Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016

Thực sự Biên bản Hội nghị Thành Đô Việt Nam - Trung Quốc đã đồng ý những gì?

Vấn đề thành phần nhân sự của Hội đồng Tối cao. Nguyễn Văn Linh bỗng dưng nêu ra một vấn đề:  Hội đồng Tối cao sẽ tuân theo nguyên tắc làm việc như thế nào, là nguyên tắc điều hòa nhất trí hay nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số? Giang Trạch Dân khôn khéo trả lời câu hỏi này. Ông nói, nếu 4 bên đã đều đồng ý thành lập Hội đồng Tối cao thì họ nên xuất phát từ đại cục lợi ích dân tộc, thực sự thực hiện hòa giải dân tộc. Dưới tiền đề đó, phía Trung Quốc “có thể đồng ý” Hội đồng Tối cao làm việc theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí.


Cuộc gặp gỡ nội bộ lãnh đạo cấp cao Trung Quốc và Việt Nam tiến hành lặng lẽ tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990. Tham gia cuộc gặp nội bộ này phía Trung Quốc có Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc đương nhiệm Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc Vụ Viện đương nhiệm Lý Bằng; phía Việt Nam có Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Trung ương ĐCSVN Phạm Văn Đồng. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa các nhà lãnh đạo chủ yếu của hai đảng, hai nước sau thời gian gián đoạn 13 năm.

Hồi đó tôi đang làm Trưởng Phòng Nghiên cứu của Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương ĐCSTQ, có tham gia cuộc gặp nói trên với tư cách cán bộ tùy tòng.

Lời nhắn miệng của Đặng Tiểu Bình

Tháng 7 năm 1986, Tổng Bí thư ĐCSVN Lê Duẩn qua đời. Tháng 12, tại Đại hội ĐCSVN lần thứ VI, Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư TƯ ĐCSVN. Những năm 60, trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ Nguyễn Văn Linh là thành viên Cục Miền Nam của ĐCSVN, có thái độ hữu hảo với Trung Quốc, từng nhiều lần đến thăm Trung Quốc. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đều từng hội kiến với Nguyễn Văn Linh. Sau khi được bầu làm Tổng Bí thư TƯ ĐCSVN, ông đã đã tích cực đẩy mạnh thực thi đường lối mới của cách mạng Việt Nam và bắt tay cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc.

Trong thời gian từ cuối 1988 đến đầu 1989, phía Việt Nam trước sau đã ba lần ngỏ ý mong muốn cải thiện mối quan hệ Việt-Trung. Tháng 10/1989, Đặng Tiểu Bình hội kiến với Cay-xỏn Phôm-vi-hản [Kaysone Phomvihane] Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Lào, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Lý Gia Trung [1] hồi đó là Trưởng phòng Đông Dương thuộc Vụ Châu Á Bộ Ngoại giao từng tham dự cuộc hội kiến này và làm nhiệm vụ ghi chép, có tiết lộ rằng Chủ tịch Cay-xỏn đã chuyển [tới Đặng Tiểu Bình] lời thăm hỏi của Nguyễn Văn Linh, nói Việt Nam nay đã có nhận thức mới đối với tình hình Trung Quốc, thái độ đối với Trung Quốc đã có thay đổi, mong muốn Trung Quốc có thể mời ông thăm Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình cũng đề nghị Cay-xỏn chuyển lời thăm hỏi tới Nguyễn Văn Linh.

Đặng Tiểu Bình nói: Việt Nam đề xuất muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, chúng tôi hoan nghênh. Tôi quen đồng chí Nguyễn Văn Linh từ lâu. Tôi mong muốn đồng chí ấy quả quyết giải quyết dứt điểm vấn đề Campuchia. Tôi hiện nay tuổi đã cao, sắp nghỉ hưu. Mong sao trước khi tôi nghỉ hưu hoặc không lâu sau khi nghỉ hưu thì vấn đề Campuchia có thể đã được giải quyết, mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam được khôi phục bình thường; như vậy sẽ chấm dứt được một nỗi băn khoăn của tôi. Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh hy vọng Việt Nam rút sạch sành sanh, rút triệt để quân đội ra khỏi Campuchia, thực hiện khối liên hợp 4 bên do Sihanouk đứng đầu (4 bên, tức chính quyền Heng Samrin do Việt Nam ủng hộ, và 3 phái chống lại: Mặt trận Đoàn kết dân tộc giành độc lập, trung lập, hòa bình và hợp tác Campuchia; Kampuchea Dân chủ do Khieu Samphon là đại diện, Mặt trận Giải phóng dân tộc nhân dân Cao-miên với đại diện là Son Sann), chỉ có làm được điều đó thì mới kết thúc quá khứ, khôi phục mối quan hệ Trung-Việt.

Tháng 6/1990, Nguyễn Văn Linh hội kiến Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Trương Đức Duy. Ông nói tình hình quốc tế hiện nay đang biến đổi mạnh, tình hình Đông Âu diễn biến rất phức tạp, tình hình Liên Xô cũng rất nghiêm trọng. Hai nước Việt Nam, Trung Quốc là láng giếng XHCN, ông hy vọng sớm đến Bắc Kinh hội kiến với các đông chí lãnh đạo TƯ ĐCSTQ, thực hiện việc bình thường hóa quan hệ Việt-Trung trong những năm tháng ông còn trên đời.

Ngày 27/8, tại Liên Hợp Quốc, 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an đạt được sự nhất trí về việc giải quyết toàn diện vấn đề  Campuchia và quyết định ngày 10/9 sẽ  triệu tập một cuộc họp thảo luận thông qua 5 văn kiện về việc giải quyết toàn diện mặt chính trị vấn đề  Campuchia. Nội dung chính của các văn kiện đó là 4 bên Campuchia liên hợp cùng tổ chức cơ quan quyền lực lâm thời của Campuchia — Hội đồng Tối cao Toàn quốc Campuchia [SNC, Supreme National Council]. Đây là một bước quan trọng và một tiến triển có tính đột phá trong việc giải quyết chính trị vấn đề Campuchia, cũng là thành quả quan trọng mà cộng đồng quốc tế giành được trong 12 năm tìm kiếm biện pháp giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia.

Trong tình hình như vậy, Chính phủ Trung Quốc quyết định mời các nhà lãnh đạo ĐCSVN tới thăm Trung Quốc để tiến hành trao đổi ý kiến.

