Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

Bài 1: Ba người con với bà Dương Khai Tuệ

Chuyện về những người con của Mao Trạch Đông
In bài viết
Mao Trạch Đông năm 1947, năm Tưởng Giới Thạch điều động 30 vạn quân tấn công Diên An - Ảnh: chinasmack.com
   Ngày 2.4.2007, người con trai cuối cùng của Chủ tịch Mao Trạch Đông là Mao Ngạn Thanh đã qua đời, thọ 84 tuổi. Đối với rất nhiều người, thông tin này tạo cảm giác vừa quen thuộc lại vừa xa lạ vì tuy mọi người đều biết ông là con của Mao Chủ tịch nhưng lại không nghe nhiều về ông.
Mao Ngạn Thanh cùng với hai em Lý Mẫn, Lý Nạp là 3 trong gần 10 người con của Mao Trạch Đông được sống trong thời kỳ đất nước Trung Quốc thống nhất. Những người còn lại hoặc bị chết yểu hoặc bị lưu lạc, mất tích trong chiến tranh.
Cả 3 người đều làm công tác nghiên cứu lịch sử, triết học, không dính dáng đến chính trị và rất ít xuất hiện trước công chúng, ngay cả khi Mao Trạch Đông còn tại thế. Từ khi ông Mao qua đời năm 1976 đến nay, người ta chỉ thấy thấp thoáng bóng 3 anh em họ vào những dịp kỷ niệm ngày sinh, ngày mất của cha họ mà thôi.
Người vợ đầu họ La
Nhiều người nói làm thành viên gia tộc Mao không chỉ có vinh dự mà còn phải chịu nhiều hy sinh, mất mát. Mao Trạch Đông đã cống hiến cho cách mạng Trung Quốc 1 người vợ, 6 người con, 2 người em, 1 người cháu,1 người em họ.
Có thể nói, 4 cuộc hôn nhân của Mao Trạch Đông đều không viên mãn bởi nhiều lý do.
“Mao thị tộc phả” - bộ gia phả họ Mao được chỉnh lý lần thứ 4 hoàn thành vào năm 1940 tại Thiều Sơn (Hồ Nam) có ghi về tình trạng hôn nhân của Mao Trạch Đông thế này: “Nguyên phối (vợ đầu) là La thị, sinh vào giờ sửu ngày 26 tháng 9 năm Ất Sửu, tức năm Quang Tự thứ 15 triều Thanh, từ trần vào giờ dần ngày 13 tháng giêng năm Canh Tuất, tức năm Tuyên Thống thứ 2. Sau đó kết duyên với Dương thị, rồi cưới Hạ thị”.
Năm Quang Tự thứ 15 là năm 1889 còn Tuyên Thống thứ 2 là năm 1910.
La thị xuất thân nông dân, là trưởng nữ của La Hợp Lâu (1871-1943), đồng hương với Mao Trạch Đông. La thị lớn hơn Mao Trạch Đông 4 tuổi, năm 1907 về làm dâu nhà họ Mao, nhưng chỉ 3 năm sau thì qua đời, mới 21 tuổi.
Năm 1936, Mao Trạch Đông có nói về cuộc hôn nhân này như sau: “Thời cuộc nguy cấp như thế, yêu cầu bức thiết như thế, tôi không có thời gian để nói chuyện riêng tư. Tôi không cảm thấy hứng thú với nữ giới. Năm 14 tuổi cha tôi đã cưới về cho tôi một người vợ gần 20 tuổi, song tôi chưa từng cùng cô ấy sống như vợ chồng đúng nghĩa. Tôi không cho rằng cô ấy là vợ tôi và hầu như không hề nhớ đến cô ấy”.
Dương Khai Tuệ và hai con Mao Ngạn Anh, Mao Ngạn Thanh

