Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2016

Khi thành quả Cách mạng bị 'biến hóa'

Nhà văn Phạm Viết Đào

  • 25 tháng 8 2015
Image copyrightREUTERS
Image captionNăm nay Việt Nam đánh dấu tròn 70 năm cuộc Cách mạng Tháng 8 và tuyên ngôn độc lập 2/9/1945.
“Cuộc cách mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hoà…”, đó là câu mở đầu trong phần Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 đã cho thấy mục đích tiền khởi của cuộc cách mạng tháng 8 là để lập ra “nền dân chủ cộng hoà”.
Sau cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên vào ngày 06/01/1946, theo nhiều tư liệu chính thống ghi lại cho thấy sau 10 tháng 'chuẩn bị tích cực, dưới sự chỉ đạo' của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 09/11/1946, Quốc hội Khóa I (kỳ họp thứ 2) chính thức thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (với 240/242 phiếu tán thành), đó là Hiến pháp năm 1946.
Đây là văn bản pháp lý chính thức xác nhận thể chế và pháp chế của nhà nước Việt Nam được chính thức tuyên bố khai sinh ngày 2/9/1945.
Trong Lời nói đầu, Hiến pháp 1946 đã xác định nhiệm vụ của bộ máy nhà nước Việt Nam:
”Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ…”
Như vậy, nói theo ngôn ngữ tin học hiện đại: nền tảng của hệ điều hành, quản trị của bộ máy nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp (HP) 1946 là “nền tảng dân chủ”.
Nền tảng dân chủ của Hiến pháp 1946 được cụ thể hoá tại một số điều, đáng chú ý nhất là Điều 12.
Điều này quy định: ”Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm…”

Không tiếc xương máu

Trong Hiến pháp 1946 không quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý như các văn bản Hiến pháp 1992, 2013; vào thời điểm 1946, khi 90% dân số Việt Nam là nông dân, quy định như Điều 12 này vô cùng có ý nghĩa với nông dân, lôi kéo người nông dân đi theo, tham gia các cuộc chiến tranh mà họ không tiếc xương máu.
Hay như Điều thứ 32, là điều quy định về người dân tham gia phúc quyết các vấn đề liên quan tới vận mệnh quốc gia, quyền này đã không còn xuất hiện trong các văn bản Hiến pháp tuyên bố là kế thừa 1959, 1992, 2013:”Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý. Cách thức phúc quyết sẽ do luật định”…
Tới Hiến pháp 1959 trong Lời nói đầu đã tránh, không còn xác định dân chủ là nền tảng của “hệ điều hành” quản trị bộ máy nhà nước nữa; khái niệm dân chủ được lồng ghép vào những định ước, khái luận chung chung, khiến cho khái niệm “ nền tảng dân chủ” trở nên xa, mờ, nhạt dần:
“Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam đã xây dựng một nước Việt Nam độc lập và dân chủ”; “Hiến pháp mới là một Hiến pháp thực sự dân chủ. Hiến pháp mới là sức mạnh động viên nhân dân cả nước ta phấn khởi tiến lên giành những thắng lợi mới…”, (Lời nói đầu Hiến pháp 1959).
Image copyrightAFP
Image captionTác giả cho rằng sau 70 năm, các giá trị cốt lõi nền tảng được cuộc cách mạng tháng 8 đưa ra lúc đầu để 'lôi cuốn quần chúng' đã bị biến thái.
Từ Hiến pháp 1959 bắt đầu lấp ló xuất hiện vai trò lãnh đạo nhà nước của Đảng:” Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo…”
Trong Hiến pháp 1959, vai trò giám sát quyền lực nhà nước của nhân dân được thể chế bằng Điều 4:
”Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
"Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ…”

