp. Năm 2014, ông Đào Anh Kiệt - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh mất trộm 1,6 tỷ đồng.
Vụ mất trộm xảy ra ngay tại phòng làm việc của Giám đốc sở trên đường Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận 1.
Thế chả nhẽ các vụ mất tiền chỉ xảy ra tại phòng làm việc, xin thưa là tuyệt đối không phải.
Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Kon Tum Đặng Xuân Thọ, trú tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã bị trộm đột nhập nhà riêng, cuỗm đi 65 lượng vàng, trị giá vào thời điểm đó khoảng gần 2,8 tỷ đồng.
Vào thời điểm mất tiền, gia đình ông Thọ đang đi du lịch.
Ông Trương Công Chiến là Đội trưởng đội Đăng ký trước bạ thuộc Chi cục Thuế quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Kẻ gian đã cậy két sắt nhà riêng lấy đi 12 sổ tiết kiệm trị giá 5 tỷ đồng, 6.000 USD, 10 lượng vàng SJC, một bộ nữ trang trị giá 10 lượng vàng 24k, 2 bông tai hột xoàn, một nhẫn kim cương. Tổng tài sản bị mất hơn 6 tỷ đồng.
Tóm lại là các vị cán bộ đã mất trộm, đang mất trộm hoặc sẽ mất trộm nếu không phải là tiền “mồ hôi nước mắt” thì cũng là do “tiết kiệm” hoặc buôn chổi đót, nuôi lợn, chạy xe ôm.
Thế nên các “thợ nhặt đá” trên mạng khi nghe tin thì đừng vội vung tay, nhỡ đâu trúng phải người nhà!
Chuyện Ninh Văn Quỳnh, nguyên kế toán trưởng Tập đoàn Dầu khí Quốc gia trong mấy năm nhận quà là 20 tỷ đồng tiền Việt chỉ là cá biệt, cá… cá biệt.
Không nên lấy Ninh Văn Quỳnh làm hình mẫu để suy diễn, dân bây giờ nhà nào chả có ti vi, xe máy, khối người còn có ôtô, vậy nên không lẽ bắt cán bộ phải nghèo.
Cán bộ mà nghèo, mà thiếu ăn, thiếu tiện nghi phục vụ thì ốm đau, bệnh tật lấy ai làm công bộc, lấy ai làm công việc “hành chính”?
Vả lại, cán bộ cũng là dân, cán bộ giàu tức là dân giàu, thế nên ai đó mang nặng tâm lý suy bì tị nạnh cần phải nghĩ lại, cần phải học tập cách buôn chổi, cách làm lụng đến thối móng tay để có tiền chứ đừng ngồi đó chờ sung rụng.
Nói thế không biết quý vị có cho là phải?
Tài liệu tham khảo:
[3]http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/con-bi-thu-hai-duong-noi-ve-tai-san-kech-xu-73512.html


ANH NHÉ...

-A lô ạ.

-Xin lỗi ai đầu dây?

-Úi giời quý hoá quá, anh đã bắt máy. Thưa anh, em trân trọng tự giới thiệu em là thằng lấy cắp tiền anh ở phòng khách sạn...

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng, cây, ngoài trời, nước và thiên nhiên

-Mày đang ở đâu, thằng khốn, mày không thoát được đâu, mày sẽ phải rũ tù.

-Vâng ạ. Em muốn có cơ hội đầu thú. Nhưng cho em hỏi anh khí không phải, anh có cần mua lại 38 vỏ phong bì trong phòng anh không ạ, vỏ phong bì nào cũng ghi tên doanh nghiệp nha anh và kính gửi anh nha anh, lại còn ghi số tiền nữa nha anh...Hay là em đầu thú rồi nộp cả tiền và vỏ phong bì để nhận khoan hồng của pháp luật anh nhỉ?

-Nói chung là...

-Vâng ạ

-Mày bán bao nhiêu?

-Vâng ạ, em không nói thách, em bán vỏ phong bì ngang giá ghi ngoài phong bì anh nhé, anh nhé, anh nhé...

Nguyễn Quang Vinh

(FB Nguyễn Quang Vinh)

...........

Bạch Hoàn - Cướp trộm, trộm cướp bây giờ lộng hành kinh quá.