Cành dương liễu Dương Khai Tuệ
Trong bài từ Đáp Lý Thục theo điệu Điệp luyến hoa Mao Trạch Đông viết vào năm 1957 có câu: “Ta mất cành dương, người mất liễu/ Dương liễu nhẹ bay thẳng đến mây xanh”. Ý thơ man mác nỗi hoài niệm của Mao Trạch Đông, ký thác tâm sự với linh hồn người vợ, người bạn chiến đấu Dương Khai Tuệ – cành dương liễu trung trinh.
Dương Khai Tuệ sinh ngày 6.11.1901 tại Bản Thương, Trường Sa (tỉnh Hồ Nam) trong một gia đình trí thức tiến bộ. Năm 1921 cô gia nhập đảng Cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Hai người quen nhau và tiến đến hôn nhân.
Dương Khai Tuệ theo sát bên chồng hoạt động, chịu mọi vất vả, làm công tác cơ yếu, dân vận, liên lạc. Ngày 24.10.1922, Dương Khai Tuệ sinh con trai đầu là Mao Ngạn Anh, năm sau sinh con trai thứ hai là Mao Ngạn Thanh, tiếp đó là con thứ ba Mao Ngạn Long.
Lúc này Quốc dân đảng đàn áp khốc liệt, cách mạng gặp rất nhiều khó khăn. Năm 1927, lần hợp tác đầu tiên giữa Quốc dân đảng và Cộng sản đảng thất bại, cuộc vận động nổi dậy của nông dân Hồ Nam chìm trong bể máu.
Mao Trạch Đông giã biệt vợ con ra vùng biên giới Tương Cám tổ chức khởi nghĩa Thu Thâu, không ngờ đó là lần vĩnh biệt vợ và biệt tích các con.
Sau khi đại cách mạng thất bại, Quốc dân đảng thực hiện khủng bố trắng nhưng Dương Khai Tuệ vẫn ôm con trở về Bản Thương tiếp tục đấu tranh. Dù bị mất liên lạc với tổ chức cấp trên, cô vẫn tham gia và lãnh đạo đấu tranh vũ trang ở Trường Sa, Bình Giang suốt 3 năm.
Mao Trạch Đông với vợ chồng Mao Ngạn Anh
Tháng 10.1930, Dương Khai Tuệ bị bắt, bị đưa về “đội diệt cộng” của bộ tư lệnh cảnh sát Trường Sa khét tiếng của Quốc dân đảng.
Chịu đựng mọi nhục hình, Dương Khai Tuệ kiên trinh bất khuất nói: “Các ngươi muốn đánh, muốn giết tùy ý nhưng đừng hòng moi được điều gì ở ta”; “Chém đầu cũng như gió thoảng qua, chỉ dọa bọn tiểu quỷ nhát gan, không thể làm nao núng người đảng viên cộng sản”.
Cảnh sát Quốc dân đảng đưa ra điều kiện: Chỉ cần công khai tuyên bố chấm dứt quan hệ vợ chồng với Mao Trạch Đông là sẽ thả ra ngay. Khai Tuệ cười rằng: “Muốn ta cắt đứt quan hệ với Mao Trạch Đông, trừ phi biển cạn non mòn”. Ngày 14.11.1930, Dương Khai Tuệ bị xử tử ở núi Thức Tự, Lưu Dương, năm ấy cô mới 29 tuổi.
Ba người con họ Mao lưu lạc
Mẹ bị giết, cha biệt tăm, ba đứa con họ Mao không nơi nương tựa. Sau đó chú là Mao Trạch Dân, em trai Mao Trạch Đông, bí mật đưa ba anh em lên Thượng Hải, đổi tên thành Dương Vĩnh Phúc, Dương Vĩnh Thọ và Dương Vĩnh Thái.
Không lâu sau thì Mao Ngạn Long bị bệnh lỵ qua đời. Tiếp đó tổ chức đảng ở Thượng Hải bị vỡ, Mao Ngạn Anh lúc ấy 9 tuổi và em Mao Ngạn Thanh 8 tuổi tiếp tục lưu lạc đầu đường xó chợ, làm đủ mọi chuyện như quét rác, đẩy xe, bán báo…
Nhờ bán báo, hai anh em biết được ít nhiều tin tức của cha và đảng Cộng sản trong mục mà báo chí Quốc dân đảng gọi khinh miệt là “tổ phỉ”.
Mãi đến năm 1936, lúc này Mao Trạch Đông và Hồng quân đã thực hiện xong cuộc “vạn lý trường chinh” lịch sử. Tổ chức đảng ở Thượng Hải cuối cùng đã tìm được tung tích Ngạn Anh và Ngạn Thanh, nhưng hai anh em vẫn không được gặp cha.
Năm 1937, một thuộc hạ của tướng quân Trương Học Lương đưa Ngạn Anh và Ngạn Thanh sang Liên Xô gửi vào học tập ở Học viện Thiếu nhi quốc tế. Mãi đến tháng 12.1945, Mao Ngạn Anh đã trở thành một sĩ quan quân đội cấp trung úy, mới được trở về Diên An để gặp cha sau gần 20 năm lưu lạc.
Cha con gặp nhau chỉ mấy ngày, Mao Trạch Đông đã yêu cầu Ngạn Anh xuống vùng thôn quê lao động, sinh hoạt cùng nông dân.
Mao Trạch Đông với vợ chồng Mao Ngạn Thanh
Mao Ngạn Anh hy sinh, Mao Ngạn Thanh về nước
Năm 1947, Tưởng Giới Thạch điều động 30 vạn quân tấn công Diên An. Tháng 3 năm ấy, dân chúng bắt đầu di tản, Mao Trạch Đông và cơ quan trung ương đảng rút sau cùng, nhưng trong đội ngũ gia quyến của các lãnh đạo trung ương không thấy bóng dáng Mao Ngạn Anh vì lúc này anh đã được điều sang công tác ở Bộ Tuyên truyền.
Năm 1948, Mao Ngạn Anh quen với Lưu Tư Tề, con gái của liệt sĩ Lưu Khiêm Sơ và xin tiến tới kết hôn. Mao Trạch Đông kiên quyết phản đối vì Lưu Tư Tề chưa tròn 18 tuổi, mặc cho Ngạn Anh khóc xin.
Ngày 15.10.1949, Mao Trạch Đông mới cho tổ chức tiệc đơn giản tại Trung Nam Hải để làm lễ tuyên hôn cho Ngạn Anh và Tư Tề. Nhưng “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, chỉ 1 năm sau, tháng 11.1950, Mao Ngạn Anh tham gia chiến trường Triều Tiên bị máy bay Mỹ tập kích hy sinh, năm ấy mới 28 tuổi.
Mao Trạch Đông vô cùng đau đớn, ngã bệnh, nhưng ông giấu tin này đến 2 năm sau mới cho con dâu biết và khuyên nên cải giá, lại giới thiệu đối tượng, nhưng Lưu Tư Tề không đồng ý.
Riêng Mao Ngạn Thanh đến năm 1948 mới từ Liên Xô trở về Trung Quốc. Do di chứng vết thương ở đầu bị cảnh sát đánh khi lưu lạc ở Thượng Hải hành hạ, anh phải đi điều trị liên tục, đến năm 37 tuổi vẫn còn độc thân. 
Bà Lưu Tư Tề – con dâu của Mao Trạch Đông
Theo lời kể của Trương Thế Bảo, Trưởng ban Cảnh vệ Cục Công an Đại Liên, Mao Ngạn Thanh thường xuyên bị bệnh, tính tình nội hướng, không thích nói chuyện. Sau nhờ Lưu Tư Tề giới thiệu em cùng mẹ khác cha của mình là Thiệu Hoa, năm 1960 Mao Ngạn Thanh và Thiệu Hoa nên duyên chồng vợ.
Lễ cưới chỉ là bàn tiệc nhỏ, Mao Trạch Đông không đến dự, chỉ gửi tặng 1 chiếc đồng hồ và 1 máy radio. Mao Ngạn Thanh không tham gia chính trị, quân đội, chỉ làm công tác phiên dịch các tác phẩm của Mác-Lênin từ tiếng Nga sang tiếng Trung.
Theo tiết lộ của ông Ngô Liên Đăng, nhân viên công tác bên Mao Trạch Đông từ những năm 1960 đến 1970, ở những năm tháng cuối đời, Mao Trạch Đông vẫn rất ít khi gặp con trai Mao Ngạn Thanh.
Thượng Văn