Theo chỉ thị từ trong nước và sau khi được Ban Đối ngoại TƯ ĐCSVN thu xếp, chiều ngày 29/8, Đại sứ Trương Đức Duy gặp mặt Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười, thay mặt Giang Trạch Dân và Lý Bằng mời hai ông cùng ông Phạm Văn Đồng đến Trung Quốc thăm nội bộ vào thời gian từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9. Đại sứ còn thông báo, do Đại hội Thể thao châu Á [Á Vận hội, ASIAD] sắp được tổ chức tại Bắc Kinh nên để tiện giữ bí mật, địa điểm hội đàm sẽ thu xếp tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Phía Việt Nam rất vui mừng tiếp nhận lời mời.

Điểm mấu chốt của cuộc đàm phán: “+1” hay không

Ngày 31/8, tôi được Phó Trưởng ban Ban Liên lạc Đối ngoại TƯ ĐCSTQ Chu Thiện Khanh gọi tới gặp riêng. Ông báo cho tôi biết 3 ngày sau tôi sẽ đi theo Giang Trạch Dân và Lý Bằng đến Thành Đô tham gia cuộc gặp gỡ nội bộ Trung Quốc-Việt Nam, và yêu cầu tôi gấp rút viết một tài liệu về tình hình phong trào cộng sản quốc tế, sự biến đổi tình hình ở Đông Âu và Liên Xô, tình hình đảng ta khôi phục quan hệ với các đảng cộng sản từng cắt quan hệ trong cuộc luận chiến Trung-Xô, để chuẩn bị trình lãnh đạo trung ương đọc. Ông dặn tôi phải nghiêm ngặt giữ bí mật, không được nói việc này dù là với đồng sự hoặc người nhà. Tôi bỏ ra một ngày khẩn trương viết xong tài liệu nói trên và đưa in nộp lên trên.

Ngày 2/9, Giang Trạch Dân và Lý Bằng mỗi người đáp một chuyên cơ cất cánh từ sân bay Tây Giao Bắc Kinh. Nhân viên tùy tòng cũng chia làm hai tốp đi theo. Tốp đi theo Giang Trạch Dân gồm: Phó Chánh Văn phòng TƯ ĐCSTQ Tăng Khánh Hồng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tề Hoài Viễn, Phó trưởng ban Ban Liên lạc Đối ngoại TƯ ĐCSTQ Chu Thiện Khanh. Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Từ Đôn Tín và một số người khác đi theo Lý Bằng, trong đó có tôi.

Chuyên cơ của Lý Bằng cất cánh lúc 3 giờ rưỡi chiều., khoảng 6 giờ đến Thành Đô. Chuyên cơ Giang Trạch Dân cũng đến nơi vào 6 giờ rưỡi.

Chúng tôi trọ tại nhà khách Kim Ngưu ở ngoại thành. Đây là một nhà khách nằm trong khu vườn cây, yên tĩnh mà đơn giản. Hội đàm và tiệc chiêu đãi sẽ làm tại tòa nhà chính số 1 ở chính giữa, khách và chủ sẽ trọ tại biệt thự ở hai bên tòa nhà này.

Tối hôm ấy, Giang Trạch Dân và Lý Bằng trao đổi với nhau về phương châm hội đàm. Tăng Khánh Hồng triệu tập các cán bộ tùy tòng của Văn phòng TƯ Đảng, Ban Liên lạc đối ngoại TƯ Đảng, và Bộ Ngoại giao bàn bạc tại chỗ  việc thu xếp chương trình làm việc và lễ nghi đón tiếp trong hai ngày tới, kể cả các chi tiết như bố trí khách và chủ ra vào đi riêng theo cửa nào, ai vào trước, ai vào sau. Tôi có tham gia cuộc bàn bạc này.

11 giờ sáng ngảy 3/9, chuyên cơ Việt Nam hạ cánh xuống sân bay chuyên dụng ở Nam Ninh. Đây là chuyến máy bay hàng không dân dụng Việt Nam đầu tiên bay đến Trung Quốc trong 12 năm nay. Phái đoàn Việt Nam gồm mười mấy người. Ngoài Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng ra, cán bộ chủ yếu đi theo gồm: Chánh Văn phòng TƯ Đảng CSVN Hồng Hà, Trưởng ban Đối ngoại TƯ ĐCSVN Hoàng Bích Sơn và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm. Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Trương Đức Duy cũng đi cùng.

Tề Hoài Viễn, Chu Thiện Khanh, Từ Đôn Tín ra sân bay đón tiếp đoàn Việt Nam. Sau đó khách và chủ cùng đáp chuyên cơ của phía Trung Quốc bay về Thành Đô.

Hai giờ chiều, đoàn Nguyễn Văn Linh tới nhà khách Kim Ngưu. Giang Trạch Dân và Lý Bằng đón khách tại bên ngoài cửa vào tòa nhà chính số 1. Cuộc hội đàm bắt đầu vào khoảng hơn 4 giờ. Phòng họp rộng hơn 200 mét vuông bố trí đơn giản, chính giữa kê chiếc bàn dài, hai đoàn ngồi ở hai bên. Hội đàm tiến hành tổng cộng trong khoảng hơn ba tiếng đồng hồ.

Hồi đó Việt Nam đã rút quân khỏi Campuchia, những vấn đề chưa giải quyết chủ yếu liên quan tới hai mặt: đánh giá và hành xử như thế nào đối với 5 văn kiện của 5 nước thường trực Hội đồng Bảo An LHQ về việc giải quyết vấn đề Campuchia, và vấn đề thành viên của Hội đồng Tối cao toàn quốc Campuchia. Vấn đề của hai mặt đó có liên quan với nhau. Hai phía Trung Quốc và Việt Nam có những điểm đồng thuận, cũng có những điểm bất đồng. Ý kiến bất đồng chủ yếu có hai điểm.

Trước hết, nên đối xử ra sao với 5 văn kiện nói trên. Phía Việt Nam muốn trình bày ý “hoan nghênh”. Lý Bằng nói: Hoàng thân Sihanouk và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, Liên Xô đều tỏ ý ủng hộ 5 văn kiện này, vì thế nên dùng “tán thành”. Sau thảo luận, phía Việt Nam biểu thị đồng ý [với phía TQ], nhưng yêu cầu thêm từ “khung”, phía Trung Quốc cũng đồng ý.