Chuyện là thế này:

Ông Nguyễn Xuân Quang là người sống tại Hà Nội, chức danh là phó Cục trưởng Cục Kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường thuộc Tổng cục môi trường.

Ngày 20-9, ông Quang cùng hai người ở Thái Bình, Nghệ An và hai người ngụ tại TP.HCM đến khách sạn T.V. ở Long An đặt 3 phòng nghỉ. Trong đó, ông Quang ở phòng riêng.

Như những con ong cần mẫn đi hút mật hoa, hàng ngày, đoàn cán bộ này đi kiểm tra các doanh nghiệp, sáng đi tối về.

6 ngày sau, tức vào ngày 26-9, một thành viên trong đoàn báo với khách sạn là ông Quang bị mất laptop, một lúc sau thì ông Quang báo bị mất 385 triệu đồng.

Tại hiện trường, còn lại một số tiền USD và một số phong bì đã bóc và chưa bóc.

Chủ khách sạn T.V. nói rằng, "Từ ngày có đoàn công tác, buổi chiều thường có khách đến khách sạn rồi chờ ông Quang, một số người lên phòng ông. Chiều 25-9, một thành viên trong đoàn còn nhờ tôi chỉ đường ra ngân hàng để gửi tiền. Sáng 26-9, công an khám nghiệm hiện trường còn thấy phiếu nộp tiền và một số phong bì, tiền đô la Mỹ, điện thoại đắt tiền đều không bị mất".

Khi khám nghiệm hiện trường, công an đã ghi nhận một phiếu nộp tiền vào tài khoản tại một chi nhánh ngân hàng ở Long An vào ngày thứ hai, trước khi bị mất trộm một ngày. Nếu ông Nguyễn Xuân Quang không kịp gửi tiền vào ngân hàng, số tiền bị mất còn lớn hơn.
-----
P/S: Lần sau đi công tác, anh Quang không ở khách sạn T.V. nữa anh ạ. Rút kinh nghiệm, cuối ngày anh ra ngân hàng gửi luôn vào tài khoản để ngân hàng họ giữ giùm, anh Quang nhé.

Bạch Hoàn

(FB Bạch Hoàn)
Xuân Dương

Nguồn gốc cây lúa trong chuyện thần thoại

Người ta nói rằng mẹ ông đã đến thăm vùng Hữu Oa và sinh ông ra sau khi nhận linh hồn của một con rồng. Viêm Đế được sinh ra trong hình dạng thân người và đầu của một con bò. Ông đã biết nói chỉ 3 ngày sau khi sinh, biết bò vào lúc 5 tháng, mọc răng vào lúc 7 tháng, và biết làm nông vào lúc 3 tuổi.
Ông đã nhìn thấy dân số đang phát triển và biết rằng họ không thể nào sống chỉ dựa vào thực vật và thú hoang. Sau khi bắt cá và săn bắn, ông nghĩ rằng con người cần phải phát triển nông nghiệp.
Ông đã sáng chế ra dụng cụ để trồng trọt, chẳng hạn như thuổng, xẻng, rìu, và cuốc. Ông đã dạy người ta cày cấy và trồng năm loại ngũ cốc, đó là: lúa, kê, vừng, lúa mì, và các loại đậu.
Ông ủng hộ phát triển chợ búa và khuyến khích người dân trao đổi mua bán để cải thiện chất lượng cuộc sống của họ. Đó là lúc khởi đầu của giao thương. Ông cũng đã tạo ra 5 loại nhạc cụ có dây để chơi nhạc và nâng cao đời sống văn hóa của con người.
Một đóng góp khác của Viêm Đế là việc nếm vị thảo dược để con người có thể có thuốc. Ông đã đi đến nhiều núi cao và thu nhặt đủ các loại thực vật. Ông đã nghiền mỗi thứ ra để xem xét đặc tính của nó: xem thử nó độc hay lành, nóng hay lạnh, v.v.

Viêm Đế, còn được biết đến là Thần Nông, một ông vua huyền thoại trong thần thoại Trung Hoa. Người ta tin rằng ông sống cách đây 5.000 năm và đã dạy người cổ đại cách làm ruộng.

