Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

Trung Quốc tung đòn tấn công phủ đầu Việt Nam theo kịch bản nào?























Kịch bản nào cho cuộc chiến khi Trung Quốc tung đòn tấn công phủ đầu Việt Nam?

Để chống lại các đòn tấn công phủ đầu của Trung Quốc, Việt Nam chỉ có thể dựa vào hai giải pháp chính. Thứ nhất là lực lượng phòng không mặt đất, gồm các trận địa tên lửa phòng không và pháo mặt đất. Giải pháp thứ hai, chính là phân tán và ẩn núp.

Mời xem Video: Kịch bản nào cho cuộc chiến khi Trung Quốc tung đòn tấn công phủ đầu Việt Nam?


Kết quả hình ảnh cho Bản đồ Trung Quốc tấn công Vn

Lãng - Nguy cơ chiến tranh Việt Trung và chiến lược phòng vệ của Việt Nam

Trước khi các bạn định đọc thiên Lãng luận này các bạn cần lưu ý: (1)Bài viết này rất dài và anh khuyến cáo đừng ai đọc. (2)Nếu đã đọc thì hãy đọc chậm, đọc kỹ và đọc cho hết. Đã đọc rồi thì đừng vội comment, nghĩ thật kỹ rồi hãy comment. Và (3) nếu ai đọc lời cảnh báo này rồi mà còn comment tại sao bài viết quá dài thì sẽ bị anh block thẳng tay không thương tiếc :). Trân trọng! 

Nội dung chính của bài viết này sẽ tập trung vào mối nguy của một cuộc chiến tranh cục bộ tại biển Đông, phạm vi chiến trường giới hạn trong khu vực quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa. Chiến sự cũng sẽ lan rộng đến một loạt các căn cứ không quân và hải quân nằm dọc bờ biển Việt Nam, từ Quảng Ninh kéo dài xuống khu vực duyên hải miền Trung. Đây là cuộc chiến có xác suất lớn nhất và cũng sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng lâu dài nhất đối với bối cảnh địa chính trị khu vực Đông Nam Á, trong đó chịu tác động nặng nhất chính là Việt Nam.

Để nắm được mạch phân tích trong bài viết này, đề nghị các bạn cần đọc kỹ lại các phần phân tích trước trong cùng loạt bài:

Phần 1: Đánh giá mối nguy cơ chiến tranh Việt Trung từ các phân tích lịch sử và văn hóa; các phân tích tổng hợp về tiềm lực quân sự Trung Hoa: https://www.facebook.com/notes/lang...

Phần 2: Phân tích về cuộc chiến tổng lực Việt Trung, giải pháp cho một cuộc chiến tranh hạt nhân. Đây là một bài phân tích có tính loại trừ, tuy nhiên, để đề phòng cho một cơn mưa, người ta vẫn luôn cần mang theo một chiếc áo mưa gấp gọn. Hiểm họa sẽ luôn xảy ra ngay khi bạn không có chuẩn bị gì cho nguy cơ ấy: https://www.facebook.com/notes/lang...

3. Đây là một bài phân tích không nằm trong loạt bài này, nhưng có mối quan hệ tương quan khá chặt chẽ. Hẳn hiện nay có nhiều người vẫn còn ám ảnh về cuộc chiến khốc liệt ba bên Việt - Trung - Campuchia cuối những năm 1970 và kéo dài đến tận năm 1988. Bối cảnh lịch sử và chính trị ở Campuchia hiện nay đã rất khác. Ngày nay, với một chế độ bầu cử tự do, dù vẫn đang nằm dưới sự ngự trị của Hunsen nhưng người Campuchia rất thực dụng và dân trí đang tiến nhanh. Campuchia đang tận dụng rất tốt mâu thuẫn giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam để mặc cả quyền lợi cho mình. Điều đó khiến Campuchia trở nên đáng ghét nhưng cũng chính vì thế mà mối nguy xung đột giữa Campuchia và Việt Nam gần như có thể loại trừ: Khi một dân tộc bắt đầu được nếm mùi tự do và trở nên thực dụng hơn, họ cũng đồng thời biết đâu là giới hạn và khôn ngoan hơn và khó có điều gì khiến họ đủ ngu dốt để bán máu cho dân tộc khác, đất nước khác:

Quay trở lại câu chuyện chính:
Kết quả hình ảnh cho Bản đồ Trung Quốc tấn công Vn

THANH GƯƠM DAMOCLES TREO TRÊN BIỂN ĐÔNG

Hầu hết các hãng thông tấn toàn cầu và nhiều nhà phân tích chính trị đều bày tỏ mối lo ngại lớn về nguy cơ xung đột trên biển đông trong những tháng cuối năm 2015 và đặc biệt là đầu năm 2016. Nỗi lo ngại của họ hoàn toàn có lý khi xét đến mật độ tập hợp các phương tiện chiến tranh của các nước có liên quan trong vùng biển hẹp này đang tăng nhanh và dày đặc tới mức rất đáng sợ. Số tàu ngầm, chiến hạm, máy bay và các phương tiện vũ khí khác được triển khai dày đặc tại các căn cứ bao quanh biển Đông bởi Trung Quốc, Việt Nam, Mỹ, Singapore, Mã lai, Indonesia và Philipin. Và dù ở xa hơn, cả người Nhật, người Ấn và người Úc cũng đều gửi các hạm tàu và máy bay tuần tiễu của mình đến vùng biển này. Nếu chiến tranh là một hệ quả tất yếu của các tranh chấp lãnh thổ bế tắc và sự sẵn sàng của các phương tiện chiến tranh, thì có thể nói các điều kiện cần thiết cho xung đột ở Biển Đông đều đã sẵn sàng.

Có những lý do khiến nhiều người tin chiến tranh chưa thể nổ ra, do tính kết nối quá lớn của các quốc gia khu vực với giao thương quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên nhìn vào lịch sử, mối quan hệ kinh tế tăng mạnh đã chẳng ngăn được cuộc chiến Đức - Anh, và màn trình diễn đơn phương của Putin ở Crimea tiếc thay lại là một ví dụ tham khảo tốt cho Trung Quốc về điều một nước lớn có thể làm trong một cuộc xâm lược có kiểm soát đối với láng giềng. Tất nhiên sức mạnh răn đe của TQ chưa thể bằng Nga, và trong khu vực cũng không có ai giống như Ucraine, khi Việt Nam vốn luôn là một đối thủ đáng gờm, còn Philipin vẫn có hiệp ước an ninh với Mỹ.

Tuy nhiên, nhìn từ nhiều yếu tố, cả về lịch sử lẫn các áp lực hiện tại, có quá nhiều cơ sở để thấy lưỡi gươm Damocles đang treo lơ lửng trên đầu các quốc gia ven biển Đông, mà trực tiếp nhất chính là Việt Nam, cụ thể:

1. Cuộc chiến quyền lực của Tập Cận Bình ở TQ đã chấm dứt. Tập hiện là một tay độc tài có quyền lực tuyệt đối thậm chí vượt xa Đặng Tiểu Bình và bám sát nếu không muốn nói là ngang bằng Mao Trạch Đông. Đây là một tín hiệu không lành với chính Trung Quốc và các nước láng giềng. Đặc tính chung của những quyền lực độc tài là xu hướng dùng bạo lực thay vì thỏa hiệp với các tranh chấp.

2. Kinh tế TQ đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng. Số lượng người mất việc đang tăng rất nhanh, tạo ra những vấn đề lớn về an sinh. Bên cạnh đó, các mâu thuẫn nội tại vốn có trong xã hội TQ vẫn còn nguyên và chỉ chờ một tác nhân dẫn lửa là bùng phát. Tăng trưởng yếu đi khiến các mũi dùi chĩa vào quyền cai trị độc tài của Đảng Cộng Sản TQ mỗi lúc một tăng. Xuất khẩu khủng hoảng ra bên ngoài bằng một cuộc chiến có kiểm soát là một lối thoát cho Tập Cận Bình và ĐCS Trung Quốc. Đây cũng là giải pháp được nhiều triều đại Trung Hoa quen dùng, gồm cả Mao Trạch Đông lẫn Đặng Tiểu Bình, và đối tượng được nếm giải pháp này nhiều lần nhất trong lịch sử, không phải ai khác chính là Việt Nam.

3. Trong nhiều thập niên, Trung Quốc đã thực hiện chiến dịch tuyên truyền và chuẩn bị tâm lý rất kỹ càng cho đại bộ phận dân chúng Trung Quốc về đường lưỡi bò và chủ quyền của Trung Quốc về các quần đảo ở biển Đông. Thế mạnh quân sự vượt trội khiến trên 80% số thanh niên TQ hiện đều rất hung hăng và cho rằng việc dùng sức mạnh để chiếm trọn biển Đông là hoàn toàn hợp lý. Có thể nói, Trung Quốc đã chuẩn bị rất kỹ cho cuộc chiến về mặt tuyên truyền và con người cho cuộc chiến tranh tương lai ở Biển Đông.

4. Các khoản đầu tư hàng trăm tỷ USD mỗi năm vào quân sự khiến TQ có sức mạnh bằng hầu như tất cả các nước châu Á cộng lại. Số lượng máy bay tại các đại quân khu, số khu trục hạm, tuần dương hạm và tàu tên lửa biên chế tại ba hạm đội Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải của Trung Quốc hiện vượt xa quy mô không quân và hải quân của cả Ấn Độ và Nhật Bản cộng lại. Dù các tàu chiến và máy bay TQ có thể thua kém Nhật Bản đôi chút về công nghệ tinh vi, nhưng khoảng cách đang ngày một thu hẹp, và điều quan trọng là số lượng thì TQ vượt xa mọi đối thủ. Nếu chiến tranh là sự so đọ khả năng chấp nhận tổn thất và tiêu hao, thì về mặt này châu Á không ai so được với TQ. Riêng hạm đội Nam Hải và lực lượng không quân đóng tại căn cứ Tam Á, Du Lâm có sức mạnh vượt xa hải quân và không quân của tất cả các nước Đông Nam Á cộng lại, nếu chỉ xét đơn thuần về số lượng trang bị và đơn vị khí tài.

5. Dù bảy đảo nhân tạo tại Trường Sa vẫn chưa hoàn tất, nhưng sự sẵn sàng phục vụ chiến tranh của các căn cứ tại đảo Phú Lâm - Hoàng Sa và các căn cứ tại Du Lâm - Hải Nam khiến Trung Quốc có thể tung một đòn đánh phủ đầu ồ ạt bằng không quân tới các căn cứ ven biển của các nước ven biển Đông, đặc biệt là Việt Nam. Mức đe dọa sẽ ngày một nặng nề khi các phi đạo tại Trường Sa hoàn tất. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc có khả năng uy hiếp nặng nề mọi quốc gia Đông Nam Á, và phần nào loại trừ được nguy cơ bị kiểm soát yết hầu Mallaca từ Mỹ và đồng minh.

6. Giữa năm 2016, vụ kiện của Philipin với Trung Quốc tại Tòa án Trọng tài Thường trực Liên hợp quốc (PCA) sẽ có kết quả rõ ràng. Với sự từ chối tham dự của Trung Quốc và các chứng lý Philipin đã nêu, có tới 99% khả năng TQ sẽ phải nhận một phán quyết bất lợi cho tham vọng độc chiếm biển Đông của họ. Điều này có thể thôi thúc TQ hành động mạo hiểm để tạo sự đã rồi trước một phán quyết bất lợi cho mình.