Nền tảng mặc định

Từ “ dân chủ“ vốn là nền tảng được mặc định của hệ điều hành quản trị nhà nước năm 1946 đã được chuyển hoá thành “nguyên tắc tập trung dân chủ”… Phải chăng điều đó có nghĩa là từ Hiến pháp 1959, dân chủ phải gia cố, cõng gánh thêm “cái ông” tập trung thì cái dân chủ đó mới có hiệu lực, hiệu quả được nhà nước chấp thuận?
Trong Hiến pháp 1992 cũng không nhắc gì tới “nền tảng dân chủ” của hệ điều hành quản trị của bộ máy nhà nước và thay vào đó giống Hiến pháp 1959, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo nhà nước của Đảng Lao động Việt Nam, Hiến pháp 1959; Đảng Cộng sản Việt Nam (Hiến pháp 1992).
Trong Hiến pháp 1992 đã xác định rõ hơn vai trò Đảng lãnh đạo nhà nước tại Điều 4:
Điều này quy định: ”1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…”
Hiến pháp 1992 quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ giữa Ðảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.
Đến Hiến pháp 2013 thì phạm trù dân chủ được phân vai rạch ròi trong Lời nói đầu:
”Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…”
Image copyrightVIETNAM ARCHIVE
Image captionThể chế lấy 'dân chủ' làm nền tảng đã được chuyển dần sang thành 'đảng chủ' ít nhất từ Hiến pháp năm 1959, theo tác giả.
Giống với Hiến pháp 1992, trong Hiến pháp 2013, vai trò lãnh đạo nhà nước của Đảng tiếp tục được thể chế trong Điều 4.
Như vậy, nếu Hiến pháp 1946 với hệ điều hành quản trị nhà nước dựa trên nền tảng dân chủ thì tới Hiến pháp 2013 “hệ điều hành dân chủ” từ “nền tảng” chuyển thành 1 trong 5 mục tiêu hướng tới của bộ máy nhà nước.

Chuyển hóa 'Đảng chủ'

Tóm lại, hệ điều hành quản trị của bộ máy nhà nước Việt Nam từ tiền khởi văn bản Hiến pháp 1946, thành quả của Cách mạng tháng 8 tới Hiến pháp 2013 đã chuyển hoá từ dân chủ sang “Đảng chủ”.
Có điều do sự mặc định mới này mà Quốc hiệu Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đang được thông dụng hiện nay có vẻ không thật trùng khớp với bản chất và ngôi thứ của hệ điều hành “ đảng chủ” này.
Nếu đúng bản chất của hệ điều hành quản trị đã được mặc định trong hiến pháp thì quốc hiệu Việt Nam cần phải chỉnh sửa: 'Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cộng hoà' thì mới sát, đúng. Còn gọi Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đã vô tình biến Đảng, “ông chủ” duy nhất lãnh đạo nhà nước toàn diện lại hoá thành lực lượng phụ trợ nhà nước.
Vì đảng mới là chủ thể, là lực lượng chính trị chi phối toàn diện hệ điều hành này như Điều 4 đã mặc định tính chất, quyền năng của hệ điều hành “đảng chủ”:
Điều này nêu rõ: ”1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
"2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình…”
Đây là vấn đề vừa mang tính lý luận vừa mang ý nghĩa thực tiễn mà rất mong được các nhà “Hồ Chí Minh học” sớm làm sáng tỏ bằng các công trình lý luận công phu để việc kế thừa “ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh” được người dân bình thường hiểu, quán triệt mà đồng thuận.
Bởi vì từ quốc hiệu của nhà nước và một số vấn đề mang tính cốt lõi của thể chế trong hiến pháp 1946 đã có những thay đổi, chuyển hoá khó hiểu; nếu không được giải thích, thuyết phục thấu đáo thì sẽ xô đẩy xã hội tới chỗ phân tâm, hoài nghi, không biết đâu mà lần.
Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, nhà văn, đang sống ở Hà Nội. Bài được gửi tới BBC tham gia chuyên mục đánh dấu 70 năm Cách mạng tháng Tám của Việt Nam và kết thúc Thế chiến II.

Bài viết của Chủ tịch nước kỷ niệm 70 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến

