Toàn cảnh buổi làm việc giữa tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ với lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh vào chiều ngày 16/12.
Báo cáo với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng (Tổ trưởng tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về việc chấp hành nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao cho tỉnh thực hiện từ ngày 1/1/2016 đến 5/12/2016), Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Đặng Ngọc Sơn báo cáo, qua hai trận lũ lịch sử năm 2010 và 2016 vừa qua, thủy điện Hố Hô đã gây nhiều thiệt hại nặng nề cho nhân dân, địa phương.
Nguyên nhân chính theo vị Phó Chủ tịch tỉnh này là hàng loạt yếu kém vẫn chưa được chủ đầu tư nhà máy khắc phục, bao gồm thiếu hệ thống quan trắc tự động từ ngay ở vùng thượng lưu để bảo đảm việc điều tiết nước một cách chủ động, đặc biệt quá trình vận hành, điều tiết xả lũ không chấp hành nghiêm quy trình được cấp phép, không thông báo kịp thời khiến người dân không kịp trở tay.
Ông Sơn đề nghị Bộ Công thương đánh giá lại toàn diện hiệu quả của dự án thủy điện này; trước mắt khi thủy điện Hố Hô chưa hoàn thiện được các vấn đề, bộ ngành trung ương, tỉnh yêu cầu, thì Chính phủ xem xét cấp kinh phí triển khai dự án tái định cư cho bà con bị ngập sâu.
Thủy điện Hố Hô nhiều lần bị lên án là xả lũ không tuân thủ quy trình, khiến người dân rốn lũ Hương Khê không kịp trở tay.
Là người nhiều lần trực tiếp thị sát việc xả lũ của nhà máy thủy điện Hố Hô, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh Lê Đình Sơn gay gắt chỉ ra những tồn tại không dễ khắc phục của nhà máy thủy điện Hố Hô, như không có tràn chảy nước tự do, hồ không có ổ bụng tích trữ được nhiều nước, không có quan trắc trên thượng lưu, không có báo động ở dưới hạ du. Đấy là lí do theo ông Sơn, thủy điện Hố Hô luôn bị động khi có mưa lũ.
“Báo cáo với bộ trưởng và các đồng chí trong đoàn, thủy điện Hố Hô toàn "nóng tay bắt lỗ tai". Nước đổ vô phải xả gấp, vì không xả thì vỡ hồ"- ông Sơn nói.
Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Công thương yêu cầu chủ đầu tư nhà máy Hố Hô phải có quan trắc thượng lưu, hạ du, phải có bản đồ ngập lụt và phải có báo động, có diễn tập. Vận hành hồ này một cách thận trọng, phải rút kinh nghiệm ngay việc điều hành xả lũ.
Thậm chí, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh đặt ra câu hỏi về sự tồn tại của thủy điện Hố Hô và đề nghị đại diện Bộ Công Thương tính toán kỹ vấn đề này. “Thủy điện Hố Hô dù đã xây ra rồi thì vẫn phải xem có để tồn tại hay không và điều này Bộ Công Thương nên tính, vì cái khó cho Hà Tĩnh là Nhà máy thủy điện Hố Hô nằm trên đất Quảng Bình, nhưng nước thì đổ về Hà Tĩnh”- ông Sơn kiến nghị.
Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh kiến nghị Bộ Công Thương xem xét, tính toán kỹ có nên để thủy điện Hố Hô tồn tại hay không?
Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cùng đại diện Bộ Công Thương ghi nhận những ý kiến phản ánh của lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh, đồng thời cho biết, những vấn đề mà tỉnh Hà Tĩnh nêu ra sẽ được tổ công tác báo cáo đầy đủ trong cuộc làm việc trực tiếp tới đây với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.