Viêm Đế, thần nông, nguồn gốc cây lúa,
Viêm Đế, còn được biết như là Thần Nông, là một ông vua huyền thoại của Trung Quốc. (Ảnh: Artron)
Viêm Đế – Vị Thần làm nghề nông
Để biết được bản chất của mỗi loại dược thảo, Viêm Đế đã nếm thử từng thứ một. Một lần, ông đã nếm phải 7 loại chất độc trong một ngày. May thay, truyền thuyết nói rằng Thần Nông có một cơ thể trong suốt và vì vậy có thể nhìn thấy sự ảnh hưởng của các loại thực vật và dược thảo khác nhau. Vì thế, ông đã có thể thấy bộ phận nào bị tác động và liền chọn ngay một liều thuốc chống chọi lại.
Ông đã chữa bệnh cho dân chúng bằng cách sử dụng thảo dược, tùy theo đặc tính của chúng. Ông đã sáng chế ra thuốc Trung Y và đã chữa lành bệnh cho rất nhiều người.
Viêm Đế, thần nông, nguồn gốc cây lúa,
Nhờ những điểm chỉ của Thần, Viêm Đế đã tìm ra cho con người rất nhiều dược liệu, ngũ cốc quý. (Ảnh: Epoch Times)
Viêm Đế dạy dân trồng lúa
Năm đó, Viêm Đế Thần Nông trèo đèo lội suối, chịu muôn vàn khổ cực để đến thung lũng Gia Hòa. Ông tới nơi này là vì tìm kiếm một loài thực vật mà người tiền sử dựa vào nó để sinh tồn.
Viêm Đế vì muốn tìm kiếm đồ ăn cho nhân loại, muốn cải biến phương thức sinh tồn của con người, đây là sự việc kinh thiên động địa, nên tất nhiên đã có thần linh tương trợ. Lúc ấy đúng vào mùa hè thời tiết nóng bức, Viêm Đế đã tìm được một dòng suối nằm bên cạnh một cái động ở vách núi đá. Ông uống nước suối xong liền ngả mình vào một gốc cây nằm ngủ.
Trong giấc mộng ông đã được thần tiên chỉ điểm. Sau khi tỉnh lại, ông đã tìm được cây có hạt mà con người có thể ăn được tại khu vực động lân cận. Năm đó, nơi mà Viêm Đế phát hiện cây lúa, chính là tại chân núi Cửu Lão Phong.
Viêm Đế đã trồng hạt này xuống ruộng nước tại Cửu Lão Phong, sau một năm đã thu hoạch được một gánh hạt vàng rực rỡ, rồi ông đem hạt thóc phân phát cho người dân địa phương, hướng dẫn cho họ cách gieo trồng như thế nào.
Năm thứ hai, thu hoạch được hơn mười gánh; năm thứ ba thu hoạch được nhiều hơn nữa… cứ như thế, một truyền mười, mười truyền trăm, trời Nam đất Bắc mọi người đều đua nhau gieo hạt này. Càng về sau càng thu hoạch được nhiều, mọi người ăn không hết liền xây kho tích trữ. Đây chính là câu chuyện Viêm Đế dạy con người trồng trọt tại Gia Hòa.
Mọi người vì tưởng nhớ công ơn khai sáng văn hóa nông canh thần truyền của Viêm Đế, nên đã tôn sùng ông là Thần Nông; đặt tên cho động mà Viêm Đế ngủ là Bính Huyệt (“Bính” trong Ngũ hành thuộc “Hỏa”, đồng nghĩa với từ “Viêm”). Đặt tên thôn trang trồng lúa đó là Hòa Thương Bảo, chính là thị trấn Gia Hòa ngày nay.
Năm đó, vì trợ giúp Thần Nông dẫn nước về tưới ruộng, Đông Hải Thủy Vương đã tới đây, đánh thắng tê giác quái thường xuyên hành ác ở vùng này, khơi thông sông Nguyệt, khiến cho nước sông Nguyệt từ động đá ào ào chảy về con suối ở phía đồng ruộng.
Mọi người vì tưởng nhở công tương trợ của Hải Vương, đã xây ngôi miếu ở bên cạnh huyệt động lấy tên là Thủy Nguyên (nghĩa là nguồn nước). Từ đó nước trong động liên tục chảy ra, quanh năm suốt tháng không ngừng nghỉ.
Lê Hiếu biên dịch