7. Tình hình căng thẳng tại bán đảo Triều Tiên có thể cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội tuyệt hảo để lợi dụng cho các hành vi xâm lăng có kiểm soát. Nước Nga và châu Âu đang bận rộn với câu chuyện Syria và dòng người di dân. Mỹ cũng buộc phải phân tán nguồn lực của mình để đối phó với các căng thẳng ngày một tăng ở châu Âu và Trung Đông. Bên cạnh đó, lần đầu tiên kể từ năm 1952, Trung Quốc đã bắt tay với Mỹ và đưa ra một lệnh trừng phạt rất nặng nề đối với Triều Tiên. Có thể cho rằng đó là sự trừng phạt của Trung Quốc đối với thái độ nhờn mặt của Kim Jung Un kể từ khi lên nắm quyền tại Bắc Triều Tiên, nhưng cũng có thể lý giải Trung Quốc đang chơi một ván cờ với nhiều mục tiêu. Bằng việc dồn Kim Jung Un đến thế đường cùng, bán đảo Triều Tiên đang nóng hơn bao giờ hết, rất có thể Triều Tiên sẽ phản ứng cực kỳ hung hăng đối với các biện pháp kiểm soát tàu bè ra vào Triều Tiên theo nghị quyết trừng phạt mới. Điều này có thể khiến nổ ra các vụ chạm súng trực tiếp giữa Bắc Triều Tiên với Hàn Quốc và Nhật Bản, những quốc gia thù địch sát sườn. Tình huống này nổ ra sẽ đặt Mỹ và đồng minh Đông Bắc Á trước áp lực cực kỳ căng thẳng vì Triều Tiên sở hữu vũ khí tấn công hạt nhân. Ngoài ra, năm 2016 nước Mỹ đang bước vào mùa bầu cử, mọi sự chú ý đều đang dồn vào cuộc đấu giữa các ứng viên và hai đảng Dân chủ - Cộng hòa, Mỹ sao nhãng rất nhiều các vấn đề quốc tế. Trung Quốc chắc chắn sẽ tận dụng cơ hội này để giải quyết mọi vấn đề đã nêu từ mục (1) đến mục (6) như đã phân tích ở trên. 

Điểm lại lịch sử, tham vọng mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc là vô cùng lớn và nó luôn được mọi triều đại cai trị Trung Quốc nung nấu và kế thừa, dù đó là thời phong kiến hay đến thời cận đại của Tưởng Giới Thạch. Và dù là một đối thủ một mất một còn nhưng Mao Trạch Đông chẳng thấy phiền hà gì khi tiếp thu và phát triển thêm tham vọng bành trướng biển Đông của Tưởng. Đến thời Đặng Tiểu Bình, nó được hiện thực hóa bằng cuộc xâm lăng Hoàng Sa năm 1974, cuộc chiến biên giới khốc liệt với Việt Nam kéo dài từ 1979 đến 1988, và đặc biệt là cuộc xâm lăng chiếm 6 đảo đá tại Trường Sa năm 1988. Trong tất cả các cuộc chiến xâm lược ấy, rất đáng tiếc, nạn nhân luôn là Việt Nam và phần thất trận cũng luôn thuộc về Việt Nam. Ngày nay, Tập Cận Bình đang kế thừa tiếp dã tâm ấy, và Tập đã rất sẵn sàng. Cái còn thiếu chỉ là thời cơ.

Có thể nói Trung Quốc rất giỏi trong việc tận dụng thời cơ. Tây Tạng từng giành được độc lập năm 1913, và họ duy trì được nền độc lập của mình đến năm 1951. Lợi dụng việc toàn thế giới bị hút vào cuộc chiến Triều Tiên 1950 - 1953, dù đã gửi hàng triệu lính đến Triều Tiên, Mao Trạch Đông vẫn âm thầm gửi một đội quân đến Tây Tạng mà không ai kịp nhận ra. Khi nước Mỹ thoát khỏi được cuộc chiến Triều Tiên thì Tây Tạng đã là một câu chuyện đã rồi với Trung Quốc. Năm 1959, sau một cuộc kháng cự bất thành, nền độc lập của Tây Tạng chính thức bị xóa sổ. Quốc gia này đã biến mất trên bản đồ thế giới. Người Tây Tạng đang bị gạt ra bên lề và biến thành thiểu số trên chính quê hương sau các kế hoạch Hán hóa của Bắc Kinh. Ngày nay, họ chỉ còn dám mơ về một quyền tự trị ít ỏi về văn hóa mà cũng chẳng thể đạt tới.

Năm 1974, khi cuộc chiến Nam - Bắc ở Việt Nam đang bước vào chặng xế chiều. Mỹ ký hiệp định Paris và rút khỏi cuộc chơi, miền Nam kiệt quệ vì viện trợ cắt giảm còn miền Bắc đang há miệng mắc quai vì công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng ký ngày 14/09/1958 theo đó thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc (Đây là một vết nhơ lớn nhất trong sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh, năm 1958 đang là lãnh tụ tối cao và đầy quyền lực, ông Hồ không ký, nhưng tất nhiên ông Phạm Văn Đồng chỉ có thể ký công hàm dưới sự cho phép của ông Hồ); Mao Trạch Đông chớp lấy thời cơ ấy đã gửi hạm đội đến Hoàng Sa (Từ 1954 - 1972 khi Mỹ còn sát cánh với VNCH, quyền kiểm soát Hoàng Sa luôn nằm trong tay người Việt và Mao chưa bao giờ dám gửi hạm đội tới đó). Sau nỗ lực kháng cự ngắn ngủi bất thành của Việt Nam Cộng Hòa, lúc đó đã rất suy yếu và đang trên đà bại trận trước Bắc Việt, người Việt mất trọn vẹn Hoàng Sa và chưa nhìn thấy tương lai lúc nào đòi lại được.

Năm 1988 đồng minh duy nhất của Việt Nam là Liên Xô đang sụp đổ, kinh tế Việt Nam khủng hoảng và kiệt quệ sau nhiều năm chiến tranh và cai trị dốt nát của ĐCS, Đặng Tiểu Bình chớp thời cơ gửi hạm đội tới Trường Sa. Hải quân Việt Nam nhận lệnh không nổ súng, dù vô cùng dũng cảm, họ mất một số tàu và 64 thủy binh. Việt Nam cũng đồng thời mất 6 đảo đá chiến lược tại Trường Sa.

Năm 1995, lợi dụng liên minh Mỹ - Philipin suy yếu sau khi người Philipin yêu cầu Mỹ rời căn cứ hải quân Subic từ năm 1992, Trung Quốc gửi bảy tàu đến chiếm đá vành khăn đang nằm dưới sự kiểm soát của Philipin. Quốc gia này bất lực và thấm đòn đau cho sự sai lầm chiến lược của mình.

Năm 2012, Trung Quốc lần đầu tiên thí điểm chiến lược bắp cải để chiếm đoạt bãi đá scaborough do Philipin kiểm soát. Bằng việc sử dụng tàu cá, tàu công vụ chiếm lĩnh vòng trong và tàu quân sự đe dọa vòng ngoài, cuối cùng Trung Quốc kiểm soát được bãi đá này. Bất lực trên thực địa, người Philipin sau đó chọn một hướng đi mà họ ít nhiều đạt được thành công khi kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế.

Tháng 5/2014 Trung Quốc điều giàn khoan Haiyang 981 và hơn 100 tàu chiến vào lãnh hải Việt Nam. Các nguồn lực và sự chú ý của Việt Nam bị hút cạn vào cuộc chiến vòi rồng và đâm húc không cân sức với Trung Quốc (Chính xác thì chỉ có TQ dùng vòi rồng và đâm húc tàu Việt nam, phía Việt Nam chỉ duy trì sự hiện diện và dùng loa phản đối). Trong lúc đó Trung Quốc ồ ạt xây 7 đảo nhân tạo tại các bãi đá đã chiếm từ Việt Nam và Philipin ở Trường Sa, tiến một bước rất dài trong lộ trình xâm lược biển Đông.

Điểm lại tất cả các sự kiện trên, có thể nói Trung Quốc rất giỏi trong việc chớp thời cơ cho các hành vi xâm lấn của mình.

Năm 2016 và các năm kế tiếp, có rất nhiều thời cơ Trung Quốc có thể tận dụng để phục vụ cho dã tâm xâm lược xuyên suốt của họ. Cũng trong vài năm tới đây, nhu cầu xuất khẩu khủng hoảng bằng một cuộc chiến tranh sẽ ngày càng lớn với TQ. Một cuộc chiến có kiểm soát và giành thắng lợi ở Biển Đông, có thể khiến Tập Cận Bình ngồi vững trên ngai vàng thêm ít nhất 10 năm bất chấp các biến động xã hội lớn trong nước do kinh tế suy thoái, và nếu thắng, đương nhiên TQ sẽ bước càng xa trên lộ trình độc chiếm Biển Đông mà họ chưa bao giờ xao nhãng. Có quá nhiều lý do cho chiến tranh và có quá ít lý do để ngăn chặn nó. Đó là thực trạng hiện tại.
Kết quả hình ảnh cho Bản đồ Trung Quốc tấn công Vn

NẾU CÓ XUNG ĐỘT, TRUNG QUỐC SẼ ĐÁNH AI?

Không khó để trả lời, Việt Nam là đối tượng thích hợp nhất. Philipin và Việt Nam đang là những quốc gia đối đầu với TQ mạnh nhất ở Biển Đông, có mâu thuẫn lớn nhất. Tiềm năng quân sự của Philipin không đáng kể, nhưng vùng lãnh thổ tranh chấp giữa Philipin với Trung Quốc tại Trường Sa nằm rất gần Philipin. Nếu Philipin bị buộc ép vào xung đột, quốc gia này có thể gây những tổn hại dai dẳng cho TQ bằng các hoạt động tấn công du kích, dù là vào thương thuyền Trung Quốc hay các tàu quân sự của TQ tại Trường Sa. Trong khi Trung Quốc hầu như không thể tấn công vào các căn cứ trên lãnh thổ đất liền và nội hải của Philipin vì đất nước này được bảo vệ bởi hiệp ước an ninh Mỹ - Phi, và điều đó sẽ kéo trực tiếp Mỹ vào xung đột.

So với Philipin, Việt Nam sẵn sàng cho chiến tranh hơn rất nhiều. Trong nhiều năm qua không quân và hải quân Việt Nam được đầu tư lớn. Hiện nay không quân Việt Nam đã vượt lên đứng đầu Đông Nam Á về số lượng tiêm kích hạng nặng hiện đại. Năng lực tấn công của Hải quân cũng đã có một bước tiến rất dài với việc biên chế 5 tàu ngầm tấn công Kilo và 10 tàu tên lửa thế hệ mới. Ngoài ra, Việt Nam còn có một kho vũ khí lục quân rất hùng hậu, dù tính năng tác chiến có thể thua kém các thế hệ vũ khí gần đây nhưng chúng vẫn có uy lực sát thương ghê gớm và hoàn toàn có thể phát huy hiệu quả khi sử dụng đúng cách. Sự thất trận năm 1974 và 1988, đặc biệt là tình trạng căng thẳng ngày càng leo thang khiến Việt Nam luôn cảnh giác trên biển. Tuy nhiên, so sánh với Trung Quốc, về mọi tiêu chí lực lượng quân sự song phương đều chênh lệch quá xa. Ngoài ra, Viêt Nam hoàn toàn không có một hiệp ước an ninh với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới. Bên cạnh đó, do có biên giới đất liền kề sát, Trung Quốc dễ dàng tập kết quân đe dọa trong trường hợp căng thẳng để răn đe khiến Việt Nam phải tự hạn chế các phản ứng quân sự trả đũa trên biển của mình. Và đặc biệt là, việc người Trung Quốc hiện diện với số lượng cực lớn khắp từ Nam chí Bắc khiến Trung Quốc có lợi thế vượt trội trong việc thu thập các thông tin tình báo về vị trí và hiện trạng của hầu như toàn bộ các căn cứ không quân và hải quân chính của Việt Nam. Điều đó khiến thiệt hại của đòn phủ đầu nếu TQ muốn đánh vào các lực lượng không quân lẫn hải quân của Việt Nam có thể vô cùng lớn.

Do đó, có thể nói Việt Nam là mục tiêu thích hợp nhất của Trung Quốc.

Kết quả hình ảnh cho Bản đồ Trung Quốc tấn công Vn

PHƯƠNG ÁN TẤN CÔNG CỦA TRUNG QUỐC

Khi một cường quốc muốn tìm cớ cho một cuộc chiến tranh, không khó để họ làm điều đó. Cuộc xung đột có thể bắt đầu bằng hành vi bắt bớ gia tăng của tàu chấp pháp Trung Quốc đối với các tàu dân sự, thậm chí cả tàu chấp pháp Việt Nam. Trung Quốc có thể ép Việt Nam vào thế đường cùng bằng cách mở rộng quyền kiểm soát thực tế tới sát mép ngoài của đường lưỡi bò, vốn ăn rất sâu vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của lãnh hãi Việt Nam. Nó thậm chí có thể mang giàn khoan đến cắm sát mép này, hoặc nổ súng trong các cuộc rượt đuổi các tàu chấp pháp hoặc tàu quân sự Việt Nam. Ở thế chủ động gây hấn, Trung Quốc sẽ chuẩn bị rất kỹ các phương tiện nghe nhìn. Ngay khi một tàu Việt Nam bị ép vào thế đường cùng buộc phải nổ súng, Trung Quốc có thể quay lại, họp báo công khai và biến đó thành cái cớ cho cuộc chiến.