Trước đó, trong tháng 11/2016, Thanh tra Bộ TN&MT ra quyết định xử phạt Nhà máy thủy điện Hố Hô với tổng số tiền 115,5 triệu đồng. Lí do, Nhà máy thủy điện Hố Hô có năm vi phạm là: không xây dựng kế hoạch điều tiết nước hàng năm của hồ chứa theo quy định; không thực hiện chế độ thông báo, báo cáo liên quan đến vận hành công trình; thực hiện không đúng quy định về quan trắc, giám sát tài nguyên nước; không thực hiện vận hành hồ đảm bảo dòng chảy tối thiểu sau công trình; không thực hiện chế độ báo cáo về kết quả khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Văn Dũng
13 luật sư kiến nghị 'phá bỏ ngay những thủy điện gây hại'
18 tháng 10 2016
Image copyrightAFPImage captionLũ lụt ở huyện Hương Khê, Hà Tĩnh
Một luật sư Hà Nội bình luận với BBC sau khi gửi kiến nghị đến bốn lãnh đạo Việt Nam yêu cầu phá bỏ ngay những đập thủy điện gây nguy hại cho người dân.
Hôm 18/10, bản kiến nghị của Luật sư Ngô Ngọc Trai và 12 luật sư khác từ các Đoàn Luật sư Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Tây Ninh được gửi qua đường bưu điện đến Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội và Thủ tướng.
"Chúng tôi cho rằng các đập thủy điện đem lại lợi ích không bõ cho cái thiệt hại gây ra. Mạng người là vô giá, không thể để mạng dân cứ chết vơi mỗi năm một ít như thế được, không thể để cơ nghiệp của dân tích cóp bao năm tiêu tán dần vì lũ," bản kiến nghị viết.
"Việc này nếu không xử lý dứt điểm thì với lòng tham và sự thiếu trách nhiệm rồi sẽ lại có lũ khác và người chết khác".
Hôm 18/10, trả lời BBC từ Hà Nội, Luật sư Ngô Ngọc Trai nói: "Tôi thấy khó có khả năng chúng tôi nhận được phản hồi."
"Bởi vì trước đây cũng đã có nhiều kiến nghị được các luật sư gửi đi mà chẳng thấy phản hồi gì."
"Nhưng việc gửi kiến nghị cũng là cách thực hiện quyền công dân và cho những người lãnh đạo thấy là công dân lên tiếng trước những vấn đề xã hội, tham gia vào công cuộc quản trị quốc gia cũng như kiến thiết đất nước."
Luật sư cũng cho hay: "Tôi không rõ các nhà máy thủy điện như Hố Hô có quy trình xả lũ được Bộ Công thương phê duyệt hay không?"
"Ngay cả khi việc xả lũ đúng quy trình đi nữa nhưng gây thảm nạn chết người và khiến hàng nghìn hộ dân ngập sâu thì vấn đề không phải ở quy trình nữa mà là sự tồn tại của những nhà máy thủy điện đó."
'Yếu ớt'
Bình luận về chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về việc "Thủy điện Hố Hô xả lũ sai thì phải đền bù dân" được các báo Việt Nam tường thuật, ông Trai nói: "Chỉ đạo này quá yếu ớt, đền bù chỉ là vấn đề nhỏ, không thỏa đáng với tính chất nghiêm trọng của vụ việc."
Image copyrightAFPImage captionĐưa hàng cứu trợ tới các vùng lũ lụt ở Quảng Bình
"Lẽ ra Thủ tướng phải làm rõ trách nhiệm của nhà máy thủy điện Hố Hô cũng như các nhà máy thủy điện khác."
"Nếu nhận thấy mức độ thiệt hại nghiêm trọng do những nhà máy thủy điện này gây ra thì phải quyết định có cho phép các công trình này tiếp tục tồn tại hay không."
"Trong bản kiến nghị tôi có nêu hậu quả đặc biệt nghiêm trọng của trận lũ vừa rồi có yếu tố con người. Như thế là đủ yếu tố dấu hiệu của tội phạm và do vậy cần chỉ đạo khởi tố điều tra, xác định người phải chịu trách nhiệm truy tố ra trước pháp luật và buộc bồi thường khắc phục hậu quả cho người dân."
"Lãnh đạo phải không chấp nhận tái diễn những thảm họa xả lũ như tại Thủy điện Hố Hô."
"Tôi được biết trên cả nước có khoảng 71 đập thủy điện. Nếu không có biện pháp xử lý nghiêm khắc, mang tính răn đe thì những đập thủy điện khác cứ tiếp tục cẩu thả trong hoạt động và gây ra thảm họa."