Bất đồng lớn hơn là ở chỗ hạn mức số người của 4 bên trong Hội đồng Tối cao toàn quốc Campuchia. Phía Việt Nam đồng ý “6 (phái Heng Samrin) + 2 (phái Sihanouk) + 2 (phái Khieu Samphon) + 2 (phái Son Sann)” Phía Trung Quốc đề xuất phương án “6 + 2 + 2 + 2 + 2 + 1”; trong đó “1” là Sihanouk, cho rằng Sihanouk là Chủ tịch Hội đồng Tối cao, nên có quyền lực tương ứng. [2]

Phía Việt Nam cảm thấy phương án của Trung Quốc rất khó được phía Phnom Penh tiếp nhận. Cuộc đàm phán trong ngày thứ nhất chưa đạt được đồng thuận về vấn đề này.

Đạt được “Biên bản hội đàm”

Hội đàm kéo dài một mạch đến 8 giờ tối. Đến 8 giờ rưỡi, buổi chiêu đãi mới bắt đầu. Trên bàn tiệc, Giang Trạch Dân và Lý Bằng tiếp tục trao đổi với Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười về những vấn đề chưa đạt đồng thuận.

Sau khi kết thúc buổi chiêu đãi, các cán bộ tùy tòng chính của hai bên tổ chức thành nhóm dự thảo biên bản hội đàm, họp bàn ngay trong đêm hôm ấy. Nhóm này phía Trung Quốc do Tăng Khánh Hồng phụ trách, phía Việt Nam do Hồng Hà phụ trách. Cuộc hội đàm [?] tiến hành cho tới đêm khuya.

Tôi cũng tham gia cuộc họp bàn của nhóm dự thảo biên bản. Nhiệm vụ chính của tôi là sẵn sàng bất cứ lúc nào khi cần là có thể báo cáo cho Giang Trạch Dân và Lý Bằng biết tình hình thảo luận của nhóm, sau đó truyền đạt lại ý kiến của hai vị ấy tới các cán bộ Trung Quốc trong nhóm dự thảo.

Cuộc thảo luận rất gian khổ, bàn bạc từng chữ từng câu. Có một tranh chấp chính là sau khi hai bên Trung-Việt đạt được sự nhất trí ý kiến về vấn đề Campuchia, những ý kiến đó sẽ chuyển lại cho các bên liên quan của Campuchia như thế nào. Qua bàn bạc lâu dài, hai bên đồng ý trình bày là “bằng sự cố gắng của mỗi bên”, “thúc đẩy” các bên Campuchia đạt được thỏa thuận về việc thành lập Hội đồng Tối cao toàn quốc.

Sáng ngày 4/9, lãnh đạo hai bên tiến hành cuộc hội đàm lần thứ hai.

Sau khi đi vào nội dung chính, hai bên tiếp tục bàn vấn đề thành phần nhân sự của Hội đồng Tối cao. Nguyễn Văn Linh bỗng dưng nêu ra một vấn đề:  Hội đồng Tối cao sẽ tuân theo nguyên tắc làm việc như thế nào, là nguyên tắc điều hòa nhất trí hay nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số?

Giang Trạch Dân khôn khéo trả lời câu hỏi này. Ông nói, nếu 4 bên đã đều đồng ý thành lập Hội đồng Tối cao thì họ nên xuất phát từ đại cục lợi ích dân tộc, thực sự thực hiện hòa giải dân tộc. Dưới tiền đề đó, phía Trung Quốc “có thể đồng ý” Hội đồng Tối cao làm việc theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí.

Phạm Văn Đồng đồng ý với ý kiến của Giang Trạch Dân.

Sau khi giải quyết xong các vấn đề chủ yếu, việc còn lại là quyết định cuối cùng “Biên bản hội đàm [nguyên văn Hội đàm kỷ yếu]”.

Về  vấn đề Hội đồng Tối cao Campuchia, Biên bản hội đàm viết: Hai bên cho rằng, việc sớm thành lập Hội đồng Tối cao Campuchia là bước then chốt để giải quyết chính trị vấn đề Campuchia. Hội đồng này nên tuân theo nguyên tắc bất cứ phái nào cũng không được chiếm địa vị chi phối, cũng không loại trừ bất cứ phái nào, [Hội đồng này] do 4  bên Campuchia tổ chức nên. Việc để Hoàng thân Sihanouk làm Chủ tịch [Hội đồng] là thích nghi. Hai bên đồng ý sẽ thông báo cho các bên Campuchia và sẽ làm việc với họ, cố gắng sớm nhất dựa theo phương thức 6+2+2+2+1 thành lập Hội đồng Tối cao và [Hội đồng này] sẽ làm việc căn cứ theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí.

Về vấn đề bình thường hóa quan hệ Trung Quốc-Việt Nam, Biên bản chỉ ra: Hai bên đã trao đổi ý kiến về vấn đề sớm khôi phục mối quan hệ hai đảng, hai nước, đồng ý cùng với việc giải quyết chính trị vấn đề Campuchia một cách toàn diện, công bằng và hợp lý, sẽ từng bước cải thiện quan hệ hai đảng, hai nước, tiến tới thực hiện bình thường hóa. Trong đó hai chữ “hai đảng” được thêm vào là căn cứ theo kiến nghị của Phạm Văn Đồng.

Hai bên còn trao đổi ý kiến về các biện pháp cụ thể để từng bước cải thiện quan hệ, nội dung gồm có: 1) Hai bên áp dụng biện pháp giảm lực lượng quân đội ở biên giới, tránh tất cả các hoạt động đối địch; 2) Đình chỉ mọi tuyên truyền đối địch với đối phương; 3) Tăng cường sự đi lại của dân chúng; 4) Khôi phục trật tự bình thường trong buôn bán ở vùng biên giới [biên mậu]; 5) Lãnh đạo cấp cao hai nước tiến hành tiếp xúc và thăm lẫn nhau.

Bắt đầu tiến trình bình thường hóa quan hệ

Hai giờ rưỡi chiều, hai bên Trung Quốc-Việt Nam làm lễ ký kết [Biên bản Hội đàm] tại tòa nhà chính số 1. Phía Trung Quốc đề nghị để Giang Trạch Dân, Lý Bằng và Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười thay mặt đảng và chính phủ nước mình ký kết. Phía Việt Nam đồng ý.