Phi đạo tại Trường Sa giờ đã sẵn sàng cho máy bay Trung Quốc cất cánh. Trong những giờ đầu cuộc chiến, Trung Quốc có thể đồn trú trên dưới 50 tiêm kích bom và oanh tạc cơ tại các phi đạo này. Một lực lượng không quân tương tự cũng được đồn trú tại Phú Lâm và các đường băng tại Hoàng Sa. Các lực lượng này, phối hợp với 200 - 300 máy bay tiêm kích và oanh tạc cơ tại Hải Nam sẽ là lực lượng đột kích đánh đòn phủ đầu chủ yếu của Trung Quốc.

Máy bay xuất phát từ Trường Sa sẽ chỉ đánh đòn phủ đầu ồ ạt một chiều, vào các căn cứ không quân và hải quân đồn trú tại Biên Hòa, Nha Trang và khu vực phía Nam. Ngay sau khi kết thúc các đòn đánh phủ đầu, số máy bay này sẽ không hạ cánh tại các phi đạo Trường Sa mà rút về Hoàng Sa và sau đó là Hải Nam để tránh các đòn tấn công trả đũa. Riêng các căn cứ không quân và hải quân khu vực Đà Nẵng và duyên hải miền Trung sẽ được chăm sóc rất kỹ với các đòn đột kích xuất phát từ Hoàng Sa. Cam Ranh sẽ là nơi bị chăm sóc triệt để nhất để đánh tê liệt và vô hiệu hóa căn cứ hải quân trọng yếu và là cảng nhà của hạm đội tàu ngầm Việt Nam. Mất Cam Ranh, sau 1 tháng chiến tranh lực lượng tàu ngầm Việt Nam sẽ bị vô hiệu hóa do không còn được đảm bảo hậu cần.

Lực lượng oanh tạc cơ xuất phát từ Hải Nam, với số lượng từ 200 - 300 máy bay, sẽ tấn công ồ ạt vào các căn cứ hải quân và không quân nằm ven biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh. Các đòn tấn công này nếu đạt được mục đích ban đầu sẽ gây thiệt hại cực lớn cho các lực lượng không quân, hải quân và đặc biệt là có khả năng hủy diệt các căn cứ ven biển của Việt Nam. Mức tàn phá của các đòn đánh này được đảm bảo thêm vì sự hiện diện cực kỳ đông đảo của người Trung Quốc ở Việt Nam, khiến họ có lợi thế định vị bằng mắt người trên thực địa thay vì vệ tinh quan sát.

Trong những giờ đầu tham chiến, các chiến hạm lớn của Trung Quốc sẽ được giữ yên trong căn cứ, trong lúc tàu ngầm sẽ được huy động để phong tỏa các cảng biển và đối phó lực lượng tàu ngầm của Việt Nam. Nếu Việt Nam bị động trước các đòn tấn công phủ đầu, nhiều khả năng các tàu ngầm sẽ bị tiêu diệt ngay tại cảng hoặc bị tiêu diệt ngay khi rời căn cứ bởi tầu ngầm Trung Quốc. Các khu trục hạm và tàu tên lửa cỡ nhỏ Trung Quốc sẽ được sử dụng để loại khỏi vòng chiến đấu các đảo nhỏ và Việt Nam đang đồn trú ở Trường Sa.

Do đây là cuộc chiến cục bộ, Trung Quốc sẽ giới hạn sự tham gia của lực lượng tên lửa chiến lược. Trung Quốc có thể tấn công các căn cứ không quân sâu trong nội địa Việt Nam bằng tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình, số lượng nằm trong phạm vi kiểm soát để gây thiệt hại trong những giờ đầu và tránh chiến tranh lan quá rộng. 

Để gây sức ép khiến Việt Nam kiềm chế, trên bộ Trung Quốc sẽ huy động 20 - 25 sư đoàn áp sát biên giới. Có thể sẽ có các đòn tấn công khiêu khích tại đường biên hoặc các vụ bắn pháo qua biên giới để gây đe dọa. Tuy nhiên, chỉ trừ trong tình huống muốn chiến tranh tổng lực, lục quân Trung Quốc sẽ không ồ ạt tấn công.

Trong trường hợp các mục tiêu quân sự của TQ đạt được, Việt Nam có thể bị tổn thất từ 30 - 50% lực lượng không quân, 50 - 70% lực lượng hải quân và mất tất cả các căn cứ hải quân ven biển. Điều này sẽ khiến năng lực trả đũa của Việt Nam hoàn toàn bị bẻ gẫy.

Trong giai đoạn hai của cuộc chiến, Trung Quốc sẽ chiếm toàn bộ các đảo Việt Nam kiểm soát tại Trường Sa. Nó sẽ củng cố các căn cứ, duy trì lực lượng không quân và hải quân phù hợp tại Hoàng Sa, Trường Sa, kết hợp với lực lượng không quân chủ lực tại Hải Nam để thường xuyên phong tỏa mọi hoạt động hàng hải và hàng không của Việt Nam từ vịnh Bắc Bộ kéo dài tới TP Hồ Chí Minh. Mục tiêu của giai đoạn này là săn lùng và tiêu diệt những gì còn lại của hải quân Việt Nam, bẽ gãy các đòn đột đích của lực lượng không quân còn lại và đặc biệt là hủy diệt giao lưu kinh tế hàng hải Bắc - Nam của Việt Nam. Mục đích chính của giai đoạn này, là khiến Việt Nam kiệt quệ, lâm vào khủng hoảng và buộc phải ngồi vào bàn đàm phán với các điều kiện do Trung Quốc áp đặt. Nếu thành công, Trung Quốc sẽ loại Việt Nam ra khỏi Trường Sa và hiện thực hóa được đường lưỡi bò trên thực tế.


VIỆT NAM CÓ THỂ LÀM GÌ?

Để chống lại các đòn tấn công phủ đầu của Trung Quốc, Việt Nam chỉ có thể dựa vào hai giải pháp chính. Thứ nhất là lực lượng phòng không mặt đất, gồm các trận địa tên lửa phòng không và pháo mặt đất. Giải pháp thứ hai, chính là phân tán và ẩn núp. Việt Nam hiện có trên dưới 40 máy bay tiêm kích đa năng thế hệ 4 và 4+ Su27/Su30 khá hiện đại, có thể gây thiệt hại cho hải quân và không quân Trung Quốc. Tuy nhiên số lượng này rất ít ỏi nếu so sánh với không quân Trung Quốc. Chìa khóa thắng bại chiến tranh của Việt Nam nằm ở việc có bảo tồn được số khí tài này cho cuộc chiến du kích lâu dài hay không. Vì vậy, mấu chốt của vấn đề là Việt Nam phải bảo tồn số phương tiện chiến tranh này, và tránh đưa chúng nghênh chiến trong giai đoạn đầu của chiến tranh, mà giành chúng cho cuộc chiến du kích trường kỳ sau này.

Giai đoạn đầu cuộc chiến, do đó Việt Nam chỉ có thể dựa vào lực lượng phòng không mặt đất, đưa một số lượng ít tiêm kích đời cũ Mig21 và Su22, lợi dụng lợi thế địa hình và các đài dẫn đường mặt đất để đánh tập kích quấy rối các lực lượng không quân tấn công Trung Quốc, còn lại toàn bộ các lực lượng không quân và hải quân hiện đại đều phải phân tán ẩn núp để bảo tồn sinh lực. Nếu Việt Nam giữ được 70 - 80% lực lượng không quân và hải quân của mình sau các đòn tấn công phủ đầu, có thể nói, đó sẽ là yếu tố chiến lược quyết định kết quả cuộc chiến. Việt Nam hiện có hai tiểu đoàn tên lửa S300 PMU tối tân nhưng cơ số đạn chỉ vài chục quả. Số tên lửa này chỉ có thể dùng để bảo vệ Bộ tổng tư lệnh trong tình huống chiến tranh chứ không thể đem ra ứng chiến. 

Để bảo tồn sinh lực, Việt Nam cần làm tốt công tác thu thập tình báo, theo dõi mọi hoạt động chuyển quân và tập kết khí tài của Trung Quốc, khi có dấu hiện chiến tranh, cần phân tán và sơ tán khí tài, đặc biệt là các máy bay thế hệ mới và các tàu chiến chủ lực, cần sơ tán xa vào các căn cứ khu vực phía Nam. Ngoài ra, phải vận dụng lực lượng an ninh tự vệ để loại bỏ lực lượng thám báo và tình báo mặt đất của Trung Quốc. Đây không phải là chuyện dễ dàng, và Việt Nam phải chuẩn bị cho nó ngay từ bây giờ. Nếu cứ tiếp tục để người Trung Quốc tràn ngập mất kiểm soát, từ lao động cho đến định cư chui hoặc mua bán tự do như hiện nay, mọi việc sẽ là quá muộn.

Lực lượng tàu ngầm là lực lượng chiến lược, có uy lực răn đe rất mạnh nhưng cũng rất dễ tổn thương và vô hiệu hóa khi bị loại mất cảng nhà. Việt Nam cần xây dựng các căn cứ tiếp vận lâm thời cho tàu ngầm ở khu vực phía Nam, thậm chí xa về mạn Phú Quốc, cần tận dụng các vịnh kín ven bờ được che chở bởi các đảo để làm các chỗ trú ẩn kín cho tàu ngầm và chiến hạm, đồng thời đảm bảo được năng lực tiếp vận hậu cần cho chúng trong giai đoạn sau của chiến tranh khi tất cả các căn cứ hải quân cố định chính đã bị tiêu diệt.

Do lực lượng phòng không mặt đất của Việt Nam hiện vẫn dựa chủ yếu vào các dàn tên lửa S125 (Sam3) nâng cấp và các trận địa cao xạ. Số khí tài này có từ thời chiến tranh Việt Nam và đã lạc hậu rất nhiều về mặt kỹ thuật, đặc biệt khi đối phương sở hữu số lượng lớn các chiến đấu cơ thế hệ 4, do đó có thể nói các căn cứ mặt đất và hải quân ven biển chắc chắn sẽ bị Trung Quốc hủy diệt. Tuy nhiên, với kinh nghiệm tổ chức tốt các trận địa phối hợp và các trạm rada cảnh giới dày đặc, Việt Nam vẫn có thể bắn hạ từ 20 - 50 máy bay Trung Quốc trong giai đoạn tấn công phủ đầu. Đổi lấy chiến quả này là một số lớn các trận địa tên lửa bị tiêu diệt và sự hủy diệt của các mục tiêu cố định. Việt Nam cần tính toán để đảm bảo các lực lượng phòng không mặt đất còn duy trì được ít nhất 60% lực lượng cho cuộc chiến lâu dài sau này.

Các đảo tại Trường Sa sẽ bị cô lập ngay từ những giờ đầu. Việc giữ hay chi viện cho các đảo này là bất khả thi và sự tồn tại của chúng đành tùy thuộc vào lực lượng đồn trú tại các đảo. Tất nhiên, hy vọng giữ được chúng là rất mong manh.

Trên biên giới phía Bắc, ngay khi Trung Quốc tập kết quân, Việt Nam cần thiết lập vành đai phòng thủ với trên dưới 15 sư đoàn, đồng thời tổng động viên để có từ 2 - 5 triệu người sẵn sàng bổ sung cho lực lượng phòng thủ. Nhiệm vụ của lục quân Việt Nam là phòng thủ chặt và sẵn sàng cho mọi tình huống leo thang.