Trả lời câu hỏi của BBC về việc có cân nhắc giữa việc gửi kiến nghị đến lãnh đạo và việc tư vấn cho người dân Hà Tĩnh và Quảng Bình khởi kiện Thủy điện Hố Hô về việc bồi thường thiệt hại do lũ, luật sư Trai nói: "Hiện tại, tôi và các luật sư ở Hà Nội chưa liên hệ được những người dân bị thiệt hại do việc đi lại khó khăn trong khu vực này."
"Do vậy rất cần có một tổ chức xã hội dân sự nào đấy kết nối người dân với luật sư cho việc này."
Muốn đổi mới giáo dục cần nhanh chóng có chương trình sách giáo khoa mới
Trong buổi tọa đàm tham vấn chuyên gia về đổi mới căn bản toàn diện trong giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông diễn ra ngày 15/12 tại Hà Nội, các chuyên gia giáo dục đóng góp nhiều ý kiến quan trọng cho lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.
Dưới góc độ quản lý từ cơ sở, Hiệu trưởng Trường Marie Curie - ông Nguyễn Xuân Khang chia sẻ: “Nói đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một cuộc cách mạng tôi thấy mênh mông, chơi vơi quá”.
Bởi nhiều nội dung đặt mục tiêu quá cao, mang tính mơ ước thì sẽ không thể đạt được.
Ông Khang nêu ví dụ, đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020, mới đây Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã phải thừa nhận trước Quốc hội rằng: “Không đạt mục tiêu”.
Ông cho rằng, Bộ cần tập trung đổi mới một số nội dung trước như: chương trình sách giáo khoa để giáo viên có cơ sở dạy học. Còn đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất muốn đổi mới phải có thời gian.
Học sinh Việt Nam học một lúc 14 môn thì “còn gì là người” (Ảnh: giaoduc.net.vn)
Trong khi đó, PGS.TS Trần Thị Tâm Đan - nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội trăn trở: “Tôi không nghĩ từ nay đến năm 2020 chúng ta sẽ giải quyết được những vấn đề lớn của giáo dục mà chỉ phấn đấu giải quyết những vấn đề cốt lõi.
Không phải do trí tuệ của cán bộ, giáo viên ngành giáo dục kém mà do điều kiện để thực hiện hoạt động giáo dục ở nước ta trên thực tế rất yếu kém, trong khi nhu cầu học của người dân Việt Nam lại rất cao”.
Do vậy, để giải quyết được những vấn đề cốt lõi và bức thiết nhất của giáo dục thì cần phải đổi mới điều kiện giáo dục.
Bên cạnh đó, thay đổi phương pháp dạy và học theo định hướng tập trung phát triển con người, năng lực cá nhân thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tiễn. Chúng ta đang dạy học sinh quá nhiều môn
Đánh giá cụ thể về từng bậc học, PGS. Trần Thị Tâm Đan khẳng định: Tư duy quản lý giáo dục mầm non phải khác giáo dục phổ thông.
Giáo dục mầm non không phải là dạy học mà phải được phát triển hài hòa cả thể chất và tinh thần. Tất cả trẻ em đều được chăm sóc, bảo vệ, chăm sóc theo phương pháp khoa học.
Chính vì vậy, Bộ GD&ĐT cần có nghiên cứu triệt để, Nhà nước nắm đào tạo giáo viên, đa dạng hóa các loại hình, đẩy mạnh việc mở rộng hệ thống trường tư thục. Như vậy hệ thống giáo dục mầm non mới được đảm bảo, đáp ứng nhu cầu học của trẻ.
Đề cập tới dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, PGS. Đan bày tỏ băn khoăn khi cấp THPT yêu cầu học sinh phải học cả bắt buộc và tự chọn tới 7 môn là hơi nhiều.
Thông thường chương trình của các nước tiên tiến thường để học sinh tự chọn 5 môn, những năm cuối nên đào tạo sâu một số môn mà học sinh sẽ chọn nghề. Ví dụ như khối khoa học cơ bản, khối kinh tế, khối kỹ thuật, khối văn hóa nghệ thuật.