GS. Vũ Minh Giang: 'Nếu quản lý quá chặt việc lập hội thì phương hại đến quyền tự do của người dân'

Đăng lúc: 14.10.2016 13:20

In bài viết
GS.TSKH Vũ Minh Giang, nguyên Phó giam đốc Đại học Quốc gia Hà Nội
   Trao đổi với báo điện tử Một Thế Giới, GS TSKH Vũ Minh Giang, nguyên Phó giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, việc hành chính hóa các hội dẫn đến quan liêu, làm trầm trọng gánh nặng ngân sách, hoạt động không hiệu quả và tổ chức đó hỏng cả về phương diện chính trị lẫn chức năng của hội.
Ngân sách chi cho các hội quá lớn
- Ông nghĩ sao về xu hướng hành chính hóa các hội hiện nay?
- Trước hết, hội không phải là một tổ chức hành chính mà là tổ chức tự nguyện của các cá nhân có cùng mục tiêu. Họ thành lập cộng đồng đó để mỗi cá nhân có điều kiện làm tốt hơn mục tiêu của mình. Nếu không có sự tác động của các cơ quan hành chính thì nó không thành hành chính được. Cho nên bất luận trong trường hợp nào mà hành chính hóa các hội đều không đúng với tính chất của hội.
Hành chính hóa các hội sẽ gây ra rất nhiều hệ lụy và cần phải phản đối điều này. Nó làm trầm trọng thêm gánh nặng ngân sách, tăng biên chế trong điều kiện chúng ta đang tìm mọi cách giảm biên chế, ngân sách khó khăn, nợ công tăng nhanh.
Hành chính dẫn đến quan liêu. Ban bệ đầy đủ, lĩnh lương đều đều mà không đóng góp được gì nhiều, làm việc không đến nơi đến chốn thì hoạt động sẽ không hiệu quả và cũng khó bảo vệ được quyền lợi của hội viên. Tổ chức đó hỏng cả về phương diện chính trị lẫn chức năng của hội. Do đó, phải ngăn chặn, phải tìm cách loại trừ những hội hành chính hóa bởi nó gây phương hại cho cả nhà nước lẫn thành viên của hội.
Tuy nhiên, cũng phải phân biệt rõ hành chính và chính trị, hai điều này khác nhau. Chúng ta có một số tổ chức có tính chất chính trị cao, cần có sự hậu thuẫn của chính quyền nhưng hình thức hoạt động phải như một hội.
Thực tế, trong bất cứ xã hội nào tính chất chính trị luôn chi phối cuộc sống của xã hội ấy. Nếu nói một xã hội phi chính trị là không thực tế, bởi vì chính trị thể hiện ý chí quyền lực của một khuynh hướng nào đó lên xã hội. Trong bối cảnh ấy, có những tổ chức hình thức là tổ chức xã hội nhưng tính chất chính trị khá rõ, từ nội dung hoạt động cho đến mục tiêu hoạt động đều không tách rời chính trị. Những tổ chức này cần phải xem xét như một hội đặc biệt.
- Theo thống kê của Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR), ngân sách ước tính chi khoảng 14.000 tỉ đồng cho các hội hoạt động, nếu tính cả đất đai, nhà cửa, xe cộ và các tài sản khác, chi phí toàn hệ thống của các tổ chức hội đoàn này hàng năm dao động từ 45.600-68.100 tỉ đồng, tương đương 1-1,7% GDP. Ông nghĩ sao về con số này?
- Con số này là quá lớn. Hiện nay, nhiều hội hoạt động không có tính chất chính trị rõ ràng nhưng vẫn được bao cấp đầy đủ.  Nếu những hội không có đóng góp gì nhiều về phương diện chính trị mà Nhà nước vẫn phải bao cấp, hậu thuẫn về điều kiện vật chất như trụ sở, xe công, nhân viên… thì ngân sách phải gánh một khoản rất nặng nề.
Hiện nay cần rà soát lại tất cả các hội trên quy mô cả nước, từ Trung ương đến địa phương để cân nhắc. Trừ những hội đặc biệt thì các hội khác cần phải tự chủ được nguồn tài chính để hoạt động.
- Các hội có thể tìm nguồn tài chính ở đâu, thưa ông? Nhiều ý kiến cho rằng hội viên phải đóng hội phí để hoạt động chứ không thể trông chờ vào nhà nước?
- Có nhiều nguồn tài chính để các hội hoạt động mà không cần phải dùng tiền ngân sách. Hội viên đóng hội phí cũng là một nguồn nhưng nguồn này không nhiều. Bởi vì đóng hội phí cao quá thì người ta cũng rời hội.
Ví dụ như Hiệp hội Bất động sản, họ không làm kinh tế nhưng họ lại tư vấn cho các doanh nghiệp bất động sản, trong khi các doanh nghiệp này lại rất cần đến trí tuệ của họ. Do vậy, các doanh nghiệp có thể hỗ trợ về tài chính cho sự hoạt động của các hội này. Đây cũng là một hướng làm hiệu quả cho các hội.
Khi mà các hội hoạt động hiệu quả theo khuân khổ của pháp luật thì sẽ kêu gọi được nhiều nguồn tài chính để hoạt động.
Tính minh bạch và giải trình chưa cao
- Về nguồn tài chính, huy động từ nước ngoài cũng là giải pháp hiệu quả. Tuy nhiên, gần đây có ý kiến đề xuất là các hội trong nước không được nhận tiền viện trợ từ nước ngoài để hoạt động. Ý kiến của ông như thế nào?
- Theo tôi không nên khó quản thì cấm. Qua kinh nghiệm của một số nước, các hội nhận tài trợ của nước ngoài nếu không kiểm soát tốt sẽ gây ra một số hệ lụy không đáng có về mặt chính trị. Tuy nhiên, nếu cứ khó quản mà cấm thì không được, phải cân nhắc lại, phải tìm ra giải pháp để vừa kiểm soát tốt những tổ chức chống phá, vừa tạo thuận lợi về tài chính cho các hội nghiêm túc hoạt động.
Đó là chưa nói đến việc nếu ta ngăn cản việc nhận viện trợ của nước ngoài vô hình trung sẽ làm giảm thiểu các nguồn lực của các tổ chức nhân đạo đích thực trên thế giới. Bởi vì hiện nay nhiều tổ chức của chúng ta vẫn nhận tài trợ nước ngoài như Hội người mù, Hội Chữ thập đỏ… Nếu ngăn cấm không cho tiếp nhận những viện trợ thì người ta sẽ nói mình ngăn cản hành động nhân đạo.
Nếu ngăn cản việc nhận viện trợ thì chúng ta cũng sẽ thiệt hại một lượng nguồn lực tài chính lớn, chỉ cần thống kê con số hiện nay ra là biết ngay tổn thất.
- Hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng ngân sách cấp cho các hội lớn nhưng vấn đề minh bạch, giải trình ngân sách chưa cao. Xin ông cho biết đánh giá của mình về điều này?
- Chúng ta cần rà soát xem việc cấp ngân sách cho các hội có đúng quy định hay không, phải kiểm soát từ khâu đầu vào, đây là khâu quan trọng nhất. Còn khi ngân sách về các hội thì cũng có kiểm toán thường xuyên nên có thể kiểm soát được vấn đề chi tiêu của họ.
Tuy nhiên, không phải là rà soát chung chung mà cần phải rà soát cụ thể. Ví dụ như việc phải dành ngân sách rất lớn để trả lương cho cán bộ, nhân viên các hội, biên chế ngày càng phình to ra. Đây là điều cần phải làm thì không mấy ai rà soát điều này.
Vấn đề là làm sao cho hiệu quả, đúng pháp luật, chống lãng phí và phải nâng cao trách nhiệm giải trình.
Không quản được thì cấm?
- Luật pháp quy định người dân có quyền lập hội, nhưng hiện nay việc lập hội tương đối khó khăn. Theo ông nên giải quyết vấn đề này như thế nào?
- Theo tôi, nên cởi mở hơn về việc thành lập hội. Quay ngược về quá khứ, chúng ta thấy việc thành lập một doanh nghiệp cũng rất khó khăn, gian nan, không biết bao nhiêu quy trình, thủ tục. Rõ ràng Hiến pháp đã quy định người dân có quyền tự do kinh doanh, chưa làm gì sai trái mà còn phải nhiêu khê đến vậy.
Sau một thời gian dài thì chúng ta đã nhận ra rằng không cẩn phải khó khăn đến thế, nhìn ra thế giới thì họ lập doanh nghiệp rất dễ, cũng chẳng cần đăng ký vốn pháp định thì chúng ta mới thay đổi dần dần, đến nay thì việc thành lập doanh nghiệp đã đơn giản hơn rất nhiều.
Việc lập hội cũng tương tự như vậy, quy định lập hội hiện nay còn rất khó khăn cũng ngầm có ý không muốn các hội phát triển quá nhiều. Tôi nghĩ không cần phải lo lắng về điều đó, nếu các hội hoạt động tốt sẽ thúc đẩy xã hội phát triển.
Mỗi hội đoàn lại có quy ước, ràng buộc với nhau chứ không phải cứ lập một tổ chức ra là để chống phá chính quyền. Còn nếu họ muốn chống phá chính quyền thì người ta cũng chẳng cần đăng ký.
Không bao giờ luật pháp có thể điều chỉnh hết được mọi mặt ở xã hội. Phần còn lại là những quy ước, nội quy của các cộng đồng khác nhau từ gia đình, họ hàng, làng xã, cơ quan…Những quy định này thì không phạm luật và luật thì không thể bao quát hết được những vấn đề này.
Một Nhà nước nào có tham vọng điều tiết được tất cả vấn đề của xã hội chỉ bằng pháp luật là một điều không tưởng. Xã hội đó sẽ tạo bất bình trong nhân dân, gây chống đối và đứng bên bờ diệt vong.
Mục tiêu của xã hội này là dân chủ, tự do, hướng tới những giá trị văn minh, tôn trọng các quyền của nhân dân thì trong những quyền đó có quyền được lập hội. Nếu quản lý quá chặt việc lập hội thì gây ra sự lo lắng thái quá, thậm chí phương hại đến quyền tự do của người dân.
- Xin cảm ơn ông!
Trí Lâm thực hiện