Trong giai đoạn hai của cuộc chiến, với số khí tài còn bảo tồn được, chiến lược chủ yếu của Việt Nam là đánh quấy rối và du kích với các lực lượng không quân và hải quân Trung Quốc đồn trú tại Hoàng Sa, Trường Sa và mọi tàu thuyền mang cờ hiệu Trung Quốc di chuyển ra ngoài Mallaca. Mục tiêu chính của Việt Nam trong giai đoạn này, là phải loại được khỏi vòng chiến đấu các phi đạo tại Trường Sa và Phú Lâm - Hoàng Sa. Việc này hoàn toàn có thể làm được nếu Việt Nam tổ chức các đòn đột kích chớp nhoáng bằng không quân bay đêm với độ cao thấp từ các căn cứ không quân dã chiến nằm dọc lãnh thổ từ Thanh Hóa kéo dọc duyên hải miền Trung cho đến phía Nam. Các tàu tên lửa cỡ nhỏ của hải quân cũng có thể được vận dụng phối hợp cho các đòn tấn công từ các căn cứ ẩn núp ở các vịnh biển ven bờ. Việt Nam cũng có thể sử dụng tàu ngầm cỡ nhỏ để chở các đội đặc công cảm tử tiếp cận và tấn công phá hoại các phi đạo và căn cứ Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong đêm. Do các căn cứ này đều có tọa độ cố định, nằm rất gần lãnh thổ Việt Nam (từ 10 - 30 phút bay tính từ bờ biển Việt Nam), nên nếu tổ chức tốt, Việt Nam có thể loại chúng khỏi vòng chiến. Việt Nam có thể tái tổ chức các đòn đột kích bất ngờ dạng này, để ngăn ngừa Trung Quốc khôi phục chúng trong suốt giai đoạn sau của cuộc chiến. Việt Nam có một số tên lửa scud B,C mua từ Bắc Hàn, tuy nhiên đã có tuổi đời trên dưới 25 năm và độ sai số tính bằng km (tương tự tên lửa scud Saddam dùng trong chiến tranh vùng vịnh 1991) do đó khó có thể dùng cho cuộc chiến diệt các phi đạo. Số tên lửa đối đất hiện đại Klub gắn kèm các tàu ngầm Kilo có thể là giải pháp hiệu quả để đối phó các mục tiêu này. Tuy nhiên đầu nổ của các tên lửa này cũng chỉ tương đương bom, hơn nữa số lượng rất ít chỉ vài chục quả, chỉ có thể dùng để răn đe, đe dọa diệt các đầu não hoặc các mục tiêu giá trị cao của TQ tại căn cứ Du Lâm - Hải Nam nhằm tránh TQ leo thang chiến tranh, chứ không thể phung phí cho cuộc chiến lâu dài tại các đảo. Trong trường hợp này, Việt Nam sẽ giành lại quyền kiểm soát không phận từ khu vực Đà Nẵng trở vào và Trung Quốc chỉ có thể tham chiến bằng lực lượng không quân và hải quân xuất phát từ căn cứ Du Lâm, Tam Á tại Hải Nam.

Lực lượng tàu ngầm chiến lược của Việt Nam có thể được sử dụng để răn đe chiến lược với các tàu có giá trị cao của Trung Quốc tại Tam Á và các vùng biển phụ cận Hoàng Sa, nhằm gây rối loạn cho các kế hoạch chuyển quân hoặc tiếp vận bằng đường hàng hải. Trong tình huống này, Việt Nam sẽ có thể giành lại quyền kiểm soát các đảo tại Trường Sa, khi cô lập chúng khỏi lực lượng tiếp vận phải trải dài trên 1000 km tính từ Hải Nam, trong bối cảnh chi viện không quân của TQ sẽ rất hạn chế khi các phi đạo tại Hoàng Sa bị loại bỏ.

Cuộc chiến chuyển sang một cuộc chiến tiêu hao. Các căn cứ của Việt Nam từ Quảng Ninh tới Thanh Hóa sẽ vẫn bị tấn công gây thiệt hại thường xuyên bởi không quân Trung Quốc. Tuy nhiên Việt Nam vẫn có thể tung ra các đòn đột kích chớp nhoáng bằng tiêm kích bom su22 và các tàu hải quân cỡ nhỏ để ngăn chặn và làm rối loạn khả năng thâm nhập của hạm đội Trung Quốc. Ngược lại, từ Đà Nẵng trở vào Nam, sau khi giành lại quyền kiểm soát bầu trời, Việt Nam có lợi thế lớn để thực hiện cuộc chiến tiêu hao với Trung Quốc. Các lực lượng hải quân từ các căn cứ phía Nam có thể phong tỏa vùng biển, giải thủy lôi trên những tuyến hàng hải chính dẫn tới Trung Quốc từ Mallaca, trong lúc lực lượng không quân có thể sử dụng để đánh chìm các tàu chở dầu hoặc các tàu chuyên chở tài nguyên chiến lược đến Trung Quốc. Nếu bảo tồn tốt lực lượng và đánh du kích lâu dài, Việt Nam sẽ khiến Trung Quốc tổn hại nặng nề sau 6 tháng chiến tranh.

Nếu cuộc chiến đi theo hướng này, hai bên sẽ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán. Việt Nam có thể giành lại quyền kiểm soát các đảo Trung Quốc đã chiếm tại Trường Sa, ngược lại, Trung Quốc sẽ lấn rất sâu vào khu vực lãnh hải ngoài vịnh Bắc Bộ kéo dài tới Hoàng Sa. Trong mọi tình huống, hai phía khó có thể quay lại thời kỳ hòa hoãn vì thiếu niềm tin và luôn phải đề phòng lẫn nhau.

Tổn thất chiến tranh của Việt Nam trong mọi trường hợp đều nặng hơn Trung Quốc. Các căn cứ không quân và hải quân bị tàn phá có hệ thống, các cảng biển khu vực phía bắc sẽ bị hủy hoại, hoạt động kinh tế Bắc Nam chịu nhiều ảnh hưởng. Ngược lại, Trung quốc sẽ bị tổn thất nặng tại phía Nam, và có thể mất quyền kiểm soát các căn cứ đã xây dựng tại Trường Sa do chúng nằm cách quá xa đất liền và quá gần đối thủ.

Diễn biến chiến tranh sẽ đi theo dự tính của Trung Quốc hay Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào việc bên nào sẽ chuẩn bị và áp dụng được lối chơi của mình lên đối phương. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người giữa hai bên và đây là điều hầu như không thể đoán định trước.

ĐẦU TƯ QUỐC PHÒNG CHUẨN BỊ CHO NGUY CƠ CHIẾN TRANH 

Thời gian qua Việt Nam đã chi nhiều tỷ USD để mua sắm máy bay, tàu ngầm và đóng mới chiến hạm. Số khí tài này đã tăng nhanh cấp thời năng lực chiến tranh của Việt Nam, nhưng nó đều là các sản phẩm đi mua, số lượng rất ít, thậm chí số đạn tên lửa và bom dùng kèm với chúng cũng không nhiều và phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung nhập khẩu. Việt Nam không thể đánh lâu dài nếu đặt cược vào nguồn cung vũ khí từ Nga do các yếu tố chính trị khó dự đoán. Đây là điều đầu tiên cần tính toán tới trong đầu tư quốc phòng.

Đa dạng hóa nguồn cung, do đó là một tất yếu. Có lẽ ngay từ bây giờ, Việt Nam nên tiếp cận với các nguồn cung vũ khí từ Nhật Bản. Hai loại vũ khí Việt Nam có thể nhắm tới từ Nhật, là tàu tên lửa cỡ nhỏ và tên lửa diệt hạm đi kèm, cả các hệ thống mặt đất lẫn trên tàu chiến.

Hải quân Nhật hiện sở hữu lớp tàu tên lửa Hayabusa, lượng choán nước chỉ 200 tấn nhưng vũ trang cực mạnh và tính năng cực kỳ tiên tiến. Nó có kích cỡ nhỏ và thiết kế tàng hình, rất thích hợp ẩn núp và thực hiện các đòn đột kích bất ngờ từ các vịnh kín ven biển Việt Nam. Tốc độ tối đa của Hayabusa lên tới 46 hải lý/h kèm theo 04 tên lửa diệt hạm SSM -1B, tầm bắn 150 km có khả năng tiêu diệt các tàu trọng tải tới 8000 tấn chỉ bằng một đầu đạn. Có thể nói đây là một loại vũ khí rất thích hợp với Việt Nam nếu phải đánh nhau với hải quân Trung Quốc. Và điều quan trọng nhất là nguồn cung vũ khí từ Nhật sẽ ổn định và đáng tin cậy hơn Nga nhiều trong tình huống chiến tranh. (Với tình hình chính trị Nga hiện nay, trong tình huống chiến tranh cần tính tới việc TQ có thể bỏ ra 10 tỷ USD từ quỹ dự trữ trên 3000 tỷ USD để hối lộ Nga, xác suất cao là Nga sẽ cắt nguồn cung vũ khí cho Việt Nam nếu trường hợp này diễn ra)

Vũ khí Nhật có nhược điểm là giá thành cao do Nhật chưa từng xuất khẩu và do đó chi phí duy trì dây truyền sản xuất rất lớn. Tuy nhiên việc Nhật viện trợ cho Việt Nam tới 30 tỷ USD trong những năm qua là một cơ sở cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể tìm kiếm một khoản tín dụng từ 2 - 5 tỷ USD nếu chuyển hướng sang nguồn cung cấp quốc phòng của Nhật. Điều này phù hợp với lợi ích chiến lược của Việt Nam và tất nhiên là cả Nhật Bản nữa. Nó cần được xúc tiến ngay từ bây giờ.

Tuy nhiên mọi giải pháp mua sắm đều không phải là giải pháp căn cơ. Năng lực chiến tranh lâu dài chủ yếu của một quốc gia phải dựa vào năng lực quốc phòng nội địa. Thời gian qua báo chí loan tin Việt Nam đã tự sản xuất được dòng tên lửa diệt hạm KCT15 tương tự KH35-UranE của Nga trên cơ sở tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ Nga. Đây là một tin tốt, nhưng có lẽ vẫn rất đáng ngờ. Điều chắc chắn là hầu hết các bộ phận cấu thành trọng yếu nhất của tên lửa này, Việt Nam vẫn phải nhập từ Nga, ví dụ các thiết bị điện tử, cảm biến, radar dẫn bắn ... Do đó ngay cả nếu Việt Nam tự sản xuất hoàn thiện được trong nước, thì nó vẫn cứ lệ thuộc vào nguồn cung từ Nga. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu ngay từ lúc này.

Một loại vũ khí có từ thế chiến thứ nhất nhưng vô cùng hiệu quả là thủy lôi. Do Trung Quốc có nhiều hạm tàu giá trị cao và lệ thuộc cực lớn vào thương mại đường biển. Việc Việt Nam sản xuất và sử dụng ồ ạt thủy lôi sẽ là một cách có chi phí rẻ nhất và tổn thất ít nhất để làm rối loạn dòng thương mại và cả hoạt động quân sự của Trung Quốc trên biển. Đây là một điều cần tính toán rất kỹ ngay từ bây giờ. Cần nghiên cứu sản xuất các loại thủy lôi để có thể giải được bằng thậm chí tàu cá.

Do khoảng cách Việt Nam - Trung Quốc rất gần, Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát trên không nên phương tiện chiến tranh hiệu quả nhất để đánh quỵ hải quân Trung Quốc là tàu ngầm. Tàu kilo của Việt Nam có sức chiến đấu mạnh, tính răn đe lớn nhưng cũng dễ tổn thương và nếu tổn thất thì sẽ không thể bù đắp được. Việt Nam cần tính toán tới việc tự sản xuất các tàu ngầm cỡ nhỏ, với chi phí thấp, trang bị loại vũ khí như ngư lôi tầm xa có thể giúp xoay chuyển cán cân chiến tranh giữa Việt Nam với Trung Quốc. Từ các hoạt động sản xuất tàu ngầm tự phát của ông Phan Bội Trân hay ông Nguyễn Quốc Hòa, với giá thành rất rẻ, cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được các tàu ngầm cỡ nhỏ, số lượng lớn. Các tàu ngầm này có thể giúp Việt Nam phong tỏa các căn cứ hải quân Trung Quốc tại Hải Nam bằng các đòn đột kích hoặc phục kích ban đêm. Chúng cũng có thể làm tê liệt mọi hoạt động chi viện cho các căn cứ của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Và điều quan trọng nhất, là các tàu ngầm này có thể hoạt động mà không cần căn cứ. Nó thậm chí có thể tiếp vận dễ dàng bằng các tàu cá nhỏ, khác với kilo cần đến những căn cứ tốn kém, dễ bị phát hiện và dễ tổn thương. Điều quan trọng là sự tổn thất của các tàu ngầm loại này là chấp nhận được với Việt Nam, trong khi đó chúng lại có khả năng gây phiền toái lớn cho những con tàu có giá trị rất cao của hải quân Trung Quốc.