Để giảm bớt môn học bắt buộc, PGS.Tâm Đan đề xuất: Ví dụ môn học về đạo đức nên kết thúc ở lớp 11 để đến lớp 12 học sinh chỉ chuyên tâm vào việc học các môn chuyên ngành cho đào tạo nghề sau này.
Minh chứng cho việc học sinh đang phải học quá nhiều, GS.Nguyễn Minh Thuyết – nguyên Đại biểu Quốc hội nêu: “Giáo sư Nguyễn Lân Dũng trong nhiều lần phát biểu ở các hội thảo khác nhau đều “kêu” là: Chúng ta dạy học sinh nhiều môn quá.
Trong khi ở các nước phát triển, học sinh cấp THPT chỉ học khoảng 4-5 môn còn học sinh của ta hiện nay phải học 14 môn thì “còn gì là người”.
Với số lượng môn học nhiều như vậy, học sinh học gì cũng lớt chớt, không thể đi sâu để chuẩn bị tiếp cận nghề nghiệp”.
Chính vì vậy, GS.Thuyết kiến nghị, nên lấy lớp 10 làm dự hướng, lớp 11 và 12 để học sinh tự chọn môn học.
GS.Nguyễn Minh Thuyết nêu ý kiến tại buổi tọa đàm ngày 15/12 (Ảnh: Xuân Trung)
Cụ thể ở lớp 10, học sinh học 13 môn, mỗi học kỳ chỉ học 6 hoặc 7 môn. Học sinh vẫn được học đủ các môn với nội dung hướng nghiệp của từng môn trong chương trình hiện hành.
Trừ 3 môn công cụ Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ thì cần được dạy suốt năm học, các môn còn lại mỗi môn chỉ được bố trí trong một học kỳ. Môn giáo dục thể chất sẽ được tổ chức dưới hình thức các câu lạc bộ thể thao tự chọn.
Phương án này có thể sẽ khiến một số nhà quản lý băn khoăn rằng: Trong một học kỳ, những giáo viên không có giờ dạy ở lớp 10 thì sẽ làm gì?
Giải đáp điều này, GS.Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Thắc mắc này xuất phát từ nề nếp phân công giáo viên theo khối lớp: giáo viên lớp 10 thì chỉ dạy lớp 10.
Nhưng chúng ta có thể thay đổi cách phân công này bởi các thầy cô được đào tạo ở trường sư phạm ra hoàn toàn có thể dạy cả 3 lớp 10, 11 và 12”.
Còn từ lớp 11 trở đi, học sinh cần được tập trung vào các môn học chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai.
“Theo tính toán của chúng tôi, mỗi học sinh chỉ cần chọn khoảng 5 môn học. Bên cạnh những môn cần cho nghề nghiệp tương lai, các em có thể chọn thêm những môn phù hợp với sở trường, sở thích của mình” – GS.Thuyết cho biết.
Với 5 môn tự chọn, những học sinh không dự thi hoặc không thi đỗ đại học, cao đẳng vẫn có thể nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống và tìm cho mình một công việc phù hợp.
GS.Thuyết nêu minh chứng, những học sinh có khiếu về mỹ thuật hoàn toàn có thể tự khởi nghiệp trong lĩnh vực thời trang, đồ họa…
"Không thể cứ đào tạo trên trời, sau đó người ta đi dưới đất, đi đâu thì đi"
(GDVN) - “Thực tế, có nhiều em có bằng cử nhân, thạc sĩ nhưng phải giấu đi để xin vào làm công nhân. Vì nếu chìa bằng này ra thì xấu hổ, họ không nhận”.
Đó là một thực trạng mà Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH) Đào Ngọc Dung dẫn ra tại buổi làm việc với lãnh đạo chính quyền thành phố Đà Nẵng ngày 15/12.
“Đặc biệt là xây dựng kế hoạch mang tính chất chiến lược về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có chất lượng cao. Đà Nẵng phải có bước đột phá mạnh về nhân lực chất lượng cao”.
Bộ Trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung cho biết sẽ trình Thủ tướng phương án liên thông đào tạo tiến sĩ nghề. Ảnh: An Nguyên
Vì vậy, Bộ trưởng đề nghị địa phương này phải coi trọng đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho người lao động. Cụ thể, Đà Nẵng sớm chủ động và mạnh dạn hơn trong phân luồng người học nghề.