Bế mạc Hội nghị Trung ương 4; Hội nghị Trung ương 4 đã thông qua nhiều nội dung quan trọng

Bế mạc Hội nghị Trung ương 4

(Chinhphu.vn) - Sau 6 ngày làm việc với tinh thần khẩn trương, sôi nổi, nghiêm túc, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và bế mạc sáng 14/10.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Các đồng chí Ủy viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào các báo cáo và đề án.
Bộ Chính trị đã tiếp thu và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao thông qua các nghị quyết, kết luận của Trung ương.
Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài phát biểu quan trọng bế mạc Hội nghị, trong đó làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả chủ yếu Hội nghị đã đạt được trong các nội dung: Về kinh tế-xã hội năm 2016-2017, về đổi mới mô hình tăng trưởng, về thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đã thành công tốt đẹp. Tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết, kết luận của Trung ương tại Hội nghị lần này sẽ góp phần quan trọng đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đi vào cuộc sống, thúc đẩy việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị-xã hội và xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Tổng Bí thư đề nghị mỗi đồng chí Ủy viên Trung ương, trên cương vị công tác của mình, hãy phát huy hơn nữa vai trò trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung ương lần này.
Nguyễn Hoàng

Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII của Tổng Bí thư

Thứ Sáu, 14/10/2016, 14:41:21
 Font Size:     |        Print
 
 Font Size:     |  
NDĐT - Sáng 14-10, sau sáu ngày làm việc khẩn trương và nghiêm túc, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Nhân Dân điện tử xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại phiên bế mạc Hội nghị.
Thưa các đồng chí Trung ương,
Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,
Sau sáu ngày làm việc khẩn trương, sôi nổi, nghiêm túc, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các đồng chí Ủy viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào các Báo cáo và Đề án. Bộ Chính trị đã tiếp thu và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao thông qua các nghị quyết, kết luận của Trung ương. Để kết thúc Hội nghị, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị phát biểu, làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả chủ yếu Hội nghị đã đạt được.
1 - Về kinh tế - xã hội năm 2016 - 2017
Sau khi xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện các vấn đề, Ban Chấp hành Trung ương nhất trí cho rằng, năm 2016 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, bên cạnh thuận lợi, đã xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức gay gắt. Nhờ có sự đổi mới mạnh mẽ, năng động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện và sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực. Trong chín tháng đầu năm, kinh tế tăng trưởng khá, quý sau cao hơn quý trước, tuy thấp hơn so với kế hoạch, nhưng là mức cao trong khu vực và thế giới. Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát. Các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. Thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán diễn biến tích cực; dự trữ ngoại hối tăng cao, đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh chuyển biến rõ rệt; sản xuất kinh doanh tiếp tục phát triển; khu vực kinh tế tư nhân có bước khởi sắc; số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng nhanh cả về số lượng và tổng vốn đăng ký. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh. Dự báo, đến cuối năm 2016, có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức 11/13 chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Đặc biệt là, đã kịp thời ứng phó, khắc phục và thực hiện các chính sách hỗ trợ, giải quyết khó khăn cho người dân tại các vùng bị thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn và các tỉnh miền trung bị ảnh hưởng sự cố môi trường biển. Khởi tố, điều tra, xét xử nhiều vụ án hình sự nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, góp phần tích cực đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tham nhũng, sách nhiễu. An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, nền kinh tế đất nước vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Tăng trưởng GDP và xuất khẩu chín tháng đầu năm đạt thấp so với cùng kỳ và dự kiến; tăng trưởng nông nghiệp không đạt mục tiêu đề ra; thâm hụt ngân sách và nợ công vẫn ở mức cao. Nợ xấu ngân hàng, nợ đọng xây dựng cơ bản còn lớn, chậm được xử lý căn bản và triệt để. Giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, nhất là vốn trái phiếu chính phủ, vốn ODA còn chậm, gặp nhiều trở ngại. Thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn đang là vấn đề bức xúc. Tệ nạn xã hội, vi phạm về môi trường, an toàn thực phẩm, tai nạn giao thông và tội phạm gian lận thương mại còn diễn biến phức tạp, nhất là ở các đô thị lớn. Trong những tháng cuối năm, để đạt mức tăng trưởng 6,3 - 6,5%, cần dồn sức giải ngân thực hiện các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước; huy động nguồn lực xã hội để phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản; xử lý những ách tắc trong tiêu thụ than; phát triển mạnh du lịch.
Năm 2017, tiếp tục tập trung bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội. Tạo chuyển biến rõ rệt trong việc thực hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển văn hoá, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội. Ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Để có thể hoàn thành được mục tiêu, nhiệm vụ trên đây, cần tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tinh thần năng động, sáng tạo, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Tập trung ưu tiên xây dựng, hoàn thiện thể chế để cải thiện mạnh mẽ hơn môi trường đầu tư, kinh doanh. Khắc phục tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư từ nguồn vốn ODA, vốn ngân sách nhà nước; thất thu, bội chi, mất cân đối lớn về ngân sách nhà nước. Kiểm soát chặt chẽ nợ công trong ngưỡng an toàn. Xử lý căn bản và triệt để hơn các ngân hàng thương mại yếu kém, nợ xấu ngân hàng và nợ đọng xây dựng cơ bản. Thực hiện có hiệu quả chủ trương thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng và giải quyết các vấn đề xã hội cấp thiết, nhất là khắc phục hậu quả sự cố môi trường ở miền Trung, củng cố niềm tin của nhân dân.
2 - Về đổi mới mô hình tăng trưởng