CHUẨN BỊ MẶT TRẬN VỀ NGOẠI GIAO.

Trước khi chiếm Crimea, Putin vô cùng tự tin là vũ khí khí đốt của mình sẽ rất khó thay thế với châu Âu, và nước Nga do đó rất khó có thể bị châu Âu cô lập. Quả thực các nước châu Âu do Đức dẫn đầu đã vô cùng khó khăn khi đưa ra các quyết định trừng phạt kinh tế Nga, thậm chí là vô cùng miễn cưỡng. Nhưng Châu Âu hùng mạnh hơn người ta nghĩ và năng lực thích nghi của các cơ chế thị trường ở Châu Âu lớn vượt mọi hình dung. Đến nay đã hơn 2 năm Nga bị cô lập khỏi châu Âu và Châu Âu thì đã hoàn toàn thích nghi sau cú sốc ban đầu. Trong khi đó nước Nga kiệt quệ.

Việt Nam hiện nay có quan hệ kinh tế và chính trị rất tốt với phương Tây, quan hệ với Mỹ cũng nồng ấm hơn bất cứ thời điểm nào trong quá khứ. Việt Nam cũng đã gia nhập TPP, về bản chất chính là một dạng Nato kinh tế do Mỹ dẫn đầu nhằm loại Trung Quốc khỏi các luật chơi thương mại. Trong trường hợp bị Trung Quốc lôi vào một cuộc chiến, Việt Nam cần nỗ lực bằng mọi giá để đạt được các trợ giúp về ngoại giao, kinh tế và pháp lý từ các nước châu Âu. Trong khi đó, các nước như Mỹ, Nhật và Ấn Độ, vì nhiều lý do chiến lược thiết thực hơn, có thể giúp Việt Nam nhiều hơn về phương tiện chiến tranh. Trong mọi trường hợp, nguồn cung vũ khí từ Nhật và Ấn Độ cần được tính toán tới, đặc biệt là từ Nhật Bản, vì đó sẽ là nguồn cung có thể tin cậy được trong trường hợp có chiến tranh với Trung Quốc.

Sự tồn tại của Campuchia, Thái Lan và phần nào đó là Lào đã khiến Trung Quốc xé nát hoàn toàn sự đoàn kết của ASEAN. Tính đến nay, sự tồn tại của ASEAN đem lại rất ít lợi ích thực tế cho Việt Nam, cả về kinh tế, chính trị lẫn thương mại. Việt Nam hầu như nhập siêu từ hầu hết các nước Asean nhóm trên, cơ cấu hàng hóa rất tương đồng và bị cạnh tranh mạnh, thậm chí ngay trên sân nhà. Các hiệp định kinh tế ký với tư cách cộng đồng ASEAN với các nước khác trên thực tế hầu như đã được thay thế bởi các hiệp định thương mại song phương ký trực tiếp giữa Việt Nam với các nước đó, ví dụ BTA với Mỹ, FTA với EU, gần đây nhất là FTA với Hàn Quốc và các thỏa thuận thương mại với Nhật Bản - Đó đều là những đối tác kinh tế và đầu tư lớn nhất và quan trọng nhất của Việt Nam. Với phần còn lại của thế giới, hoạt động thương mại của Việt Nam được điều chỉnh trong khuôn khổ WTO. Có thể nói, cơ chế ASEAN hiện nay có rất ít giá trị đối với Việt Nam, thậm chí các hiệp định thương mại ký giữa Trung Quốc và ASEAN đang gây hại cho Việt Nam, vì Việt Nam là nước lớn duy nhất trong ASEAN có chung biên giới với Trung Quốc, các nước khác thì không. Do đó nhiều điều khoản vô hại với họ nhưng gây tổn hại nặng cho Việt Nam.

Trong nhiều năm qua Việt Nam và nhiều nước Asean như Singapore, Indonesia, Malaysia và Philipin cố gắng sử dụng cơ chế đống thuận Asean để đàm phán giải quyết biển Đông với Trung Quốc nhưng đã bị Trung Quốc dùng con cờ Campuchia, Thái Lan và Lào phá nát. Campuchia thậm chí còn lợi dụng điều này để thu về các khoản viện trợ và đầu tư béo bở từ Trung Quốc. Campuchia làm vậy chẳng có gì sai, họ phải vì lợi ích của mình. Nhưng việc Việt Nam cứ để chuyện đó diễn ra thì lỗi thuộc về Việt Nam.

Có lẽ Việt Nam cần ngồi lại với Philipin, Indonesia, Singapore và Malaysia để bàn tới việc thiết lập một cộng đồng kinh tế 5 nước, lấy tên là Cộng đồng kinh tế vành đai biển đông chẳng hạn. Ít nhiều tầm nhìn giữa Việt Nam và các nước này đối với các vấn đề chung trong khu vực đều có nhiều điểm chung và chia sẻ được nhu cầu duy trì hòa bình và hiện trạng tại biển Đông. Và Việt Nam cần tính tới việc rút khỏi Asean, hoặc nếu không thì cũng đình chỉ các hiệp định thương mại gây hại cho mình từ asean, đồng thời chấm dứt việc trông chờ vào các tuyên bố chung asean trong câu chuyện biển đông. Điều đó sẽ có tác dụng cảnh tỉnh các quốc gia như Campuchia, vốn được lợi nhiều khi tham gia vào khối, và thậm chí là vô hiệu hóa luôn quân cờ Trung Quốc tốn sức đầu tư này.

Mỹ là cường quốc mạnh nhất hoàn cầu. Nó vẫn luôn có nhu cầu làm bá chủ. Nước Mỹ chinh phục thế giới bằng thương mại, văn hóa và quyền lực mềm. Trên thực tế Mỹ không có tham vọng về lãnh thổ. Nó từng trả độc lập vô điều kiện cho Philipin ngay khi kết thúc thế chiến hai. Mỹ cũng không chiếm của Nhật Bản hay của Đức, những quốc gia bại trận, dù chỉ một mẩu đất. Nước Mỹ tuy yếu đi nhưng vẫn vô cùng hùng mạnh. Dù thế nó có quá nhiều mối bận tâm khi can thiệp ở mọi nơi trên thế giới. Các vấn đề Ucraina, Syria, Châu Âu và Triều Tiên đều khiến Mỹ bị phân tán và chia nhỏ nguồn lực. Do đó những thứ Mỹ còn để dốc vào biển Đông nếu nó muốn cũng không hề nhiều.

Mỹ chắc chắn không bao giờ đi đánh nhau thay cho ai. Nó chỉ đánh vì chính nó. Mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc không đủ lớn để cấu thành chiến tranh nếu Trung Quốc chưa tấn công trực tiếp Nhật Bản hay Philipin. Do đó trông đợi vào Mỹ là một sự sai lầm, nhưng nếu không trông chờ vào nó thì lại là một sai lầm còn lớn hơn. Mỹ có thể dẫn đầu một cuộc chiến cấm vận một phần của phương Tây với Trung Quốc nếu Trung Quốc chủ động xâm lược láng giềng. Mức độ cấm vận có thể giống như những gì phương Tây đã làm với Nga: tăng dần theo thời gian và theo mức độ thích ứng của các cơ chế thị trường Âu châu. Tất nhiên Trung Quốc có thể tự tin rằng điều đó không thể xảy ra vì Trung Quốc đang là nhà cung ứng hàng hóa lớn nhất thế giới, cũng giống như Putin từng tự tin rằng Nga không thể bị cầm vận kéo dài, thậm chí bị từ chối mua khí đốt vì Nga là nhà cung cấp khí đốt lớn nhất cho châu Âu. Kinh tế thị trường phương tây có khả năng thích nghi tuyệt vời. Chỉ cần có đủ thời gian, việc cấm vận một phần tiến tới toàn phần Trung Quốc là điều không phải Mỹ và đồng minh không làm được. Mỹ có nhu cầu làm việc này, và nó có thể ảnh hưởng tới các đồng minh đã gắn kết rất lâu dưới cái bóng của nước Mỹ. 

Trong mọi tình huống, Việt Nam cần thúc đẩy mọi nỗ lực ngoại giao để tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nước trên thế giới, dù chỉ là về tinh thần nếu Trung Quốc tấn công.

KẾT LUẬN:

Một cuộc chiến cục bộ tại Biển Đông với Trung Quốc, Việt Nam có thể bại tan tác và mất tất cả những gì còn lại nếu để Trung Quốc áp đặt luật chơi. Tuy nhiên nếu có chuẩn bị tốt và đánh theo cách của mình thì Việt Nam hoàn toàn có thể lật lại thế cờ.

Việt Nam sẽ chịu thiệt hại lớn trong mọi trường hợp, nhưng nếu thắng, nó sẽ giữ được Trường Sa, kiểm soát được vùng hải phận phía Nam và duy trì được chủ quyền với hải phận phía Bắc. Điều cốt tử là Việt Nam sẽ thoát khỏi bóng ma kinh tế Trung Quốc. Nó sẽ gắn kết chặt hơn với Mỹ, Nhật, Châu Âu, vốn là những đối tác Việt Nam có thể buôn bán thực sự bình thường, chứ không phải buôn bán với một đối tác luôn có động cơ phá hoại như Trung Quốc. Cái giá phải trả của Việt Nam là lớn, nhưng tương lai đất nước sẽ sáng sủa hơn rất nhiều. Tất nhiên, với điều kiện Việt Nam phải trụ được trong cuộc chiến cục bộ ấy chứ không phải là thất bại.

Tuy nhiên cách tốt nhất để thắng một cuộc chiến tranh là ngăn ngừa nó xảy ra. Vì thế thay vì việc ngồi chờ để đợi đến lúc Trung Quốc chọn một thời cơ thích hợp đánh Việt Nam, chúng ta cần tìm mọi cách để Trung Quốc không có cái thời cơ ấy. Điều tốt nhất có thể làm là củng cố năng lực quốc phòng ngày một mạnh, thắt chặt các mối quan hệ kinh tế với các đối tác tốt, kiểm soát và loại trừ sự thâm nhập và tràn ngập lãnh thổ phi pháp của công nhân và thương nhân Trung Quốc mà đi kèm theo đó chắc chắn là vô số nhân viên tình báo. Chuẩn bị mọi phương án để bảo tồn lực lượng trước các đòn tất công bất ngờ, bảo mật các căn cứ... Để khiến Trung Quốc nhận thức rõ nó không thể đánh Việt Nam, và nếu đánh sẽ phải bước vào một cuộc chiến không có đường ra. Giải pháp bền vững nhất thì chính là việc thay đổi thể chế, thúc đẩy dân trí, xây dựng xã hội dân chủ tự do để phát huy tối đa tiềm năng con người, biến Việt Nam thành một quốc gia văn minh về văn hóa, phồn thịnh về kinh tế và mạnh mẽ về quốc phòng, gia nhập và hòa nhập được với các nước phát triển trên thế giới. Tất nhiên điều này đòi hỏi lộ trình thời gian không hề ngắn. Trước mắt, việc dân chủ hóa đất nước theo con đường Myanmar đang đi là cách thức phù hợp nhất với chế độ chính trị và đặc điểm xã hội hiện tại ở Việt Nam. Đó mới chính là thượng sách cho nguy cơ xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc.

© Lãng

VNTB- Ông Đinh La Thăng sẽ bị ‘điều tra làm rõ’ ngay trước Hội nghị trung ương 6?