Đà Nẵng dự kiến thu hút nhân tài bằng chính sách đãi ngộ chưa từng có
(GDVN) - Mức lương cơ sở hiện nay khoảng 1,2 triệu đồng thì đối tượng thu hút tốt nghiệp đại học được hưởng 80 lần mức lương cơ sở là vào khoảng 96 triệu đồng...
Phân luồng học nghề ở Đà Nẵng phải gắn với hai chuyện. Thứ nhất là phải chú trọng đến dự báo thị trường lao động. Từ các dự báo này rồi thì mới tính phân luồng.
Bộ trưởng cũng dẫn ra một thực tế: “nhiều em có bằng cử nhân, thạc sĩ nhưng giấu đi, quay trở lại học nghề. Người ta gọi đó là “học lùi”. Vì nếu đưa bằng cấp ra anh xấu hổ mà thực ra doanh nghiệp nó cũng không nhận”.
Bộ trưởng giải thích thêm, bây giờ doanh nghiệp đều ký kết với các Trường nghề nên không nhận những em có bằng đại học. Vì như thế phải lo lương cao, lo các chi phí này nọ mà lại không đúng nghành nghề họ đào tạo.
“Chỉ có phân luồng thì nó mới khắc phục được tình trạng học sinh, sinh viên ra trường không có việc làm” Bộ trưởng cho biết.
Có thể liên thông từ trung cấp lên thạc sĩ, tiến sĩ nghề
Bộ trưởng cho rằng, chúng ta phải phấn đấu để đào tạo những thạc sĩ và tiến sĩ nghề.
(GDVN) - Từ năm 2016, Cao đẳng nghề Hoa Sen sẽ chính thức triển khai các chương trình đào tạo của Box Hill, theo đúng tiêu chuẩn của Úc.
Còn ở ta, đào tạo xong đại học là cứ vớ cái gì làm cái đó, “thực cẩm” toàn quốc.
“Trong quý I này, tôi với anh Nhạ (Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ) sẽ trình Thủ tướng phương án liên thông. Tức là cho các em học trung cấp nghề được liên thông học lên cao đẳng rồi lên đại học và thạc sĩ, tiến sĩ nghề. Từ trước đến giờ cấm đoán cái đó, giờ mình bỏ đi” ông Dung chia sẻ.
Ngoài ra, Bộ trưởng cũng yêu cầu phải gắn chặt đào tạo nghề với doanh nghiệp. Doanh nghiệp tham gia từ đầu trong quá trình đào tạo nghề.
Cụ thể như Trường nghề Dung Quất (Quảng Ngãi) đào tạo một năm cỡ 3.000 sinh viên. Tất cả số học ra hay vừa vào nhập học là doanh nghiệp vào đặt hàng ngay.
“Hàng tuần, doanh nghiệp vào giảng dạy, sau đó đi thực tập tại doanh nghiệp đó luôn. Như vậy, trong quá trình đào tạo 2-3 năm như thế, doanh nghiệp thấy anh này khá, làm được việc thì ra trường là nhận về làm ngày, có thể làm quản lý” ông Dung thông tin.
Có những học sinh nghèo vào học nghề không tốn một xu nào mà chưa ra trường đã có nơi nhận về làm việc rồi. Đi thực tập cũng đã có lương. Trường Dung Quất thì 92% sinh viên ra trường có việc làm ngay.
Tại buổi làm việc, ông Huỳnh Đức Thơ, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng cũng đề xuất Bộ hỗ trợ đầu tư, xây dựng Trường cao đẳng nghề Đà Nẵng lên chuẩn quốc tế.
“Mặc dù Trường bị khống chế bởi quy định do địa phương quản lý nhưng mong Bộ quan tâm, hỗ trợ. Vì Trường này không chỉ đào tạo nghề cho thành phố mà cả khu vực miền Trung” ông Thơ nói.
Sau chiến thắng 1975, tâm ký kiêu ngạo của người chiến thắng là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều khủng hoảng khiến Việt Nam "phải đau đớn trả giá", nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên thường trực Ban bí thư, Phan Diễn chia sẻ với VnExpress.