Trung ương thống nhất nhận định, trong nhiệm kỳ khóa XI, toàn hệ thống chính trị đã tích cực tiến hành đổi mới mô hình tăng trưởng, đạt được một số kết quả bước đầu. Tuy nhiên, nhìn chung, mô hình tăng trưởng ở nước ta chậm được đổi mới, về cơ bản vẫn theo mô hình cũ; tăng trưởng vẫn dựa chủ yếu vào tăng đầu tư và tăng số lượng lao động, chưa dựa nhiều vào tăng năng suất lao động, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới tổ chức sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tốc độ tăng trưởng có xu hướng chậm lại, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Sắp tới, cần nhận thức, quán triệt đầy đủ và sâu sắc hơn nữa quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về vấn đề này, coi đây là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu của chúng ta trong giai đoạn hiện nay. Phải hiểu rõ mô hình tăng trưởng mà nước ta đổi mới, xây dựng là mô hình tăng trưởng ngày càng dựa nhiều hơn vào năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực theo tín hiệu và cơ chế thị trường; phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tài năng, trí sáng tạo của con người và mọi tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các địa phương và cả nước; tạo cơ hội cho mọi người dân tham gia và cùng hưởng lợi từ tăng trưởng; chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ gìn môi trường sinh thái. Đương nhiên, phải tuỳ tình hình thực tế của từng ngành, lĩnh vực và địa phương mà kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, trong đó, lấy tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo. Chuyển dần từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư và xuất khẩu sang tăng trưởng dựa đồng thời vào cả đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước. Chuyển dần từ dựa vào gia tăng số lượng các yếu tố đầu vào của sản xuất sang dựa vào tăng năng suất, chất lượng lao động, ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khai thác và phát huy tối đa nội lực kết hợp với thu hút và sử dụng hiệu quả ngoại lực.
Về nhiệm vụ và giải pháp, trước hết cần đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện ba đột phá chiến lược. Theo đó, tăng cường đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi cho khởi nghiệp và đổi mới, sáng tạo, nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ; phát triển một số khu hành chính - kinh tế đặc biệt, đô thị thông minh, các khu công nghiệp, khu công nghệ cao. Nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và đổi mới, sáng tạo của doanh nghiệp; coi doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới, phát triển và chuyển giao khoa học - công nghệ. Xây dựng khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam phát triển cả về số lượng và chất lượng, thật sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy tổ chức, cán bộ của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trọng dụng nhân tài.
Chú trọng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, theo hướng hiện đại, tập trung ưu tiên cho công nghệ thông tin. Đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ, khuyến khích, tạo thuận lợi và thúc đẩy các viện nghiên cứu, các trường đại học, các đơn vị dịch vụ công nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới máy móc, trang thiết bị, phương thức nghiên cứu, ứng dụng, tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến, có năng suất, chất lượng cao hơn. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo theo đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng.
Phát triển đồng bộ và lành mạnh các loại thị trường, nhất là thị trường lao động, thị trường khoa học - công nghệ, thị trường tài chính - tiền tệ, thị trường bất động sản… Nghiêm túc thực hiện chủ trương về tích tụ, tập trung quyền sử dụng đất nông nghiệp, bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người nông dân; xử lý các ngân hàng thương mại yếu kém, bảo đảm an toàn hệ thống. Ưu tiên bố trí nguồn lực để bổ sung, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt hơn Đề án cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; khẩn trương bổ sung xây dựng, thực hiện Đề án cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công và Đề án cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công.
Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, nền nông nghiệp nhiệt đới với nhiều tiềm năng, lợi thế của nước ta cần được ưu tiên quan tâm đầu tư, cơ cấu lại, hướng tới một nền nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái bền vững, hiệu quả; phát triển chuỗi nông sản thực phẩm sạch, an toàn và nông sản thực phẩm hữu cơ phục vụ đời sống nhân dân và xuất khẩu. Chuyển mạnh từ sản xuất theo hộ gia đình riêng lẻ sang sản xuất theo hộ gia đình liên kết trong hợp tác xã kiểu mới và các mô hình kinh tế hợp tác khác. Tăng cường liên kết "bốn nhà": Nhà nông - Nhà nước - Nhà đầu tư - Nhà khoa học. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng để lựa chọn phát triển các sản phẩm phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương, từng vùng và cả nước.
Cần khẩn trương nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách theo hướng nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công, bảo đảm vận dụng đầy đủ, đúng đắn cơ chế thị trường và mục tiêu phi lợi nhuận của các đơn vị này để khơi thông động lực, nguồn lực cả vật chất và tinh thần của các nhà đầu tư và đông đảo đội ngũ trí thức, cán bộ, viên chức đang làm việc trong lĩnh vực này, góp phần tinh giản biên chế, cải cách tiền lương.
3 - Về thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nghị thống nhất cho rằng, so với khi nước ta trở thành thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO), hiện nay tình hình trong nước, khu vực và thế giới đã có nhiều thay đổi, đang tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Bên cạnh thời cơ, thuận lợi, đất nước tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị - xã hội, giữ vững môi trường hoà bình, thuận lợi cho phát triển nhanh và bền vững.
Thực tế thời gian qua và nhiều phân tích, dự báo cho thấy, việc thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới sẽ tạo ra cơ hội mở rộng, đa dạng hoá thị trường với mức ưu đãi cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, mạng lưới sản xuất toàn cầu; góp phần tích cực vào quá trình đổi mới đồng bộ và toàn diện, khơi dậy tiềm năng của đất nước và sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân. Nước ta cũng có cơ hội tham gia sâu hơn vào quá trình định hình các định chế, cơ chế, cấu trúc khu vực và quốc tế; có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của các tổ chức, cá nhân; bảo đảm độc lập, tự chủ, củng cố và duy trì môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người tiêu dùng có thêm cơ hội lựa chọn hàng hóa, dịch vụ chất lượng cao, giá cả cạnh tranh; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, môi trường.
Tuy nhiên, việc khắc phục những hạn chế, yếu kém, tồn tại như đã nêu trong Tờ trình của Bộ Chính trị và triển khai thực hiện các cam kết quốc tế mới cũng sẽ đặt ra nhiều khó khăn, thách thức không chỉ về kinh tế mà còn cả về chính trị, xã hội. Sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhiều ngành, doanh nghiệp và sản phẩm của nước ta sẽ gặp khó khăn hơn. Việc thực hiện các cam kết sâu rộng và cao hơn, nhất là đáp ứng yêu cầu nội luật hóa các cam kết nếu không được nghiên cứu, chuẩn bị kỹ, có lộ trình, bước đi phù hợp thì sẽ có tác động tiêu cực đến quá trình đổi mới, hoàn thiện thể chế, giải quyết những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Việc tự do hóa di chuyển lao động qua biên giới theo cam kết trong Hiệp định hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN, thực hiện các tiêu chuẩn cơ bản về lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng đặt ra những thách thức mới không chỉ đối với sự quản lý của Nhà nước mà còn ảnh hưởng đến ổn định chính trị - xã hội, vai trò và hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam...