Ngay tại lễ ký kết, Giang Trạch Dân dẫn câu thơ thất luật của Lỗ Tấn [3] để tặng các đồng chí Việt Nam: “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu” [tạm dịch: Qua kiếp nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù]. Hội trường vang lên tiếng vỗ tay.

Tối hôm ấy, Nguyễn Văn Linh cũng xúc động viết 4 câu thơ [4]: “Huynh đệ chi giao số đại truyền, oán hận khoảnh khắc hóa vân yên, tái tương phùng thời tiếu nhan khai, thiên tải tình nghị hựu trùng kiến.” [dịch ý:  Tình anh em truyền bao đời, trong khoảnh khắc mọi oán hận tan thành mây khói, khi gặp nhau nở nụ cười, xây đắp lại tình hữu nghị muôn đời].

Trong tháng đó, bốn bên Campuchia gặp nhau tại Jakarta [Indonesia], thành lập Hội đồng Tối cao toàn quốc Campuchia, tuyên bố các bên Campuchia đều tiếp thụ các văn kiện do 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an LHQ thông qua và dùng các văn kiện đó làm cơ sở để giải quyết chính trị vấn đề Campuchia.

Ngày 29/6/1991, Đại hội lần thứ VII Đảng CSVN bế mạc, Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng làm Cố vấn. Tinh thần cơ bản chung của Đại hội là: Việt Nam ở vào giai đoạn đầu [sơ cấp]  của CNXH, phát triển sức sản xuất là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời tiếp tục chấp hành đường lối cải cách đổi mới mở cửa do Đại hội VI đề ra, chủ trương hợp tác hữu nghị với các nước.

Buổi chiều ngày thứ hai sau khi Đại hội bế mạc, Lý Bằng hội kiến đại biểu đặc biệt của Trung ương ĐCSVN Lê Đức Anh và Hồng Hà. Hai bên đồng ý tổ chức sớm nhất cuộc gặp gỡ cấp cao Trung Quốc-Việt Nam.

Ngày 5/11, tân Tổng Bí thư TƯ ĐCSVN Đỗ Mười và tân Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao đảng và chính phủ Việt Nam chính thức thăm Trung Quốc.

Hai nước ra công báo chung, tuyên bố sẽ phát triển mối quan hệ hữu nghị láng giềng trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, và dựa trên cơ sở 4 nguyên tắc về mối quan hệ đảng “Độc lập tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau” khôi phục mối quan hệ bình thường giữa hai đảng Trung Quốc-Việt Nam..

Giang Trạch Dân phát biểu: Sau khi mối quan hệ giữa hai nước trải qua một đoạn đường quanh co, các nhà lãnh đạo hai nước Trung Quốc-Việt Nam hôm nay có thể ngồi lại cùng nhau tiến hành cuộc gặp cấp cao là việc có ý nghĩa quan trọng. Ông nói, đây là một lần gặp gỡ kết thúc quá khứ, mở ra tương lai, đánh dấu sự bình thường hóa mối quan hệ giữa hai nước.

Ngô Hưng Đường (Trung Quốc) 
Nguồn:

吴兴唐: 中越成都内部会晤真相

《中国新闻周刊》2015-08-01

Nguyễn Hải Hoành dịch và ghi chú

-------------------------
Ghi chú của người dịch:

* Nguyên văn đầu đề là: Sự thật về cuộc gặp nội bộ Trung Quốc-Việt Nam tại Thành Đô.    Bài đăng trên tuần san Trung Quốc Tân Văn ngày 1/8/2015. Ngô Hưng Đường吴兴唐từ 1960 công tác lần lượt tại Vụ Một thuộc Ban Liên lạc đối ngoại TƯ ĐCSTQ, Viện Nghiên cứu Liên Xô-Đông Âu, Đại sứ quán TQ tại CHLB Đức, từng làm Trưởng phòng Nghiên cứu BLLĐN, Cục trưởng Cục Thông tin và người phát ngôn của BLLĐN. Sau 1993 là Tổng Thư ký Hội Giao lưu quốc tế TQ. Hiện là giáo sư thỉnh giảng của Học viện Quan hệ quốc tế ĐH Nhân dân Bắc Kinh, Cố vấn Hội Phong trào cộng sản quốc tế TQ. Từng viết hơn 200 bài báo.

[1] Lý Gia Trung 李家忠 (1936-), biết tiếng Pháp, tiếng Việt, từng có 40 năm tiếp xúc với Việt Nam, 18 năm làm việc ở VN, làm Bí thư thứ hai, Tham tán chính trị, 12/1995-7/2000 là Đại sứ TQ tại VN, từng viết nhiều bài báo và sách về VN, Hồ Chí Minh.

[2] Theo Lý Gia Trung (xem http://nghiencuuquocte.org/2014/11/07/noi-tinh-cuoc-gap-lanh-dao-trung-viet-tai-thanh-do/) : Phía TQ đưa phương án SNC gồm Sihanouk là Chủ tịch, ngoài ra phái Heng Samrin có 6 người, 3 phái chống đối (Khmer Đỏ, Ranaridh, Son Sann) mỗi phái 2. Nguyễn Văn Linh tán thành. Đỗ Mười nói phương án này khó được phái Heng Samrin tiếp thu. Phạm Văn Đồng nói phương án của TQ không công bằng, không hợp lý. Nhưng cuối cùng phía VN vẫn chấp nhận.  Qua hai bài của Lý Gia Trung và Ngô Hưng Đường, có thể thấy trong hội đàm Thành Đô, phía VN tập trung vào vấn đề khôi phục quan hệ TQ-VN, còn TQ tập trung vào việc giải quyết vấn đề CPC.

[3] Giang Trạch Dân lại nói câu thơ này là của nhà thơ Giang Vĩnh (1681-1762), người cùng quê với GTD. Có lẽ Lỗ Tấn đã mượn câu thơ này để đưa vào bài thơ “Đề Tam Nghĩa tháp” ông làm năm 1933 khi đến thăm tháp Tam Nghĩa. Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Quảng Tây Cố Tiểu Tùng cũng nói như GTD.

[4] Chưa rõ ông Linh viết mấy câu thơ này bằng chữ Hán hay chữ Quốc ngữ rồi được dịch ra tiếng TQ.

(Văn Hóa Nghệ An)

Sự thực ‘thần dược’ giúp Hitler cùng ‘bước sóng’ với người tình trẻ

Trong cuốn Drugs in Nazi Germany vừa xuất bản, nhà văn Norman Ohler đã tiết lộ chi tiết về loại “thần dược” được Hitler sử dụng cho mình và người tình trẻ.