Ông Phan Diễn thời còn trong tổ giúp việc cho Tổng bí thư Trường Chinh. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
- Năm nay đúng dịp 30 năm diễn ra Đại hội 6 - Đại hội then chốt đưa ra quyết định về Đổi mới. Nhắc đến "đêm trước Đổi mới", ông nhớ nhất điều gì?
- Nhắc lại thời bao cấp, tôi nhớ ngay đến sự thiếu thốn, thiếu từ lương thực, mắm muối cho đến hàng tiêu dùng thông thường như cái khăn mặt, bánh xà phòng, cây kim, sợi chỉ…
Gắn liền với sự thiếu thốn là cảnh phân phối, nhiều chuyện buồn cười bây giờ khó tưởng tượng nổi. Nhiều thứ không cần nhưng cơ quan có nguồn hàng thì cứ phân phối, mọi người vẫn nhận mua, vì đó chính là một phần tiền lương, từ săm lốp xe đạp, áo may ô, quạt bàn… Có khi mấy người được phân chung một cái lốp xe, anh em thỏa thuận nhau lần này tôi nhận lốp, lần sau ông nhận xích. Cho nên mới có câu cửa miệng "trăm thứ, thứ gì cũng… phân".
Là người trong đội ngũ phục vụ lãnh đạo cấp cao, tôi được dự nhiều cuộc họp bàn và còn nhớ rõ không khí tất bật, lo lắng của cả guồng máy lãnh đạo từ trung ương đến địa phương. Quanh năm, nhà nước lo "chạy lương thực" cho người dân thành phố, các khu công nghiệp, cho quân đội…
"Nhưng nhớ nhất là trong hoàn cảnh khó khăn, tình người vẫn rất đậm đà. Người ta không bằng lòng với cuộc sống, có nhiều câu hỏi đặt ra với lãnh đạo Đảng, Nhà nước, song những thắc mắc và góp ý hầu hết đểu mang tính xây dựng. Xã hội nhìn chung khá an toàn, ít có chuyện trộm cắp, đục nước béo cò, tranh giành xâu xé" - Phan Diễn
Các lãnh đạo bắt đầu cảm nhận được khó khăn mà đất nước đang chịu đựng, ngoài những nguyên nhân khách quan, còn có nguyên nhân chủ quan do cách làm của chúng ta không đúng, nhà nước quản lý xã hội, quản lý nền kinh tế có gì đó chưa hợp lý. Đơn cử như, đất 5% dành riêng cho xã viên thì năng suất rất cao, nhưng đất của chung của hợp tác xã thì năng suất lại rất thấp.
Cả xã hội khi ấy trăn trở tìm đường đi, trong nông nghiệp nhiều nơi bắt đầu tìm cách khoán mới mà phải làm chui, tiếp đó là những năm mày mò, vật lộn với những đổi mới về giá lương tiền...
- Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam có những lựa chọn nào khi quyết định mô hình quản lý kinh tế, xã hội, thưa ông?
- Mỗi quyết định đều xuất phát trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Bây giờ nhìn lại thì có độ lùi thời gian để suy ngẫm, nhưng lúc bấy giờ tình hình rất phức tạp và khẩn trương. Chiến tranh kết thúc chưa lâu, mọi thứ còn ngổn ngang thì đất nước lại bước vào hai cuộc chiến chống xâm lược ở biên giới Tây Nam và phía Bắc.
Trước giải phóng, mỗi năm kinh tế miền Nam được Mỹ viện trợ khoảng 1 tỷ USD. Miền Bắc cũng được chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa một khối lượng xấp xỉ như thế. Sau ngày thống nhất không lâu, Mỹ bao vây cấm vận. Quy mô viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cũng giảm đi nhanh chóng. Tất cả đã tác động rất mạnh vào nền kinh tế vốn hết sức nhỏ bé của đất nước. Quy mô xuất khẩu của miền Bắc (than, thiếc, đồ thủ công…) lúc này chỉ độ 200 triệu rúp mỗi năm.