Những cơ hội và thách thức nêu trên có mối quan hệ qua lại và có thể chuyển hóa lẫn nhau. Cơ hội có thể trở thành thách thức nếu không được tận dụng kịp thời. Thách thức có thể biến thành cơ hội nếu chúng ta chủ động ứng phó thành công. Vì vậy, khi ký kết, tham gia và triển khai thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cần phải giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế. Kiên định mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi. Coi chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, doanh nhân, doanh nghiệp và đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu; cần tập trung khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nhân, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam. Đẩy mạnh việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật; chủ động xử lý các vấn đề nảy sinh; giám sát chặt chẽ và quản lý hiệu quả quá trình thực hiện các cam kết, nhất là trong những lĩnh vực liên quan đến ổn định chính trị - xã hội. Không ngừng chăm lo xây dựng, nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng tự vệ của quốc gia, các ngành, lĩnh vực và các tổ chức, cá nhân Việt Nam trực tiếp tham gia hội nhập quốc tế. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là công đoàn, phù hợp với yêu cầu của tình hình mới.
Trong 5 - 10 năm tới, cần tập trung ưu tiên xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách, biện pháp thực hiện các thỏa thuận đã ký kết, đáp ứng yêu cầu bảo đảm nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế gắn với giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Trước hết, phải tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân, nhận thức đầy đủ, đúng đắn về cơ hội và thách thức từ việc thực thi các hiệp định kinh tế, thương mại mới; không ảo tưởng, mất cảnh giác và cũng không lo lắng thái quá, dẫn đến thiếu sự chủ động, tự tin cần thiết.
Nói tóm lại, để thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chúng ta phải làm tốt công tác chuẩn bị và thực thi rất nhiều mặt, cả về chính sách, luật pháp, nhân lực, thực lực, sức cạnh tranh, tư tưởng, tâm thế... một cách chủ động, chắc chắn và tự tin.
4 - Về xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Ban Chấp hành Trung ương khẳng định, hơn 80 năm qua, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho đất nước; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết chặt chẽ, vững chắc; bằng mối liên hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ. Thực tế từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và nhờ thế đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng.
Ngày nay, trong điều kiện mới, đứng trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới với quy mô, tầm vóc lớn lao, có nhiều khó khăn, phức tạp mới, hơn bao giờ hết, chúng ta càng cần phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng, chăm lo xây dựng Đảng ta thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng; thống nhất cao về ý chí, hành động; trong sạch về đạo đức, lối sống; chặt chẽ về tổ chức; gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo đưa đất nước ngày càng phát triển. Đại hội XII của Đảng đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, đồng bộ, trong đó nhấn mạnh phải tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, với trọng tâm là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
Cái mới của lần này là Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Trong đó nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; thậm chí sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân.
Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Trung ương khẳng định sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể. Quản lý cán bộ, đảng viên còn lỏng lẻo. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, chậm đổi mới, kém hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi chưa thường xuyên, không nghiêm túc. Chưa phát huy đầy đủ, hiệu quả vai trò của nhân dân trong việc giám sát, phản biện, góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hình thức khác.
Về nhiệm vụ, giải pháp, Trung ương thống nhất phải tiến hành đồng bộ nhiều công việc cụ thể, thiết thực, tập trung vào bốn nhóm: Về giáo dục chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình; về cơ chế, chính sách; về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, "lợi ích nhóm". Rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; công tác cán bộ, công tác kiểm tra; công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận. Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, muốn Nghị quyết này đi vào cuộc sống, tạo ra chuyển biến rõ rệt thì cả hệ thống chính trị phải vào cuộc. Từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác thực hiện. Ở đây, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từng đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải tự giác, gương mẫu thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm rất cao, sự nỗ lực rất lớn.
5 - Ngoài các vấn đề nêu trên, tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương với tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, nhân dân, đất nước, đã xem xét kỹ lưỡng, toàn diện các vấn đề liên quan đến việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân tại tỉnh Ninh Thuận; nhất trí cao với Tờ trình của Bộ Chính trị. Đồng thời, giao cho Ban cán sự đảng Chính phủ phối hợp với Đảng đoàn Quốc hội tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Trung ương, hoàn thiện báo cáo trình Quốc hội xem xét, quyết định.
Thưa các đồng chí,
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã thành công tốt đẹp. Tổ chức thực hiện có kết quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương tại Hội nghị lần này sẽ góp phần quan trọng đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống, thúc đẩy việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Tôi đề nghị, mỗi đồng chí Ủy viên Trung ương, trên cương vị công tác của mình, hãy phát huy hơn nữa vai trò trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp uỷ, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương.
Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hoàn thành tốt trọng trách trước Đảng, nhân dân, đất nước.
Xin trân trọng cảm ơn.
(http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/30969702-phat-bieu-be-mac-hoi-nghi-lan-thu-tu-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-cua-tong-bi-thu.html )