Chủ nhật, 16:24, 18/12/2016

VOV.VN -Bài học về phát huy sức mạnh toàn quốc kháng chiến, kháng chiến toàn dân, toàn diện đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946- 19/12/2016), VOV trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của Chủ tịch nước Trần Đại Quang: Phát huy tinh thần toàn quốc kháng chiến, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.
bai viet cua chu tich nuoc ky niem 70 nam ngay toan quoc khang chien hinh 1
Chủ tịch nước Trần Đại Quang.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là quá trình dựng nước đi đôi với giữ nước, đầy gian khổ, hy sinh, nhưng cũng hết sức vẻ vang. Từ khi có Đảng lãnh đạo, lịch sử hào hùng của dân tộc ta được tiếp nối bằng những mốc son chói lọi với biết bao chiến công hiển hách trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới đời đã phải đương đầu với “thù trong, giặc ngoài”, nạn đói hoành hành, khó khăn chất chồng, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhạy bén, sáng suốt, bình tĩnh chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh hiểm nguy, từng bước tiến lên. Đứng vững trên nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Đảng đã đề ra sách lược ngoại giao mềm dẻo, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, linh hoạt, phù hợp với từng thời điểm của lịch sử nhằm phân hóa kẻ thù, loại trừ từng bước các thế lực thù địch, phản động, tranh thủ thời gian để củng cố và phát triển lực lượng cách mạng.
Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp mỗi lúc một điên cuồng lấn tới. Là hiện thân của ý chí hòa bình Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để tránh một cuộc chiến tranh đổ máu cho hai dân tộc Việt - Pháp, nhưng khi kẻ thù đã buộc chúng ta phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, thì nhân dân ta không sợ hy sinh, gian khổ, kiên quyết chiến đấu để bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc.
Đêm 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đại diện cho tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, thúc giục toàn dân đứng lên cứu nước; đây là một định hướng chiến lược đối với toàn dân ta ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”[1].
Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng của non sông đất nước, là lời hịch cứu quốc, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào dân tộc, truyền thống anh hùng, bất khuất, kiên cường của nhân dân ta; thôi thúc cả nước sục sôi đứng lên chiến đấu, vì độc lập, tự do thiêng liêng của Tổ quốc.
Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân cả nước ta với ý chí “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” đã nhất tề đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mở đầu là cuộc chiến đấu của quân và dân Thủ đô Hà Nội. Cùng với quân dân Thủ đô, quân dân các địa phương trong cả nước đã chiến đấu ngoan cường, giam chân địch.
Đường lối kháng chiến của Đảng ta xác định ngay từ đầu là chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Sau chín năm chiến đấu vô cùng oanh liệt, quân và dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp và can thiệp Mỹ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, một trong những chiến công chói lọi nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, là bản anh hùng ca của một cuộc chiến tranh nhân dân thần kỳ, xứng đáng “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ 20, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”[2], mãi mãi là niềm tự hào của các thế hệ người Việt Nam và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ có ý nghĩa lịch sử vĩ đại, buộc thực dân Pháp phải công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là thắng lợi vẻ vang của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”[3].
Nguyên nhân cơ bản, quyết định  thắng lợi là do đường lối cách mạng, đường lối chiến tranh nhân dân độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo và sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đó là thắng lợi của sức mạnh kháng chiến toàn dân, toàn diện, cả nước đồng lòng, toàn dân đánh giặc, của trí tuệ và bản lĩnh con người Việt Nam; sức mạnh của tiền tuyến và hậu phương, vật chất và tinh thần, hiện đại và truyền thống, trong nước và quốc tế; sự đoàn kết toàn dân tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công nông và trí thức vững chắc; chính quyền dân chủ nhân dân được giữ vững, củng cố và lớn mạnh, làm công cụ sắc bén tổ chức toàn dân kháng chiến và xây dựng chế độ mới; lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân do Đảng ta trực tiếp lãnh đạo, ngày càng vững mạnh, chiến đấu dũng cảm, mưu lược, tài trí, từng bước làm chuyển biến so sánh lực lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi cuối cùng.
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ của Đảng ta, có thể rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về lãnh đạo cách mạng và chiến tranh nhân dân có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Nổi bật là: (1) Phải đề ra được đường lối đúng đắn và quán triệt thực hiện sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; đó là đường lối chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.
Nếu trước đây ông cha ta đã từng lấy “nhân nghĩa mà thắng cường bạo”, “lấy yếu mà thắng mạnh”... thì ngày nay trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam anh hùng đã lấy chính nghĩa mà chiến thắng xâm lược, lấy sức mạnh đại đoàn kết mà chiến thắng kẻ thù hung bạo, lấy chiến tranh cách mạng của toàn dân mà chiến thắng chiến tranh xâm lược của bọn thực dân cướp nước.(2) Đoàn kết toàn dân, toàn dân kháng chiến và đoàn kết với nhân dân hai nước Lào, Campuchia, với nhân dân Pháp và các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới để dấy lên phong trào chống chiến tranh xâm lược phi nghĩa trên thế giới. (3) Thực hiện phương châm vừa kháng chiến, vừa xây dựng chế độ mới, xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh. (4) Chủ động đề ra và thực hiện phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự sáng tạo, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao, phối hợp nhịp nhàng giữa các chiến trường. (5) Toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng... đều phải là những chiến sĩ kiên cường trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, tạo sức mạnh tổng hợp để đưa kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.