Công cuộc khôi phục, xây dựng lại đất nước đã phải tiến hành trong hoàn cảnh khó khăn chồng chất như thế. Ai nấy đều mong muốn đất nước nhanh chóng thoát khỏi tình trạng khó khăn. Vấn đề lớn nhất lúc này là phải phát triển đất nước theo con đường nào?
Dòng suy nghĩ chủ lưu lúc đó là, miền Bắc chắc chắn phải đẩy mạnh việc tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình kinh tế đang thực hiện trước chiến tranh.
Vấn đề đặt ra là con đường đi của kinh tế miền Nam nên như thế nào? Đảng và Nhà nước đã quyết định chọn miền Nam cũng phải theo con đường của miền Bắc. Ở miền Nam, chúng ta quyết định nhanh chóng thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế, xoá bỏ kinh tế tư nhân, đẩy mạnh hợp tác hóa, xây dựng rộng rãi các hợp tác xã nông nghiệp.
Cả nền kinh tế phấn đấu nhanh chóng mở rộng kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, phấn đấu hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới trong một thời gian tương đối ngắn. Đây cũng là mô hình kinh tế duy nhất mà Việt Nam quen biết lúc bấy giờ, mà cả khối xã hội chủ nghĩa đã và đang áp dụng.
- Thời điểm ấy, liệu có con đường nào khác cho kinh tế miền Nam khi nơi đây đã có những mầm mống của kinh tế tư nhân, kinh tế thị trường?
- Sau ngày thống nhất, trong những hội nghị đầu tiên của Trung ương bàn về đường lối phát triển kinh tế miền Nam, ban đầu trong cấp lãnh đạo đã có ý kiến đề xuất: với những đặc điểm lịch sử riêng biệt của miền Nam, phải chăng chúng ta nên để cho kinh tế tư nhân, kinh tế thị trường tiếp tục phát triển một thời gian. Nếu có cải tạo thì cần thử nghiệm từng bước, thận trọng, vừa làm vừa rút kinh nghiệm… Tuy nhiên, ý kiến này chưa nhận được sự đồng thuận của tập thể lãnh đạo. Đảng và Nhà nước đã quyết định tiếp tục áp dụng mô hình của kinh tế miền Bắc.
Thực hiện đường lối trên, trong những năm tiếp theo, đất nước ngày càng gặp nhiều khó khăn, cuối cùng lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội. Chính trong quá trình này, lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở ngày càng nhận ra nhược điểm của mô hình kinh tế cũ và liên tục tìm tòi, thử nghiệm những chính sách, cách quản lý kinh tế mới với nhiều bước "cởi trói", có cả trả giá đau đớn. Điển hình nhất là những chấn động về lạm phát ở mức 3 con số bắt đầu từ cuộc đổi giá, đổi tiền đầu thập niên 80 khiến thu nhập và cuộc sống người dân, nhất là người làm công ăn lương bị đảo lộn.
- Giờ nhìn nhận lại thành công và khuyết điểm của phương thức quản lý giai đoạn đó, theo ông, chúng ta đã có thể làm gì khác hơn?
- Theo suy nghĩ cá nhân của tôi, lúc đó có thể thực hiện theo gợi ý của một số đồng chí như đã nói ở trên, nghĩa là đừng quá vội thực hiện ngay công cuộc cải tạo chủ nghĩa xã hội đối với toàn bộ nền kinh tế. Để cho miền Nam tiếp tục tồn tại và phát triển nền kinh tế đa sở hữu, nhiều thành phần, trong đó có kinh tế tư nhân…
Vừa làm vừa tỉnh táo nhận thức lại những suy nghĩ chưa đúng và kịp thời rút kinh nghiệm, có thể chúng ta đã tránh bớt được không ít khó khăn. Nếu có lâm vào khủng hoảng thì cũng thoát ra sớm hơn, cũng có thể hình thành đường lối đổi mới nhanh hơn. Song cuộc sống không có "giá như".
- Vậy theo ông điều gì đã khiến chúng ta có những bước đi sai lầm và phải trả giá?
- Tôi cho rằng, chúng ta ít nhiều đã có sự chủ quan, có thể gọi là “kiêu ngạo cộng sản” sau chiến thắng 1975. Việc này có thể hiểu là xuất phát từ những điều tự hào về lý tưởng và thành công của mình trên con đường cách mạng, nhưng rồi đi quá đà đến xu hướng chủ quan...