Adolf Hitler luôn xuất hiện trong hình ảnh một người đàn ông “3 không”: không rượu, không cà phê, không thuốc lá. Nhưng những người thân cận thì hiểu rõ trùm phát xít này đích thực là một con nghiện nặng các loại thuốc kích thích, đặc biệt là loại thuốc có tên là Eukodal, một hợp chất chứa oxycodon tổng hợp từ thuốc phiện do bác sĩ có tên Theodor Morell kê đơn và trực tiếp tiêm. Và lý do để Hitler dùng những loại thuốc này, trước hết là để luôn dồi dào năng lượng và tỉnh táo.
Năm 1936, sức khỏe của Hitler yếu đến mức dường như không thể vận động. Hắn liên tục bị đầy hơi, chàm ở chân, và thậm chí không thể đi giày. Lúc này, bác sĩ Morell đã tiêm cho hắn một liều và hắn trở lại phong độ ngay sau đó.
Và cũng từ đây ông Morell trở thành bác sĩ riêng và là cứu cánh cho Hitler mỗi lúc hắn cần đến sự tỉnh táo và khỏe mạnh tức thì.
Trước mỗi bài phát biểu lớn, bao giờ hắn cũng được tiêm một liều để có thể hùng hồn trước đám đông. Khi gặp cơn cảm lạnh bất ngờ, một mũi tiêm có thể giải quyết mọi rắc rối. Và để giữ cho cánh tay giơ lên liên tục mà không biết mỏi khi làm lễ tuyên thệ hay các nghi thức cần giơ tay chào ở Đức Quốc xã, Hitler cần đến một mũi tiêm.

Người tình trẻ của Hitler, Eva Braun
Các glucose, vitamin và các chất kích thích trong mũi tiêm đó sẽ khiến não bộ lập tức được bổ sung nguồn năng lượng sau 20 giây và cho phép Hitler có thể chỉ cần mặc một bộ cánh mỏng giữa ngày giá lạnh mà không thấy rét và sang sảng nói hàng tiếng không mệt.
Đặc biệt, kể từ khi quân Đức bị đánh bại ở Stalingrad, Hitler yếu đến mức chỉ đủ sức ngồi ngắm lũ quạ và bắt chước tiếng súng máy. Vậy nhưng một liều tiêm đã khiến hắn trở lại hoạt bát như có phép màu.
Trước khi tiêm, Hitler mệt mỏi, kiệt sức và không thể ngủ nhưng sau khi tiêm, hắn đột nhiên tươi mới và cực kỳ mãn nguyện. Vì quá ưa chuộng thuốc kích thích mà trùm phát xít đã dùng thường xuyên với một số lượng khổng lồ. Và để đủ thuốc dùng cho Hitler, bác sĩ Morell phải đặt riêng cửa hàng thuốc Engel ở Berlin những đơn hàng “khủng”.
Ngoài việc dùng thuốc để tỉnh táo, Hitler còn sử dụng thuốc để có cuộc sống sung mãn với người tình trẻ, Eva Braun. Bác sĩ Morell cũng là người kê đơn cho cô người tình trẻ của Hitler này.
Có điều, Hitler được tiêm testosterone để tăng khả năng tình dục, còn cô người tình ít hơn 22 tuổi thì được tiêm thuốc để cô có thể cùng "bước sóng" với Hitler. Và thuốc cũng giúp Braun trì hoãn kinh nguyệt để ít nhất họ có thể vui vẻ bên nhau trong những giờ nghỉ ngắn ngủi giữa các cuộc họp quân sự kéo dài lê thê. Đó là điều mà Hitler muốn.
Có lần, Hitler thậm chí còn tuyên bố rằng mối quan hệ ngoài hôn nhân xét về nhiều mặt tuyệt vời hơn vì mối quan hệ này bắt nguồn từ hấp dẫn tình dục tự nhiên. Hắn ta dường như tin tưởng vào hiệu ứng mà tình yêu thể xác mang lại.
Với Hitler, không có tình dục, thì không có nghệ thuật, hội họa, âm nhạc. Theo nội dung cuốn sách, trùm phát xít phải thường xuyên hủy những đợt khám bệnh để che giấu vết thương cơ thể do những hành vi tình dục thô bạo mà người tình Braun để lại trên thân thể hắn.
Tuy vậy với Hitler, thứ hắn cần nhất với những liều thuốc kích thích là giúp cho tinh thần, trí não sáng suốt. Khi Hồng quân Liên Xô đang chiếm ngày một nhiều thành phố từ Đông Prussia tháng 11/1944, Hitler được tiêm nhiều thuốc kích thích đến mức ngay cả chuyên gia tiêm như ông Morell cũng không biết phải chọc mũi kim vào đâu. Lớp da phía trên các tĩnh mạch bị chọc nhiều lần đến mức sưng tấy, thành sẹo. Bác sĩ Morel từng phải nói: "Tôi hủy mũi tiêm hôm nay để cho các lỗ cắm kim tiêm trước có cơ hội lành lặn".
Việc sử dụng quá nhiều thuốc kích thích đã khiến Hitler khốn khổ vì tác dụng phụ. Hắn rơi vào tình trạng lệ thuộc vào thuốc. Khi thuốc giảm tác dụng là những cơn run của Hilter lại quay lại. Vào cuối năm 1944, những cơn run này ngày càng nghiêm trọng. Và người ta cho rằng chứng run dữ dội ở Hilter là tác dụng trực tiếp của việc uống và tiêm quá nhiều thuốc.
Ngọc Mai