Đường lối toàn quốc kháng chiến, kháng chiến toàn dân, toàn diện đã được thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa kiểm nghiệm, chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.
Bài học về phát huy sức mạnh toàn quốc kháng chiến, kháng chiến toàn dân, toàn diện đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Phát huy tinh thần toàn quốc kháng chiến, qua hơn 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã vượt lên khó khăn, thử thách, lập nên những chiến công, kỳ tích anh hùng. Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Quan hệ đối ngoại ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, tạo lập và giữ được môi trường hòa bình, tranh thủ yếu tố thuận lợi của môi trường quốc tế để phát triển.
Hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, đóng góp ngày càng tích cực, có trách nhiệm vào đời sống chính trị khu vực và thế giới... Những thành tựu đó tạo tiền đề, là nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.
Để tiếp tục phát huy tinh thần Toàn quốc kháng chiến, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần nhận thức sâu sắc tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ mới; phát huy cao độ quyết tâm chính trị, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, tận dụng mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Củng cố, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp quốc gia to lớn. Quan tâm chăm lo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là gia đình chính sách, người có công với nước, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chú trọng xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức lành mạnh, đẩy lùi tiêu cực, tệ nạn xã hội, ngăn chặn sự xuống cấp về văn hóa, đạo đức. Phát huy vai trò nòng cốt và trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp, các ngành; sự tham gia tích cực, hiệu quả của gia đình, nhà trường, cộng đồng và toàn xã hội; triển khai các giải pháp cụ thể, đồng bộ nhằm xây dựng con người Việt Nam yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm gắn kết chặt chẽ xây dựng văn hóa và phát triển con người, phát triển văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Tuyên truyền, giáo dục, động viên lòng yêu nước, yêu chế độ của toàn dân tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng, Hiến pháp năm 2013 về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn với đề cao trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và tôn trọng kỷ cương, kỷ luật, chấp hành pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, đề cao vai trò làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, xây dựng tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước trong sạch, vững mạnh. Hoàn thiện và luật hóa chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm nâng cao năng lực quản lý, quản trị quốc gia, kiến tạo phát triển.
Tiếp tục đổi mới hoạt động lập pháp và cải cách tư pháp gắn với tiếp tục cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính hiện đại vì dân phục vụ; xây dựng đội ngũ công chức trong sạch, tận tụy, chuyên nghiệp, có năng lực thiết kế, tham gia hoạch định và thực thi chính sách phát triển.
Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, giương cao ngọn cờ hòa bình, chính nghĩa, phù hợp với những giá trị chung của nhân loại; giải quyết hài hòa lợi ích của quốc gia với lợi ích của các nước trong khu vực và trên thế giới, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế; tham gia tích cực vào việc giải quyết những vấn đề quan tâm chung, vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, đóng góp thiết thực vào việc gìn giữ hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
Kiên định thực hiện sáng tạo đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Mở rộng, đưa quan hệ hợp tác quốc tế đi vào chiều sâu, bền vững; kết hợp sức mạnh nội sinh của dân tộc với sức mạnh mang tính thời đại của nhân loại yêu chuộng hòa bình, công lý, tiến bộ; tiếp tục nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, phục vụ hiệu quả yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” vững chắc. Tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đi thẳng vào hiện đại đối với những lĩnh vực, lực lượng trọng yếu; phát triển khoa học - công nghệ, công nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo đảm độc lập, tự chủ.
Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kịp thời có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, phòng ngừa, phát hiện và triệt tiêu các yếu tố bất lợi, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; ngăn chặn, phản bác kịp thời những thông tin, luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng.
Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.
Để có thắng lợi vẻ vang ngày hôm nay, Đảng ta và nhân dân ta đã phải vượt qua muôn vàn gian lao, thử thách. Biết bao cán bộ, đảng viên, đồng chí, đồng bào đã hy sinh xương máu, nêu cao khí phách anh hùng của giai cấp tiên phong và của dân tộc, nêu cao lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Những tấm gương chói ngời đó sống mãi với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và muôn đời con cháu mai sau.
Ôn lại tinh thần Toàn quốc kháng chiến, tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, phát huy nội lực, ý chí quyết chiến, quyết thắng trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, hơn lúc nào hết, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nêu cao lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần chiến đấu hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, nắm vững thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đến những đỉnh cao thắng lợi mới./.                                                                              
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t. 4, tr. 480.
[2] Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1976, tr. 55 - 56.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t. 10, tr. 12./.