Thiền Lâm
Cali Today
Vietnam – Cali Today News – “Dây thòng lọng” đã thêm một nút thắt quanh cổ ông Đinh La Thăng – người đã bị bật khỏi ghế ủy viên bộ chính trị và giờ đây chỉ còn mang thân phận mong manh một ủy viên trung ương đảng tại “lồng nhốt quyền lực” Ban Kinh tế trung ương.
Ngày 29/9/2017, Tòa án nhân dân Hà Nội đã chính thức tuyên án chung thân đối với Hà Văn Thắm – nguyên Chủ tịch HĐQT OceanBank, và tử hình đối với Nguyễn Xuân Sơn – nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia (PVN).
Hai bản án được xem là nghiêm khắc trên cũng chính thức đóng lại luồng dư luận cho rằng đề nghị trước đó của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về hai mức án chung thân cho Hà Văn Thắm và tử hình cho Nguyễn Xuân Sơn chỉ là “giơ cao đánh khẽ”.
Chi tiết móc xích trực tiếp đối với ông Đinh La Thăng là trong phiên tòa trên, Hội đồng xét xử đã kiến nghị cơ quan điều tra làm rõ trách nhiệm của những người những người đề xuất vốn góp, những người liên quan đến việc chỉ đạo gửi tiền của PVN và các tổng công ty, công ty con vào Oceanbank dẫn đến làm cho PVN bị mất trắng 800 tỉ đồng.
Nửa tháng trước, vào ngày 14/9/2017, một tín hiệu “bắt” hướng đến Đinh La Thăng đã phát ra khá rõ trong phiên tòa xét xử đại án OceanBank. Tại phiên tòa này, luật sư Nguyễn Minh Tâm – người bào chữa cho nhân vật Nguyễn Xuân Sơn – đã bất ngờ tung ra văn bản do ông Đinh La Thăng ký khi đang là Chủ tịch Hội đồng thành viên PVN, với nội dung yêu cầu các đơn vị thành viên thuộc PVN và các nhà thầu dầu khí phải mở tài khoản và thực hiện các giao dịch tại OceanBank.
Báo chí nhà nước đã nhanh nhảu công bố văn bản “yêu cầu các đơn vị thành viên thuộc PVN và các nhà thầu dầu khí phải mở tài khoản và thực hiện các giao dịch tại OceanBank” với chữ ký của Đinh La Thăng. Vài tờ báo nhà nước như Infonet, Giáo Dục Việt Nam còn đi xa hơn khi nêu đích danh Đinh La Thăng phải chịu trách nhiệm. Một đợt “đấu tố tham nhũng” bắt đầu nổ ra, y hệt chiến dịch công kích Vũ Huy Hoàng – cựu bộ trưởng công thương – vào năm 2016.
Sau khi có nhiều đồn đoán về việc Đinh La Thăng đã bị quản thúc từ cuối tháng Bảy năm 2017 khi bắt đầu có tin Trịnh Xuân Thanh “đã về”, gần đây ông Thăng bất ngờ xuất hiện cùng với Trưởng ban kinh tế trung ương Nguyễn Văn Bình trong một tấm hình trên báo nhà nước khi đang “ủng hộ đồng bào chịu bão ở miền Trung”. Tuy vậy, hình ảnh này có vẻ chỉ có ý nghĩa qua quýt.
Ảnh: Dân trí
Có lẽ ý Nguyễn Phú Trọng đã quyết: Hà Văn Thắm, Nguyễn Xuân Sơn phải chịu án nặng thì Đinh La Thăng không thể nào “tại ngoại”.
Nếu theo “đúng quy trình”, sau khi Hội đồng xét xử đã có kiến nghị cơ quan điều tra làm rõ vụ chỉ đạo gửi tiền của PVN vào OceanBank và vụ mất 800 tỷ đồng, cơ quan điều tra sẽ tiến hành những động tác tố tụng hình sự đối với ông Đinh La Thăng.
Những động tác tố tụng hình sự có thể diễn ra vào khi nào?
Sau thời điểm kết thúc phiên tòa xử Hà Văn Thắm và Nguyễn Xuân Sơn vào ngày 29/9, một sự kiện chính trị gần nhất sẽ diễn ra vào đầu tháng 10/2017 là Hội nghị trung ương 6 của đảng cầm quyền, tức chỉ cách nhau chưa đầy một tuần lễ. Trong thời gian ngắn ngủi đó, có thể số phận của ông Đinh La Thăng sẽ được quyết định.
Kịch bản ngắn hạn có thể diễn ra là ngay trước Hội nghị trung ương 6, cơ quan điều tra của Bộ Công an có thể tiến hành việc khởi tố điều tra đối với ông Đinh La Thăng, dựa trên những bằng chứng mà phiên tòa xét xử Hà Văn Thắm đã có được. Việc khởi tố này, dù có thể chỉ là “khởi tố chay”, tức khởi tố mà chưa bắt ông Thăng, lại là cơ sở quan trọng nhất để dẫn đến một “phiên tòa” khác: Hội nghị Ban chấp hành trung ương. Nhưng thay vì chỉ bỏ phiếu kỷ luật ông Đinh La Thăng như vào tháng 5/2017, tại Hội nghị trung ương 6 các ủy viên trung ương sẽ phải quyết định để ông Thăng không còn là “đồng đảng” của mình theo ý chỉ của Bộ Chính trị.
Một khi mất cả chức ủy viên trung ương, Đinh La Thăng còn có thể bị tước cả đảng tịch, sau đó đương nhiên bị bãi miễn tư cách đại biểu quốc hội.
Theo đó, một quan chức đã bị khai trừ đảng và mất ghế đại biểu quốc hội thì đương nhiên không còn “quyền bất khả xâm phạm”. Để khi đó, cơ quan điều tra pháp luật có thể “tùy nghi xâm phạm”.

Cũng theo đó, kịch bản trung hạn là sau Hội nghị trung ương 6 một thời gian, một phiên tòa thực sự đối với ông Đinh La Thăng sẽ diễn ra. Chỉ chưa biết là ông Thăng sẽ phải nhận mức án nào…

Nợ công Việt Nam chạm đỉnh 65% GDP: Chính phủ phải làm gì?

Hòa Ái, phóng viên RFA
2017-09-29
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Nợ công của Việt Nam chiếm 61% GDP, tính đến cuối năm 2015
Nợ công của Việt Nam chiếm 61% GDP, tính đến cuối năm 2015
Photo: RFA
Bộ Tài Chính hồi hạ tuần tháng 9 thông báo nợ công của Việt Nam chiếm 61% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tính đến cuối năm 2015 và dự báo đỉnh nợ công sẽ xấp xỉ ở mức 65% GDP vào thời điểm 2017-2018.

Gánh nặng nợ công

Theo số liệu về quyết toán ngân sách nhà nước tính đến cuối năm 2015, Ủy ban thường vụ quốc hội hồi trung tuần tháng 5 công bố nợ công của Việt Nam vào khoảng 363 tỷ đô la Mỹ (USD), chiếm đến 61% GDP, trong đó dư nợ Chính phủ đã chạm trần 50% GDP.
Căn cứ theo số liệu vừa nêu, Bộ Tài Chính trong tháng 9 thông báo Chính phủ Việt Nam mắc nợ trị giá gần 94,3 tỷ USD; bao gồm 39,6 tỷ vay của nước ngoài và phần còn lại là vay trong nước. Bộ Tài Chính còn cho biết nợ Chính phủ bảo lãnh gần 21 tỷ USD, trong đó vay của nước ngoài hơn 11,3 tỷ. Bộ trưởng Bộ Tài Chính Đinh Tiến Dũng cho rằng đây là một trong những áp lực đối với nợ công và trách nhiệm trả nợ của Chính phủ đè nặng lên ngân sách eo hẹp của Việt Nam, trong xu hướng nợ công được dự báo sẽ đạt đỉnh xấp xỉ ở mức 65% GDP vào thời điểm 2017-2018.
Vấn đề được Chính phủ cũng như giới chuyên môn quan tâm là nợ công của Việt Nam được tái cơ cấu như thế nào để luôn ở ngưỡng an toàn cũng như Việt Nam cần làm gì để có khả năng trả nợ trong bối cảnh thiếu nguồn vốn cho phát triển kinh tế giai đoạn đến năm 2035?
Truyền thông trong nước dẫn lời của Chuyên gia cao cấp Cao Viết Sinh rằng theo nhận định của ông thì áp lực nợ công và trả nợ của Việt Nam hiện tại không nằm ở các khỏan vay nước ngoài dài hạn với lãi suất thấp, mà nằm ở các khỏan vay ngắn hạn ở trong nước. Theo tính toán của giới chuyên gia, Chính phủ hàng năm phải chi trả khoảng 14% tổng số nợ Chính phủ vay và nợ Chính phủ bảo lãnh.
Số liệu trong nước thì họ cố giấu nên không thể biết rõ ràng được. Nhưng theo cách tính của tôi thì Việt Nam chi tiêu cho vấn đề an ninh quốc gia chiếm đến 21% ngân sách. Mức chi tiêu như thế là cực kỳ lớn và chi nhiều nhất 12% cho công an, hơn cả quân đội nữa. Với mức chi như vậy và còn tiếp tục tăng cao thì có cách gì mà giải quyết được
-TS. Vũ Quang Việt
Một số các chuyên gia mà Đài RFA tiếp xúc cho rằng Việt Nam đang loay hoay trong mối tương quan giữa vay vốn để phát triển và vì sử dụng các nguồn vốn vay không đạt hiệu quả nên dẫn đến trở thành một trong những quốc gia có tỉ lệ nợ công tăng nhanh nhất, theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới-World Bank; mà nếu không tiếp tục vay thì làm sao phục vụ cho phát triển và trả nợ.
Trong vòng suốt 20 năm, tính từ 2005 đến 2015, Việt Nam nhận được hỗ trợ từ nguồn vốn ODA dưới ba hình thức chủ yếu gồm nguồn vốn viện trợ không hoàn lại, chiếm khoản 10-12%; nguồn vốn vay ưu đãi, chiếm đến 80% và vốn hỗn hợp chiếm 8-10%. Theo thống kê, từ năm 1993 đến năm 2014, tổng giá trị vốn ODA cam kết cho Việt Nam lên đến con số gần 90 tỷ USD. Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam thừa nhận vẫn còn nhiều dự án sử dụng các nguồn vốn ODA chưa hiệu quả, điển hình như 4 dự án đường sắt đô thị tại thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chậm trễ nghiêm trọng hay dự án Đại lộ Đông-Tây là một trong những đại án tham nhũng gây rúng động trong dư luận.
Thời gian sắp tới, Bộ Kế hoạch-Đầu tư dự trù Việt Nam cần phải huy động khoảng 39,5 tỷ USD vốn ODA và vốn vay ưu đãi để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển đến năm 2020. Trong khi đó, thời điểm cuối năm 2017, Việt Nam không còn được vay vốn ODA từ Ngân hàng Thế giới-World Bank nữa. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) có thể cũng sẽ ngừng cung cấp các khoản vay ưu đãi đối với Việt Nam. Các quốc gia Châu Âu, bao gồm Anh, Phần Lan và Na Uy cũng thông báo sẽ dừng cấp vốn hay cắt giảm dần vốn ODA cho Việt Nam đến năm 2020.