Nước có thiên tai, vua chúa xưa thường tự trách mình

Đăng lúc: 16.10.2016 12:21

In bài viết
Vua Lê Thánh Tông
   Bản thân giới cai trị thời phong kiến cũng ý thức rằng nếu có thiên tai dị thường thì sẽ tự nhận trách nhiệm về mình. Theo quan niệm thời xưa, vua là thiên tử, là con trời, tức thay trời trị dân. Nên nếu trời giáng tai họa thì được coi là chính sách của thiên tử không hợp lòng trời.
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng và giữ nước của dân tộc ta, ngoài việc chiến đấu với giặc ngoại xâm thì ông cha ta còn phải chiến đấu với thiên tai. Do là nước có vị trí địa lý gần biển lại có nhiều sông ngòi rừng núi nên việc trị thủy, chống lũ lụt hầu như năm nào cũng xảy ra. Mỗi khi xảy ra thiên tai thì vua chúa ngày xưa thường làm gì?
Sử chép thời thời Lê Trung Hưng, Đinh Tỵ năm thứ 18 (1617), mùa đông có nhiều hiện tượng lạ khiến lòng người hoang mang. Ngày mồng 4 tháng 10, Hữu Thị Lang lại bộ là Nhân Lĩnh hầu Lưu Đình Chất dâng khải lên Bình An vương (tức chúa Trịnh Tùng) rằng:
“Trộm nghĩ trời xuống tai dị hay điềm lành là do ở sự có đức hay không, làm thiện thì hiện ra điềm lành, làm ác thì răn bằng tai dị… Nay chính sự thi hành không bằng năm trước, mệnh lệnh ban bố đều không thể theo ý khoan hồng của người trên, chỉ chăm làm hà khắc tàn ngược, vét hết tài sản của dân.
Những tiếng than sầu khổ cũng đủ cảm động đến trời, mà trời răn bảo bằng điềm quái lạ, người làm chúa trông thấy thế nên phải tự xét. Kính xin sự răn bảo của trời, thương nuôi dân mọn; phàm một tí gì tiện lợi cho dân thì đều làm, một tệ gì có hại cho dân thì đều bỏ.
Lại càng phải thi nhân chính cho dân… Như thế thì người gần đội ơn mà vui lòng, người xa nghe tiếng mà kéo đến. Thế là được lòng dân. Lòng dân vui ở dưới thì đạo trời ứng ở trên, sẽ thấy sao tai dị chuyển làm sao sáng lành, mưa tai dị chuyển làm mưa hòa thuận, các thứ phúc đều đến cả mà vương đạo đại thành vậy”.
Trịnh Tùng có thể là Chúa giỏi bậc nhất thời Trịnh Nguyễn khi một mình bên ngoài chống lại nhà Mạc, bên trong đề phòng vua Lê và thế lực họ Nguyễn. Ấy vậy mà chính sự vẫn còn có lúc chưa yên. Chính vì vậy, Lê Đình Chất không ngại vạch ra chỗ xấu trong cách cai trị của Trịnh Tùng ngay lúc lòng người hoang mang.
Tuy nhiên, thời xưa thì việc quan lại góp ý với vua chúa cũng phải biết cách chứ không thể huỵch toẹt thì chẳng những không chuẩn tấu mà có khi mất mạng vì khinh quân. Do đó, Lưu Đình Chất phải nói chuyện thiên tai để nhắc nhở vua chúa phải xem lại các chính sách dân sinh.
Bản thân giới cai trị thời phong kiến cũng ý thức rằng nếu có thiên tai dị thường thì sẽ tự nhận trách nhiệm về mình. Theo quan niệm thời xưa, vua là thiên tử, là con trời, tức thay trời trị dân. Nên nếu trời giáng tai họa thì được coi là chính sách của thiên tử không hợp lòng trời.
Thời Lê Sơ, Ất Sửu, Thái Hòa năm thứ 3 (1445), Mùa đông, tháng 10, vì có tai dị, Lê Nhân Tông đã xuống chiếu rằng: “Trẫm là người đứng đầu mà chưa biết việc đời, cho nên liền mấy năm nay tai dị luôn luôn, sấm sét thường phát, mưa dầm quá độ, nước to tràn ngập, đê phòng vỡ lở, nhà cửa của dân đổ nát, sâu bọ sinh nhiều, cắn hại lúa má chốn đồng ruộng, đầm và hồ sụt lấp, dâu và rau ngập khô. Hoặc là vì chính sự có thiếu sót mà hại đến hòa khí của trời đất, ngục tụng không công bằng mà khí vận âm dương biến đổi chăng? Muốn tiêu sự trách phạt của trời cao, phải ban rộng ơn huệ cho kẻ dưới. Các điều bớt thuế giảm tội đều có thứ bậc khác nhau”.
Quan điểm mệnh trời ngày xưa mang nhiều màu sắc duy tâm. Tuy nhiên, ở góc độ nào đó thì việc vua chúa phải chịu trách nhiệm về thiên tai cũng có tính biện chứng nhất định. Nếu triều đình có chính sách dân sinh tốt thì sẽ đỡ được các thiên tai thảm họa, dân mà được chăm lo đời sống no đủ yên tâm cùng triều đình lo sửa đê điều thì khi có lũ cũng chưa đến nỗi vỡ đê ngay, dù có lụt lội thì dân cũng không bị đói. Ngược lại, chính sách dân sinh không tốt, quan lại lo vơ vét, dân chúng chểnh mảng làm ăn thì khi lũ đến là "tổ kiến hổng, sụt toang đê vỡ ngay".
Ngay cả khi có thiên tai nặng nề đi nữa nhưng nếu người dân hiểu chính sách của triều đình hợp lòng người thì cũng sẽ ít lời oán thán và cũng không tính chuyện làm loạn. Vua Lê Thánh Tông, minh quân bậc nhất sử Đại Việt là người hiểu rõ đạo lý này và ông có chính sách khiến người dân thời sau rất ngưỡng mộ.
Vua Lê Thánh Tông không chỉ lo giữ đê trị thủy mà còn tính trước cả lúc lũ lụt để cứu dân. Chẳng hạn, thời Lê Thánh Tông, sử chép rằng: “Mùa thu tháng 8, ngày mồng 4 (Giáp Thìn 1484), định lệnh đắp bờ ruộng để chứa nước. Có sắc chỉ cho hai ty Thừa Hiến các xứ và các quan phủ huyện châu rằng:
Từ nay trở đi, trong hạt xứ nào có đê vỡ ngập mất lúa mùa, mà thế có thể chứa nước để cấy chiêm, thì hai ty Thừa Hiến truyền cho các quan phủ huyện châu hà đê và khuyến nông, nên vào lúc nước lụt hơi rút, dự làm kế cứu đói cho dân, xem ngắm địa thế, tùy theo tiện nghi, đốc thúc dân làng bồi đắp bờ ruộng, cần chứa lấy nước, làm mùa chiêm, không nên bỏ phứa chức trách của mình, coi thường đau khổ của dân, ngồi nhìn mà không có kế gì, để dân phải đói”.
Anh Tú