Hội nghị Trung ương 4 đã thông qua nhiều nội dung quan trọng

THEO TTXVN

(GDVN) - Sáng 14/10, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc.
Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, tham dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào các Báo cáo và Đề án.
Bộ Chính trị đã tiếp thu, giải trình những vấn đề còn gây thắc mắc và Ban Chấp hành Trung ương thống nhất cao thông qua các nghị quyết, kết luận của Trung ương.
Phát biểu bế mạc Hội nghị, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả chủ yếu Hội nghị đã đạt được.
Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội
Ban Chấp hành Trung ương nhất trí cho rằng, năm 2016 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, bên cạnh thuận lợi, đã xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức gay gắt.
Nhờ có sự đổi mới mạnh mẽ, năng động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện và sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực.
Trong 9 tháng đầu năm, kinh tế tăng trưởng khá, quý sau cao hơn quý trước, tuy thấp hơn so với kế hoạch, nhưng là mức cao trong khu vực và thế giới.
Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát. Các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm...
Dự báo, đến cuối năm 2016, có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức 11/13 chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị.
Tuy nhiên, nền kinh tế đất nước vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức.
Trong những tháng cuối năm, để đạt mức tăng trưởng 6,3% - 6,5% cần dồn sức giải ngân thực hiện các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước; huy động nguồn lực xã hội để phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản; xử lý những ách tắc trong tiêu thụ than; phát triển mạnh du lịch.
Trung ương xác định: Năm 2017, tiếp tục tập trung bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội;
Tạo chuyển biến rõ rệt trong việc thực hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế;
Phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội;

Ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường;
Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí;
Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia;
Giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước;
Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tổng Bí thư chỉ rõ: Để có thể hoàn thành được mục tiêu, nhiệm vụ trên, cần tiếp tục phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.
Tập trung ưu tiên xây dựng, hoàn thiện thể chế để cải thiện mạnh mẽ hơn môi trường đầu tư, kinh doanh. Khắc phục tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư từ nguồn vốn ODA, vốn ngân sách Nhà nước; thất thu, bội chi, mất cân đối lớn về ngân sách Nhà nước.
Kiểm soát chặt chẽ nợ công trong ngưỡng an toàn; xử lý căn bản và triệt để hơn các ngân hàng thương mại yếu kém, nợ xấu ngân hàng và nợ đọng xây dựng cơ bản.
Thực hiện có hiệu quả chủ trương thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng và giải quyết các vấn đề xã hội cấp thiết, nhất là khắc phục hậu quả sự cố môi trường ở miền Trung, củng cố niềm tin của nhân dân.
Đổi mới mô hình tăng trưởng - Nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu
Tổng Bí thư nêu rõ: Mô hình tăng trưởng mà nước ta đổi mới, xây dựng là mô hình tăng trưởng ngày càng dựa nhiều hơn vào năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế;
Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực theo tín hiệu và cơ chế thị trường; phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tài năng, trí sáng tạo của con người và mọi tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các địa phương và cả nước; tạo cơ hội cho mọi người dân tham gia và cùng hưởng lợi từ tăng trưởng;
Chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ gìn môi trường sinh thái.
Toàn cảnh bế mạc Hội nghị.
Về nhiệm vụ và giải pháp, Tổng Bí thư nhấn mạnh:
Trước hết cần đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện 3 đột phá chiến lược.
Theo đó, tăng cường đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi cho khởi nghiệp và đổi mới, sáng tạo, nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ; phát triển một số khu hành chính - kinh tế đặc thù, đô thị thông minh, các khu công nghiệp, khu công nghệ cao.
Nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và đổi mới, sáng tạo của doanh nghiệp; coi doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới, phát triển và chuyển giao khoa học - công nghệ.
Xây dựng khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam phát triển cả về số lượng và chất lượng, thật sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy tổ chức, cán bộ của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trọng dụng nhân tài.
Chú trọng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, theo hướng hiện đại, tập trung ưu tiên cho công nghệ thông tin; đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng.
Phát triển đồng bộ, lành mạnh các loại thị trường, nhất là thị trường lao động, thị trường khoa học - công nghệ, thị trường tài chính - tiền tệ, thị trường bất động sản…
Nghiêm túc thực hiện chủ trương về tích tụ, tập trung quyền sử dụng đất nông nghiệp, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người nông dân; xử lý các ngân hàng thương mại yếu kém, bảo đảm an toàn hệ thống.
Ưu tiên bố trí nguồn lực để bổ sung, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt hơn Đề án cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; khẩn trương bổ sung xây dựng, thực hiện Đề án cơ cấu lại ngân sách Nhà nước, quản lý nợ công và Đề án cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công.
Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, nền nông nghiệp nhiệt đới với nhiều tiềm năng, lợi thế của nước ta cần được ưu tiên quan tâm đầu tư, cơ cấu lại, hướng tới một nền nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái bền vững, hiệu quả; phát triển chuỗi nông sản thực phẩm sạch, an toàn và nông sản thực phẩm hữu cơ phục vụ đời sống nhân dân và xuất khẩu.
Chuyển mạnh từ sản xuất theo hộ gia đình riêng lẻ sang sản xuất theo hộ gia đình liên kết trong hợp tác xã kiểu mới và các mô hình kinh tế hợp tác khác.
Tăng cường liên kết "bốn nhà": Nhà nông - Nhà nước - Nhà đầu tư - Nhà khoa học.
Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng để lựa chọn phát triển các sản phẩm phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương, từng vùng và cả nước.
Trung ương yều cầu khẩn trương nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách theo hướng nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công, bảo đảm vận dụng đầy đủ, đúng đắn cơ chế thị trường và mục tiêu phi lợi nhuận của các đơn vị này để khơi thông động lực, nguồn lực cả vật chất và tinh thần của các nhà đầu tư và đông đảo đội ngũ trí thức, cán bộ, viên chức đang làm việc trong lĩnh vực này, góp phần tinh giản biên chế, cải cách tiền lương.
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân
Trung ương nhận định:
Việc thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới sẽ tạo ra cơ hội mở rộng, đa dạng hóa thị trường với mức ưu đãi cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, mạng lưới sản xuất toàn cầu; góp phần tích cực vào quá trình đổi mới đồng bộ và toàn diện, khơi dậy tiềm năng của đất nước và sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân.
Nước ta cũng có cơ hội tham gia sâu hơn vào quá trình định hình các định chế, cơ chế, cấu trúc khu vực và quốc tế; có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của các tổ chức, cá nhân; bảo đảm độc lập, tự chủ, củng cố và duy trì môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Người tiêu dùng có thêm cơ hội lựa chọn hàng hóa, dịch vụ chất lượng cao, giá cả cạnh tranh; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, môi trường.
Khi ký kết, tham gia và triển khai thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cần giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế.
Kiên định mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi.
Coi chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, doanh nhân, doanh nghiệp và đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu; cần tập trung khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nhân, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam.
Đẩy mạnh việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật; chủ động xử lý các vấn đề nảy sinh; giám sát chặt chẽ và quản lý hiệu quả quá trình thực hiện các cam kết, nhất là trong những lĩnh vực liên quan đến ổn định chính trị - xã hội.

Rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. 
Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.
Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; công tác cán bộ, công tác kiểm tra; công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên.
Phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận.
Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, muốn Nghị quyết này đi vào cuộc sống, tạo ra chuyển biến rõ rệt, cả hệ thống chính trị phải vào cuộc.
Từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác thực hiện.
Ở đây, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từng đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải tự giác, gương mẫu thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm rất cao, sự nỗ lực rất lớn.
Tổng Bí thư nhấn mạnh: Tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết, kết luận của Trung ương tại Hội nghị lần này sẽ góp phần quan trọng đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đi vào cuộc sống, thúc đẩy việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Tổng Bí thư đề nghị mỗi đồng chí Ủy viên Trung ương, trên cương vị công tác của mình, phát huy hơn nữa vai trò trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các Nghị quyết, kết luận của Trung ương.

Theo TTXVN