Trả nợ bằng cách nào?

thu-tuong_IATY.jpg
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp gỡ Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, ông Ousmane Dione, chiều ngày 20/09/2017 tại Hà Nội. Courtesy: Chinhphu.vn
Trước tình hình bế tắc về nguồn vốn để đầu tư và phát triển cũng như nợ công của Việt Nam ngày càng tăng, các chuyên gia cho rằng việc đi vay với lãi suất thị trường để chi tiêu thì không phải là giải pháp tốt cho Việt Nam. Các chuyên gia đề nghị một trong những biện pháp cần thiết quan trọng là Chính phủ Việt Nam phải ưu tiên giảm chi ngân sách, để có thêm tiền chi cho đầu tư thì khi đó áp lực đi vay và trả nợ sẽ vơi bớt phần nào. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Vũ Quang Việt, một cựu chuyên viên thuộc Cục Thống kê Liên Hiệp Quốc nhận định đây là một thách thức lớn đối Hà Nội:
“Số liệu trong nước thì họ cố giấu nên không thể biết rõ ràng được. Nhưng theo cách tính của tôi thì Việt Nam chi tiêu cho vấn đề an ninh quốc gia chiếm đến 21% ngân sách. Mức chi tiêu như thế là cực kỳ lớn và chi nhiều nhất 12% cho công an, hơn cả quân đội nữa. Với mức chi như vậy và còn tiếp tục tăng cao thì có cách gì mà giải quyết được?”
Liên quan thông tin đại diện của Ngân hàng Thế giới-World Bank, tại một hội thảo quốc tế được tổ chức ở Hà Nội vào hôm 26 tháng 9 vừa qua, cam kết giúp Việt Nam đẩy mạnh tiến độ giải quyết nợ xấu, các khỏan vay không hoạt động trong hệ thống ngân hàng để đảm bảo việc phân phối vốn hiệu quả cho phát triển kinh tế; trả lời câu hỏi của chúng tôi rằng liệu World Bank hay các tổ chức tài chính quốc tế sẽ can thiệp trực tiếp để giải quyết hay không, Tiến sĩ Vũ Quang Việt cho biết những tổ chức này chỉ đưa ra các giải pháp cho Việt Nam nên làm, nhưng Việt Nam nghe theo hay không là lựa chọn của họ. Cựu chuyên viên của Liên Hiệp Quốc trưng dẫn trường hợp Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF) một khi can thiệp trực tếp thì sẽ kèm theo rất nhiều điều kiện đối với quốc gia mà tổ chức này giúp đỡ:
Thứ nhất là phải minh bạch. Làm gì thì làm nhưng phải minh bạch, đặc biệt là vấn đề tài chính ngân sách. Thứ hai là không được làm nhái những sản phẩm của nước ngoài, có nghĩa là phải tôn trọng quyền sở hữu của người ta. Thứ ba nữa là phải tạo ra cạnh tranh bình đẳng giữa khối doanh nghiệp tư nhân với khối doanh nghiệp nhà nước, không ưu tiên doanh nghiệp nhà nước mà đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp nhà nước quá kém hiệu quả. Thứ tư là phải chống tham nhũng. Cho đến giờ việc chống tham nhũng quá chậm lụt
-TS. Phạm Chí Dũng
“IMF từ xưa giờ có chương trình giải quyết giúp đỡ là khi có một quốc gia nào mất khả năng trả nợ nước ngoài. Việt Nam chưa phải nằm trong tình trạng đó. Nếu như mất khả năng trả nợ nước ngoài thì IMF có thể cho vay tiền để trả nợ kèm theo các điều kiện như đòi hỏi phải cắt ngân sách nhà nước, đòi hỏi phải cắt chi tiêu, đòi hỏi phải tăng thuế…Nghĩa là đòi hỏi rất nhiều thứ và còn đưa ra chương trình hàng năm phải xém xét sổ sách v.v. Từ sau năm 1975 đến giờ, Việt Nam chưa bao giờ bị rơi vào tình trạng này.”
Từ trong nước, Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng lên tiếng Việt Nam cần phải nhanh chóng cải cách thể chế như Chính phủ Hà Nội từng tuyên bố, mà ông gọi là “cải cách chính thể”. Tiến sĩ Phạm Chí Dũng nêu lên Chính phủ Việt Nam cần tiến hành bốn bước quan trọng:
“Thứ nhất là phải minh bạch. Làm gì thì làm nhưng phải minh bạch, đặc biệt là vấn đề tài chính ngân sách. Thứ hai là không được làm nhái những sản phẩm của nước ngoài, có nghĩa là phải tôn trọng quyền sở hữu của người ta. Thứ ba nữa là phải tạo ra cạnh tranh bình đẳng giữa khối doanh nghiệp tư nhân với khối doanh nghiệp nhà nước, không ưu tiên doanh nghiệp nhà nước mà đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp nhà nước quá kém hiệu quả. Thứ tư là phải chống tham nhũng. Cho đến giờ việc chống tham nhũng quá chậm lụt.”
Bên cạnh đó, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng còn đề nghị Chính phủ Việt Nam bắt buộc phải cải cách chính trị như bỏ cơ chế sở hữu toàn dân về đất đai, ban hành các luật định về tự do lập hội, tự do truyền thông cũng như tích cực hơn trong việc cải thiện tình hình nhân quyền ở trong nước. Ông Phạm Chí Dũng nhấn mạnh chỉ khi nào Việt Nam đạt được sự thay đổi như thế thì mới đáp ứng đủ tiêu chí của kinh tế thị trường được quốc tế công nhận.
Đài Á Châu Tự Do ghi nhận ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, một chuyên gia tài chính-ngân hàng độc lập, cho rằng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong hạ tuần tháng 9 đề nghị World Bank tìm các nguồn tại trợ với những khỏan vay không hoàn lại giúp cho giai đoạn phát triển quốc gia đến năm 2035 trong bối cảnh nợ công chạm đỉnh ở ngưỡng 65% GDP là điều hợp lý. Tuy nhiên, một số chuyên gia đánh giá trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam và tình hình khó khăn chung của các quốc gia trên thế giới thì Chính phủ Hà Nội sẽ khó có thể tiếp cận nguồn vốn vay không hoàn lại, như quan điểm của Tiến sĩ Vũ Quang Việt rằng“Không ai cho không Việt Nam bây giờ nữa. Trừ trường hợp Trung Quốc may ra cho không”. Và không chỉ giới chuyên gia mà cả dân chúng tại Việt Nam đều tin rằng người bạn láng giềng “4 tốt-16 chữ vàng” cũng sẽ kèm theo những yêu sách một khi Trung Quốc thực hiện nghĩa cử cao đẹp tài trợ không hoàn lại cho Việt Nam.

NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN CHIÊU ĐÃI TRẦN ĐỨC THẢO 1 MÀN HÁT CÔ ĐẦU CHUI Ở ATK


Thời gian sống ở ATK, tôi (Trần Đức Thảo) bị sai khiến làm mấy việc vơ vẩn như ngồi dịch những tài liệu cũ kỹ, mà rồi sau chẳng dùng được vào việc gì! Hoặc là theo chân mấy phái đoàn Trung ương đi thanh tra này nọ với vai trò của một cây cảnh: đi tới đâu cũng được giới thiệu là trí thức ở bên Tây mới về tham gia cách mạng! Rồi được vỗ tay, hoan hô. Chứ chẳng làm được một việc gì hữu ích cả!

Ảnh minh họa
– Sống như thế thì tẻ nhạt quá, làm sao bác chịu nổi? 

– Ấy trong quãng thời gian sống ở bên lề chính trị như thế không hẳn là tẻ nhạt đâu. Thinh thoảng cũng có những giây phút rất thú vị, rất vui. Bởi sống ở hậu phương thời kháng chiến, luôn luôn được chứng kiến những ngang trái xảy ra thật là bất ngờ, làm bật cười, cười đến chảy nước mắt. Trong cách mạng mà cũng có lúc ăn chơi lén lút, đáng ghi nhớ về cái “thời bao cấp” ấy. Những thú vui chui lén như vậy cũng làm cho mình phải suy nghĩ, tìm hiểu hiện tượng cách mạng và những khát vọng của con người…

– Thú vui lén lút đáng nhớ ấy là gì?

Bác Thảo kể có một lần, “không thể nào quên được”. Đó là lần được nhà văn Nguyễn Tuân mời đi ăn một bữa cơm Tây, tại một xóm dân Hà Nội tản cư về sống gần ATK. Khi vào tới xóm ấy, là phải chui qua mấy hàng giây thép, trên phơi đầy quần áo màu mẻ sặc sỡ khác hẳn với quần áo nâu sồng của nông thôn, được giặt để cất đi, ở sân sâu bên trong một căn nhà cổ, để tới cái quán ăn chui lậu hiếm hoi ở hậu phương. Chủ nhân tự khoe mình từng là đầu bếp của cựu thống sứ Bắc kỳ Graffeuil! Bữa ăn hôm ấy có cả món thịt bò. Chateaubriand, có cả rượu vang Bordeaux. Thịt tươi là do cánh công an vừa săn được mật con nai! Còn rượu cũng là do cánh công an mang từ Hà Nội ra! Ăn xong, Tuân chửi vui: “Sư bố chúng nó! Tàn dư phong kiến, thực dân mà sướng thế đấy!”. Thảo ngơ ngác không biết Tuân chửi ai? Ăn uống ngon lành thế sao lại chửi?

Ông Trần Đức Thảo thời trẻ
Sau bữa ăn, Tuân còn cao hứng dẫn Thảo đi hát “cô đầu”! Dĩ nhiên cũng là hát chui, hát lậu. Địa điểm là một căn nhà chòi có cót che kín mít, dùng để chứa nông cụ thúng, mẹt, cày bừa… ở ngay giữa một cánh đồng lớn mới gặt xong. Thảo được đưa tới chờ ở đó, nên rất lấy làm lạ. Ngồi một mình ngắm trăng mười sáu sáng ngời, chung quanh là một cánh ruộng bàng bạc màu vàng khô khốc của những gốc rạ mới gặt xong, xa xa là những luỹ tre xanh vi vu gió thổi. Cảnh thật đẹp và buồn.

Mãi sau, Tuân trở lại lố nhố với năm, sáu người lạ mặt, trong đó có một phụ nữ khoảng ngoài ba mươi tuổi, mỗi người ôm một cái túi khá lớn. Họ vào trong căn chòi rồi cài cài mấy tấm cót cho kín đáo. Một ngọn đèn dầu hoả được thắp lên cho vừa đủ sáng để thấy tỏ mặt nhau. Họ mở túi lấy ra, người thì một cái trống cơm nhỏ, người thì một cây đàn đáy. Chị phụ nữ cung lấy ra hai que gỗ và một cái phách. Tuân nói thật trịnh trọng:

– Hôm nay tôi lén tổ chức chầu hát này là để đãi ông bạn trí thức ở tận bên tây mới về. Yêu cấu em Đức hát cho thật đạt chỉ tiêu đấy nhé!

Cô ca nương nhìn Thảo rồi đáp:

– Anh Tuân ơi! Anh ép, thì vì nể anh em cũng cố mà ra đây hát thôi. Bởi em đã giải nghệ từ mấy năm nay rồi. Nêu cồng an mà biết thì em sẽ bị đi tù mất. Hát ả đào bây giờ bị coi là thứ nhạc sa đoạ của thời phong kiến, nó đã bị khai tử từ lâu rồi!

– Không sao đâu, anh đã lo lót hết rồi. Tuân này bảo đảm mà!

– Cứ hát đi, đã có ông chủ tịch xã kiêm trưởng công an ngồi nghe đây thì còn sợ gì!

– Thôi đừng khách sáo nữa! Ta bắt đầu đi, kẻo đã quá canh khuya rồi. Đàn lên! Xin mời quan viên giữ trống ra tay! Bắt đầu “Hồng, Hống, Tuyết Tuyết” đi em!

Vài tiếng đàn chậm rãi vẳng lên, trầm bổng, thánh thót day dứt trong đêm khuya thanh vắng. Rồi một giọng ca trong vắt, ngân nga, luyến láy vang lên giữa cánh đồng vằng vặc ánh trăng.

Rồi tiếng trống vào nhịp:

– Tom! Chát! Chát! Tom!

– Hồng, hồng, tuyết, tuyết ứ ư ừ mới ư ừ ngày nào chửa… ư biết cái chi chi…

– Tom, tom, chát…

Tiếng hát, tiếng đàn nhịp trống bỗng đưa mọi người nhập vào một thứ nghi lễ tôn giáo linh thiêng… gợi cảm, trữ tình của nghệ thuật!

Bác Thảo vui vẻ, thích thú kể lại thật chi tiết về một chầu hát ca trù lén lút vô cùng cảm xúc, trong đêm khuya ấy, giữa một cánh đồng khô, trong lúc tình hình chiến tranh sôi động, mọi người lo âu, bồn chồn không biết ngày mai sẽ ra sao!

Bởi đấy là lần đầu tiên trong đời bác Thảo được nghe tiếng hát “trong như pha-lê, luyến láy ngân nga, thấm nhập tâm can, làm rung động toàn thân xác.,.”. Bác say sưa khen:

– Ôi! Lúc ấy, tiếng đàn, tiếng hát, sao có thể thuần khiết, âm vang sâu thẳm đến thế! Tiếng trống bắt nhịp thật lịch duyệt, như thúc dục, như khuyến khích ca nương!

Bài ca vừa chấm đứt, Thảo không nhịn được phản ứng ngạc nhiên, nên hỏi:

– Sao thứ ca dân gian này có thể nghệ thuật đến thế! Hay như vậy sao lại cấm? Trong đời tôi, tuy đã từng biết thưởng thức những tiếng đào, lời ca cổ điển vô cùng nghệ thuật của lối hát đại nhạc (opéra) phương Tây, nhưng đây là lần đầu tiên tôi khám phá ra một lối ca nghệ thuật tuyệt kỹ, vừa trữ tình, vừa huyền bí, thiêng liêng như của một tôn giáo, nghe mà rợn cả người, cứ y như bỗng mình được lạc vào cõi thiên thai. Một thứ nghệ thuật truyền thống quý như vậy, sao lại bắt nó phải chết?