Tập Cận Bình tiết lộ ý đồ bành trướng xuống phía Nam của TQ; Trung Quốc hứa hẹn các "món hời" kinh tế cho ông Duterte mang về Philippines


Thủy Thu | 

Tập Cận Bình tiết lộ ý đồ bành trướng xuống phía Nam của TQ

Chuyến thăm viếng Campuchia, Bangladesh đã thể hiện rõ ý đồ xây dựng hệ thống chân rết của Trung Quốc.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vừa kết thúc chuyến thăm Campuchia và bắt đầu đặt chân tới Bangladesh.
Theo giới quan sát, đây là chuyến thăm quan trọng nhất của nhà lãnh đạo Trung Quốc trước thềm Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS) lần thứ 8 khai mạc tại Ấn Độ diễn ra vào chủ nhật tuần này (16/10).
Sau khi phát triển ngoại giao theo hướng Đông Tây, Bắc Kinh bắt đầu vươn "vòi bạch tuộc" tăng cường ảnh hưởng phía Nam, nỗ lực thúc đẩy "hợp tác Nam - Nam".
"Điều này đã giúp Trung Quốc tìm được tiết tấu phù hợp trong ván cờ lớn với Mỹ", báo Đa chiều nhận định.
Với Bangladesh, Tập Cận Bình đề nghị phát triển quan hệ hợp tác chiến lược song phương mật thiết nhằm phục vụ cho chính sách "Một vành đai, một con đường" của Bắc Kinh.
Với Campuchia, ông Tập nhấn mạnh, Campuchia là "thành viên quan trọng trong khối ASEAN" và "ngày càng phát huy được vai trò trong các sự vụ quốc tế và khu vực" nên mong muốn hai bên sẽ phát triển quan hệ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện lên một tầm cao mới.
Tập Cận Bình tiết lộ ý đồ bành trướng xuống phía Nam của TQ - Ảnh 1.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến thăm Campuchia hôm 13/10 vừa qua. (Ảnh: Tân Hoa Xã)
"Chân rết" của Trung Quốc bủa vây phía Nam
Giới nhận định phân tích, phát biểu của Tập Cận Bình tiết lộ ba điểm quan trọng:
Thứ nhất, quan hệ Trung Quốc - Campuchia, Trung Quốc - Bangladesh phát triển đồng nghĩa bức tường thành phía Nam của Bắc Kinh ngày càng chắc chắn.
Một số ý kiến cho rằng, chuyến thăm của ông Tập như lời cảm ơn tới Campuchia và Bangladesh vì sự ủng hộ của họ đối với Bắc Kinh trong vụ kiện biển Đông.
Đặc biệt, Bangladesh luôn được biết đến như một đồng minh thân thiết của Mỹ và Ấn Độ. Và với việc hai nước ký kết ít nhất 21 thỏa thuận trị giá đến gần 40 tỉ USD, Trung Quốc gần như đã kéo Bangladesh khỏi "vòng tay" Mỹ - Ấn Độ.
Bởi "xét ở mức độ nào đó, khu vực Nam Á cũng là sân sau của Trung Quốc", theo ông Tưởng Cảnh Khuê - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nam Á thuộc Đại học Bắc Kinh.
Đa chiều nhận định, ASEAN là "bàn đạp" quan trọng trên con đường phát triển phía Nam, nỗ lực thúc đẩy phát triển quan hệ với ASEAN có ý nghĩa đặc biệt với Bắc Kinh.
Nhưng do ảnh hưởng từ chiến lược "Tái cân bằng châu Á" của Mỹ, Trung Quốc gặp nhiều khó khăn để xây dựng mối quan hệ thân thiết với các quốc gia ASEAN.
"Củng cố quan hệ với các nước phía Nam là bước đi quan trọng trong xung đột Trung - Mỹ", Đa chiều phân tích.
Thứ hai, Tập Cận Bình thăm Bangladesh, Campuchia nhằm "bắc cầu" cho chiến lược "Một vành đai, một con đường" mà thực tế chính là một hình thức thúc đẩy "hợp tác Nam - Nam", xác lập vai trò của Trung Quốc trong liên kết hợp tác giữa nước phát triển và nước đang phát triển.
Theo giới quan sát, Campuchia thực chất không có vai trò quan trọng trong Dự án Đường xuyên Á cũng như chiến lược "Một vành đai, một con đường" của Trung Quốc nhưng lại là một trong những quốc gia có quan hệ ổn định nhất với Bắc Kinh.
Điều này lý giải vì sao, bất cứ chiến lược nào của Bắc Kinh được tiến hành ở Phnom Penh đều thu được kết quả khá khả quan.
Trước đó, trong chuyến thăm Ấn Độ vào năm 2013, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã đề xuất ý tưởng xây dựng hành lang kinh tế Trung Quốc - Myanmar - Ấn Độ và thúc đẩy phát triển thị trường hai nước Trung - Ấn.
Tập Cận Bình tiết lộ ý đồ bành trướng xuống phía Nam của TQ - Ảnh 2.
Trung Quốc thuê cảng Gwada, Pakistan trong 43 năm khiến dư luận cho rằng, kế hoạch này phục vụ ý đồ quân sự.
Cùng năm, Bắc Kinh cũng đề xuất phát triển hành lang kinh tế Trung Quốc - Pakistan.
Hiện nay, Trung Quốc đang có kế hoạch liên kết hai hành lang kinh tế này thành một thể thống nhất. Tuy nhiên, đây là bài toán cực hóc búa bởi Ấn Độ - Pakistan đang tồn tại sự mâu thuẫn khá sâu sắc.
Nhưng Bangladesh và Ấn Độ lại có quan hệ khá mật thiết nên chuyến thăm viếng tới Bangladesh lần này của Chủ tịch Trung Quốc có ý nghĩa rất đặc biệt trong việc thúc đẩy hành lang kinh tế Trung Quốc - Ấn Độ - Bangladesh.
Thứ ba, sau khi phát triển con đường ngoại giao theo hai hướng Đông và Tây, Bắc Kinh quyết định tiếp tục "ra tay" ở phía Nam.
Theo Đa chiều, trước tình hình hiện tại, Trung Quốc sẽ củng cố được sức mạnh ở biển Đông, biển Hoa Đông, eo biển Đài Loan và bán đảo Triều Tiên.
Ở phía Tây, Trung Quốc tích cực hợp tác kinh tế với Pakistan, chủ động tham gia vào chiến dịch chống chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan, tăng cường liên thủ với Nga và tham gia tích cực tại khu vực Trung Đông.
"Mọi sắp đặt ở phía Nam đều nằm trong dự tính của Bắc Kinh. Chỉ cần Mỹ không từ bỏ kế hoạch 'bao vây' Trung Quốc, Bắc Kinh tất sẽ có hành động phản pháo", Đa chiều kết luận.
theo Thế giới trẻ