Ở Việt Nam sau ngày thống nhất đất nước, sự chủ quan có lẽ thể hiện trong lĩnh vực khác nhiều hơn. Còn về kinh tế thì không phải kiêu ngạo mà chủ yếu do nhận thức chưa phù hợp thực tiễn, chưa đúng quy luật khách quan. Chúng ta quá thiếu kiến thức và kinh nghiệm, cứ đinh ninh rằng cách làm của các nước XHCN là duy nhất đúng, là tất cả những gì phải học tập. Hơn nữa, tâm lý chủ lưu lúc này “Nam Bắc đã sum họp một nhà, có điều kiện đưa cả nước đi lên con đường XHCN thì không lý do gì để chần chừ”.
Chúng ta đã trải qua những sai lầm và trả giá. Dù sao điều đáng mừng là cuối cùng các nhà lãnh đạo đã nhìn thẳng vào sự thật, rút ra được những kết luận đúng đắn và đổi mới.
- Sau 30 năm, ông nhìn nhận như thế nào về ý nghĩa của Đại hội VI?
Trong quá trình tìm tòi để đi đến đường lối đổi mới mang tính cách mạng như trên, ngay trong cấp lãnh đạo cao nhất là Bộ Chính trị cũng từng diễn ra những cuộc tranh luận nảy lửa.
"Đại hội VI mở ra bước ngoặt đổi mới về tư duy, về đường lối xây dựng đất nước. Sau Đại hội, tình hình thay đổi rất nhanh. Đầu năm 1988, do thiên tai và những khó khăn cộng dồn từ trước đó, cả nước có hàng triệu hộ đói nhưng đến cuối năm đã bắt đầu tự túc lương thực. Năm sau nữa thì xuất khẩu hàng triệu tấn gạo, ít lâu sau chúng ta bước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội. Đấy là điều mà thế giới cũng cho là kỳ diệu" - Phan Diễn
Có thể nói, để hình thành và quyết định đường lối đổi mới kinh tế được toàn Đảng chính thức chấp nhận ở Đại hội VI năm 1986, chúng ta đã có những trả giá đau đớn.
Tôi còn nhớ, ở tuổi 79, Tổng bí thư Trường Chinh đảm nhiệm chức vụ người đứng đầu Đảng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế - xã hội đang diễn ra gay gắt. Chỉ còn mấy tháng nữa là đến Đại hội VI, trong thời gian rất ngắn ngủi, Tổng bí thư đã vượt lên những hạn chế của sức khoẻ và tuổi già, dũng cảm đấu tranh với những quan điểm bảo thủ, giáo điều, cùng với Bộ Chính trị và Trung ương nhanh chóng hoàn chỉnh tương đối đồng bộ tư duy đổi mới.
Ông làm việc không quản ngày đêm để lãnh đạo nhóm tư vấn viết lại báo cáo chính trị, bàn với lãnh đạo Liên Xô và các nước XHCN điều chỉnh lại kế hoạch hợp tác kinh tế với Việt Nam trong 5 năm 1986-1990 đã được xác định trước đó, chọn những nhân sự có tinh thần đổi mới vào đội ngũ lãnh đạo khóa tới… Một khối lượng công việc khổng lồ được giải quyết trong thời gian ngắn khó mà tưởng tượng nổi.Từ thực tế, tôi tin rằng, chúng ta có thể xoay chuyển bất cứ tình thế nào nếu đặt lợi ích của quốc gia của dân tộc lên trên hết.
Với mô hình quản lý kinh tế, xã hội tập trung, bao cấp, Việt Nam trải qua nhiều khủng hoảng. Mùa đông năm 1986, Đại hội VI của Đảng diễn ra từ 15 đến 18/12, Tổng bí thư Trường Chinh ra lời hiệu triệu “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Ông cùng đội ngũ lãnh đạo đất nước đã quyết định “bẻ lái”. Nhân dịp này, VnExpress đăng loạt bài về một thời khó quên trước, trong và sau Đổi mới.