– Tại vì xưa kia nó phục vụ giới quan lại, phú hộ thời phong kiến! – Tuân giải thích – Thôi bây giờ thì ca tiếp đi chứ!

Người nghệ sĩ chơi đàn, người “quan viên” giữ nhịp trống điều khiển, rồi ca nương, tất cả đều đắm say diễn tả, như hoà tâm hồn vào mấy bài hát nói danh tiếng của mấy nhà thơ trứ danh thời trước. Tay đàn, tay trống và ca nương, tất cả đều biểu diễn, với tất cả sở trường, y như đang làm sống dậy giây phút thanh bình của đất Hà thành thanh lịch xa xưa!

Thảo giải thích thêm với chúng tôi:

– Tiếng hát ả đào đúng là hợp với tâm tư, hoàn cảnh của từng người lúc ấy. Ai ai cũng đang mang nặng một tâm tư u buồn, nên mới hát được như thế, mời nghe thấu được nỗi niềm của giọng hát, lời ca. Tôi đã từng biết lối hát đại nhạc (opéra) của phương Tây. Lối hát ấy là dùng sức buồng phổi đẩy làn hơi qua thanh quản để đưa nốt nhạc vọt lên chói vót như thi tài với tiếng đàn. Nhưng lối hát ả đào thì tế nhị hơn, vì ca nương phải kiềm chế làn hơi, rồi từ từ vừa đẩy, vừa níu lại làn hơi qua họng, để uốn nắn âm thanh qua thanh quản, làm nó uyển chuyển, luyến láy, nghẹn ngào; như than van, nức nở, để bầy tỏ nỗi niềm… Nghệ thuật hát ả đào, do đó tinh vi, truyền cảm tình tiết cao siêu, sâu sắc, huyền bí hơn hẳn đại nhạc phương Tây, Tôi không hiểu sao một nghệ thuật tuyệt vời như thế mà lại nỡ lòng mang vứt bỏ nó đi! Một dân tộc có một nền văn minh cao độ mới có thể có một lối hát nghệ thuật đậm tính văn hoá dân tộc đến thế, sao lại chê bai, kết tội nó!

– Ôi dào! Bây giờ thì cái gì của thời cũ đều bị phá đi, vứt bỏ hết! Bây giờ người ta tính áp dụng lối tiêu thổ kháng chiến ở Liên Xô, phá sập, dẹp hết, đốt hết, san thành bình địa ráo, để địch không thể xâm chiếm được. Nơi nào có tinh thần kháng chiến cao như vùng Vinh, Thanh Hoá, Nghệ An thì đã bắt đầu có lệnh thi hành chính sách “tiêu thổ”. Với hô hào “tất cả cho kháng chiến”. Tiếc gì cái lối đa truyền cảm, trữ tình, nay bị coi là truỵ lạc, là sa đoạ này!

Chầu hát ả đào dần tới hồi kết thúc. Quan viên cầm trống bỗng đứng dậy, bước tới trước mặt nhà văn Nguyên Tuân, nghiêm chỉnh cúi đầu nói:

– Xin kính mời quan bác! Quan bác là người đã nổi tiếng là tài danh cầm chầu là tài tử lịch duyệt của ca trù, đệ xin trả lại ngôi quan viên cho quan bác, để quan bác giữ nhịp cho bài ca cuối cùng của chầu hát chui này. Đệ chọn bài “Tỳ bà hành” để kết thúc, y như trong các buổi ca trù của các nhà hát trứ danh của Hà thành thanh lịch thủa xa xưa.

Ông Trần Đức Thảo
Nguyễn Tuân nghiêm nghị đón nhận chiếc trống nhỏ, sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn, đặt trống xuống đúng tầm tay, đưa roi trống lên cao, rồi nhìn tay đàn và ca nương, đúng cách quan viên sành điệu, như vị nhạc trưởng của ban đại hợp tấu, chuẩn bị phát lệnh trên một chiếu hát. Mọi người chờ tiếng trống phát ra. Nhưng Nguyễn Tuân lại đặt nhẹ rồi trống xuống và nói với giọng trầm buồn:

– Này em Đức ơi! Anh biết em từng là ngôi sao ca nương sáng chói của lò hát bà Đốc Sao ở Hà Nội. Xưa kia thì phải là cỡ tuần phủ tri huyện trở lên tới tống đốc mới được nghe tiếng em ca. Thế rồi cách mạng về thì nhà bà Đốc Sao biến đâu mất tích. Nay được tin em trôi dạt về đây, anh đã phải bịa chuyện xin đi công tác phương này, cốt là để tìm em, để được nghe em hát thêm một lần, cho dù mai sau có chết vì bom đạn thì anh cũng mãn nguyện là đã tận hưởng cuộc đời. Bởi hôm nay đây, cái cánh đồng khô giữa vùng đất núi rừng Tuyên Quang nảy bỗng trở thành một bến Tầm Dương! Và em Đức sẽ là người đưa tiễn anh với anh Thảo đây, đều là những tư mã của thời đại, đang bị thời thế lưu đày về cái đất Giang Châu của Tuyên Quang này… Em hãy ca thật hay lên, để tiễn đưa chúng anh ngày mai lại lên ứ… ư đường! Chỉ tiếc ở đây không có rượu ngon để anh ngâm mấy câu thơ cổ:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi

Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!

(Thơ Vương Hàn, Lương Châu Từ, Trung Quốc)

Rồi Nguyễn Tuân cao hứng, đằng hắng, lấy giọng ngâm thật thống thiết tiếp:

Rượu ngon thơm ngát chén ngà

Chén chưa kịp cạn, tỳ bà thúc đi

Sa trường say, cười mà chi

Xưa nay chinh chiến, mấy ai trở về!

(Người dịch khuyết danh)

Cây roi giơ lên phát lệnh bắt đầu bài hát:

– Tom! Tom! Chát!

Nhưng tất cả ngạc nhiên vì ca nương không cất tiếng hát mà lại ôm mặt khóc nức nở! Thảo ngồi đấy cũng long lanh nước mắt. Vì trong lòng cũng cảm thấy một nỗi u buồn thấm thìa khó tả, chẳng rõ vì sao. Nức nở, sụt sùi mọt hồi, ca nương lấy lại bình tĩnh nói:

– Em xin lỗi! Em xin lỗi! Vì nhìn mấy anh ăn mặc nâu sồng vất vả, mặt mày hốc hác, em thấy thương mấy anh quá! Mà em cũng khóc cả cho thân phận em! Thôi để em hát, để tiễn đưa các anh, và cũng là đưa em nữa, vì mai đây gia đình em sẽ tìm đường về xuôi, vì cái bến Tầm Dương của em là bên quê ngoại ở mãi vùng Thái Bình cơ!

– Thôi nín đi em! Hát đi em!

Nguyên Tuân lại nổi trống giục:

– Tom! Tom! Tom! Chát!

Ca nương bắt đầu lên giọng ngân nga, luyến láy não lòng:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

Quạnh hơi thu lau lạch đìu hiu

Dời thuyền ghé lại thăm tình

Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui

Nghe não nuột mấy dây buồn bực

Dường than niềm tẩm tức bấy lâu

Mày chau tay gẩy khúc sầu

Dãi bầy hết nỗi trước sau muôn vàn

Thuyền không, đậu bến mặc ai

Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi, lạnh lùng

Nghe não ruột khác tay đàn trước

Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi

Lệ ai chan chứa hơn người

Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh…

(Trích thơ Bạch Cư Dị, Phan Huy Vịnh dịch)

– Tom! Chát! Chát! Tom!

Tiếng trống vang lên như để khen “Thật tuyệt vời!”, tiếng đàn cùng tiếng hát ngưng bặt. Cả cái chòi cót giữa cánh đồng không ấy bỗng im lặng hoàn toàn. Chỉ cỏn tiếng gió, xào xạc, qua một bụi tre, vọng lại từ xa.

Trong chòi, mọi người, như chết lặng vì quá cảm xúc. Tất cả êm thấm đứng dậy, chậm rãi thu xếp trống, đàn, từ từ rút lui. Tất cả họ bùi ngùi, câm nín, ra về trong sợ sệt, nhìn trước, ngó sau, lắng tai, phóng mắt ra khắp phía xa chung quanh, không ai nói với ai nửa lời. Mỗi người mỗi nặng một tâm tư luyến tiếc, lo âu, sợ hãi…

Nguyên Tuân ghé tai Thảo:

– Này ông bạn trí thức của tôi ơi, nhớ cho kỹ là đừng cho ai biết là tôi đãi ông chầu hát ca trù này đấy nhé! Phải “bem” (giữ bí mật) kẻo lại bị ngồi viết kiểm điểm thì mệt lắm đấy!

– Thú thật là ngồi nghe, tuy không hiểu hết ca từ, nhưng tôi cảm thấy lòng mình chùng xuống y như mình cũng đang khóc cho nỗi niềm u uất của chính mình. Không thể ngờ là lối ca này nó thấm thía vào tim gan đến thế!

– Anh có biết tại sao ca trù nó thấm thía vào tâm hồn mọi người không? Tại vì đây là một lối ca trữ tình. Bởi lời ca toàn là những bài thơ, bài hát nói của một nền vãn chương quý phái đã lâu đời. Cách diễn tả lại càng trữ tình hơn. Vì làn hơi bị ức chế trong lồng ngực để rồi được đẩy ra thành tiếng luyến láy nghẹn ngào, nức nở, để bầy tỏ những tình cảm uất ức khó diễn tả, nên ca mà cứ như nấc nghẹn, muốn than van, nuối tiếc, khóc thương một thời hạnh phúc đã mất… Ai mà có nỗi niềm trong lòng thì mới thưởng thức hết được cảm xúc sâu thẳm của ca trù. Tôi biết anh cũng đang có nhiều nỗi niềm bị ức chế ở trong lòng nên tôi mới mời anh đi hát hôm nay. Có đúng như vậy không nào?

Thảo nhìn Tuân chằm chăm, rồi ngần ngừ nói:

– Anh hỏi tôi câu ấy làm tôi chột dạ. Cố phải anh là môn đệ của Freud đã nhìn thấy tâm can tôi không? Hay anh là cán bộ của “cụ Hồ” đang gài bẫy để bắt quả tang lập trường chao đảo của tôi đây?

– Tôi chưa hề đọc Freud. Và anh cũng đã mắc cái bệnh cảnh giác nặng rồi đấy. Nhưng cứ yên tâm, vì thằng Nguyễn Tuân này dù thế nào thì cũng không thể hèn mạt đến nỗi bán rẻ tình bạn cho cách mạng đâu. Anh cứ bình tĩnh mà chịu đựng và chờ đợi, chờ thời… Tôi hỏi thật, anh có hiểu tại sao ca trù nó lại thấm thấu tâm can chúng ta như vậy không?

– Tại sao vậy anh?

– Tại vì ca trù toàn chuyên chở âm điệu những nuối tiếc, những tình hận, những chí cả sinh bất phùng thời của những kẻ bất mãn, bất đắc chí như anh đấy!

– Sao anh thấy được tận đáy lòng tôi như thế? Xin cảm ơn anh! Nhưng cũng xin anh đừng làm tôi sợ vì đúng là anh đã bắt quả tang tôi đang chao đảo lập trường đối với cách mạng!

– Anh đừng lo. Tôi hiểu anh vì tôi hiểu tôi. Bởi chúng ta chỉ là bọn Giang Châu tư mã đang bị giông bão thời cuộc đánh trôi dạt về cái bên Tầm Dương rừng rú này. Buồn lắm! Thảm lắm anh ơi! Với anh tôi mới dám thổ lộ tâm sự u buồn của tôi. Bởi tôi biết sợ cũng như anh biết sợ…

Rồi bác Thảo còn cho biết sau khi về tiếp thu Hà Nội, Nguyễn Tuân còn mời bác đi nghe hát ca trù chui lậu thêm hai lần nữa, nhưng những lần sau này thì không còn xúc động mạnh như lần đầu, trong cái chòi tranh thô kệch nghèo nản ở giữa cái cánh ruộng khô, đêm trăng ấy nữa.

Trích “Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối”,  Phan Ngọc Khuê ghi.

————-  

(Blog Hữu Nguyên/Kỳ Duyên)