Trung Quốc hứa hẹn các "món hời" kinh tế cho ông Duterte mang về Philippines

HỒNG THỦY

(GDVN) - Riêng Biển Đông sẽ có "một kế hoạch cho hòa bình và ổn định, ngoài ra không có kế hoạch nào khác."
Manila Bulletin ngày 16/10 cho biết, Đại sứ Trung Quốc tại Philippines ông Triệu Giám Hoa hôm qua nói rằng, lợi ích cho cả Trung Quốc lẫn Philippines trong chuyến thăm chính thức của Tổng thống Rodrigo Duterte tuần tới là không thể tính được bằng tiền.
Chuyến thăm sẽ là bước ngoặt trong quan hệ hai nước.
Ông Hoa tỏ ra rất tự tin khi phát biểu với các phóng viên trong một cuộc họp báo vội vàng ở Kamuning, Queazon.
Đại sứ Trung Quốc nói, hai nước vừa là bạn bè, vừa là láng giềng và người thân của nhau, nên cả hai có thể mong đợi chuyến thăm Trung Quốc của ông Rodrigo Duterte sẽ mang đến những kết quả trong nhiều lĩnh vực.
Đại sứ Trung Quốc tại Philippines Triệu Giám Hoa, ảnh: Tân Hoa Xã.
Đó là nông nghiệp, thủy sản và nuôi trồng thủy sản, quốc phòng, du lịch, cơ sở hạ tầng, thương mại, chống ma túy. Riêng Biển Đông sẽ có "một kế hoạch cho hòa bình và ổn định, ngoài ra không có kế hoạch nào khác."
Ít nhất 12 hiệp định đang được hoàn thiện chờ ký kết. Triệu Giám Hoa đã thấy trước, hoặc chí ít ông đang hy vọng rằng Trung Quốc sẽ trở thành đối tác thương mại số 1 của Philippines.
Không chỉ thuần túy hợp tác thương mại với một thỏa thuận trị giá 3 tỉ USD sắp ký giữa Ngân hàng Trung Quốc với Phòng Thương mại và Công nghiệp Philippines, sẽ có một sự gia tăng đáng kể đầu tư vào cơ sở hạ tầng với các "khoản vay mềm" thông qua AIIB.
Cảnh sát quốc gia Philippines sẽ nhận được tài trợ từ Trung Quốc cho các loại công cụ, công nghệ và vũ khí để chống lại tội phạm ma túy.
Ông Triệu Giám Hoa bình luận: "Mối quan tâm của Tổng thống Rodrigo Duterte chống lại tội phạm ma túy chứng tỏ ông là một người nhân đạo."
Đại sứ Trung Quốc cũng hứa sẽ có một triệu du khách Trung Quốc sang Philippines vào cuối năm nay, mỗi du khách sẽ tiêu trung bình 1000 USD trong thời gian lưu trú tại Philippines.
Khi các phóng viên gạn hỏi ông về những gì đã xảy ra kể từ khi có Phán quyết Trọng tài vụ kiện Biển Đông 12/7, ông Hoa trả lời:
"Phán quyết đã được đưa ra. Chuyến thăm này không phải để bàn về Biển Đông, mà là để củng cố tình hữu nghị và hợp tác.
Chúng tôi không thể làm bất cứ điều gì nếu chúng tôi tiếp tục cãi nhau về nó cả ngày.
(Trung Quốc) Đã thành lập một quỹ 500 triệu USD để thúc đẩy hợp tác khai thác tài nguyên biển, đảm bảo tự do hàng hải, chống cướp biển và bảo vệ môi trường biển."
Ông Hoa đã có 8 lần gặp Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte kể từ khi biết ông đắc cử. Sau cuộc gặp đầu tiên, các tàu hải quân Trung Quốc đã chấm dứt việc rượt đuổi ngư dân Philippines trên Biển Đông. [1]
Philippines Daily Inquirer ngày 16/10 cũng đăng bài phỏng vấn một số học giả Philippines xung quanh chuyến thăm này và vấn đề Biển Đông.
Nhà nghiên cứu Dennis Coronacion từ Đại học Santo Tomas cho rằng, chuyến thăm chính thức Trung Quốc của ông Rodrigo Duterte là phù hợp, tạm gác tranh chấp Biển Đông để củng cố quan hệ, thu hút đầu tư, mở cửa thị trường Trung Quốc.
Còn Richard Heydarian, Giáo sư khoa học chính trị Đại học La De Salle cho rằng, mục tiêu chính của ông Rodrigo Duterte là giảm căng thẳng Biển Đông, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, mở rộng các lĩnh vực hợp tác, đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại để thoát thế phụ thuộc Hoa Kỳ.
"Tôi không chắc chắn rằng liệu ông Duterte thực sự có một chiến lược lâu dài và mạch lạc hay không, nhưng rõ ràng ông đang rất háo hức giảm sự phụ thuộc của Philippines vào Mỹ và xây dựng lại mối quan hệ với Trung Quốc.
Ông Tập Cận Bình đã phải đối mặt với những thảm họa ngoại giao từ khi Hàn Quốc đồng ý triển khai THAAD trên lãnh thổ của mình, Phán quyết Trọng tài 12/7 và quan hệ ấm lên giữa Mỹ với một số nước Đông Nam Á.
Nhưng bây giờ Trung Quốc đang đứng trước cơ hội duy nhất để làm một cuộc "đảo chính" chiến lược đối ngoại bằng cách kéo Manila ra khỏi vòng tay Washington.
Vì vậy hy vọng Bắc Kinh sẽ trải thảm đỏ đón ông Rodrigo Duterte với những củ cà rốt kinh tế. Tuy nhiên tôi vẫn nghi ngờ khả năng Bắc Kinh có bất kỳ nhượng bộ nào đáng kể hay một sự thỏa hiệp thỏa đáng về Biển Đông." [2]
Tài liệu tham khảo:

Hồng Thủy