Ảnh: Những di tích gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội

VOV.VN - Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, quân và dân Hà Nội đã biến phố phường thành trận địa, đình chùa thành căn cứ cách mạ

Năm 1946 Cụ Hồ mang 20 kg vàng đi "hối lộ" Lư Hán...


Kết quả hình ảnh cho Hồ Chí Minh-
Phạm Viết Đào.
Theo Hiệp định sơ bộ ký giữa Chính phủ Hồ Chí Minh và Chính phủ Pháp 6/3/1946, Quân Pháp ở Sài Gòn sẽ ra bắc thay thế đội quân đói khát Tưởng Giới Thạch; đội quân ô hợp này nhân danh đồng minh kéo vào miền bắc nước ta mà nhân dân ta hồi đó gọi là Tàu ô, Tàu phù ( vì phù nề do đói muối )...
Đã nhiều sách vở nói về sự phiền toái, phức tạp do đội quân Lư Hán gây ra cho nhân dân và Chính phủ non trẻ Hồ Chí Minh; ngoài chuyện sách nhiễu, bắt cóc tống tiền, tổ chức ám sát, đội quân Lư Hán còn bảo kê cho lực lượng Quốc dân đảng nổi lên thành một lực lượng chính trị tranh giành quyền, ghế trong Chính phủ Hồ Chí Minh...Quốc hội năm 1946 đã phải chia 70 ghế cho Quốc dân Đảng...
Để thoát khỏi cái cảnh một cổ hai ba tròng, tập trung vào một kẻ thù, trong sạch nội bộ, Chính phủ Hồ Chí Minh đã thương lượng và thỏa hiệp với Pháp để quân Pháp ra miền bắc thay thế quân Tưởng Giới Thạch...Thực ra đây cũng là hành động cực chẳng đã, “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừ” mà thôi; một cuộc mặc cả chính trị trong thế đường cùng của Chính phủ Hồ Chí Minh và cũng không có cách nào khác hơn...
Vì ký kết Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 nên trên báo của Đảng Cộng sản lúc đó ( đã rút vào hoạt động bí mật ) đã đăng một bài ám chỉ coi đây là hành động thỏa hiệp vô nguyên tắc, hành động bán nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “ ôm chân “ hay nói cách khác là bán Việt Nam cho Pháp...
Cụ Hồ đã phải đứng ra điều trần, rơm rớm nước mắt mà thanh minh: Hồ Chí Minh này không phải là kẻ bán nước...Sau này có nguồn tin xác minh: người viết bài báo chỉ trích Cụ Hồ ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, coi đây là hành động ôm chân Pháp chính là ông Trường Chinh, lúc Đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam...
Thực ra để đổi được việc quân đội Pháp thay thể đội quân Lư Hán ở miền Bắc, phía Pháp cũng đã có những mặc cả, đi đêm với Tưởng Giới Thạch; một trong những nhượng bộ quan trọng mà phía Pháp đã nhượng cho Tưởng Giới Thạch, đó là việc bàn giao việc khai thác đoạn đường sắt Hà Nội-Côn Minh trước thời hạn cho chính quyền Tưởng Giới Thạch...Đây là đoạn đường sắt do Pháp đầu tư theo hình thức mà ngày nay gọi là BOT khá tốn kém; vì đoạn đường sắt này xây dựng tại vùng núi cheo leo hiểm trở của Trung Quốc, ai đã đi tàu trên tuyến đường  sắt này mới thầy sự vĩ đại của công nghệ Pháp trong việc xây đựng đường sắt xuyên núi...Tuy hạn bàn giao cho chính quyền Trung Quốc chưa đến, nhưng Chính phủ Pháp đã nhượng lại quyền lợi này cho chính quyền Tưởng Giới Thạch; sau này chính quyền Trung Quốc của ông Mao được thừa hưởng quyền lợi khai thác tuyến đường sắt này mà không phải chia chác cho Chính phủ Pháp nhớ vào cuộc đổi chác 6/3/1946 này...Đây là tuyến đường sắt người Pháp làm ra để chuyên chở khoáng sản từ vùng Vân Nam, một vùng giàu khoáng sản của Trung Quốc chở về Pháp qua cảng Hải Phòng...
Về phía Pháp đã vậy, còn về phía Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa của ông Hồ Chí Minh thì cũng không phải cứ chỉ đặt bút ký là xua đuổi được đội quân Lư Hán vế nước được ngay. Để đuổi được quân Lư Hán sớm về nước, Cụ Hồ, cụ Huỳnh Thúc Khánh đã đành phải nghĩ đến kế hối lộ, đấm mõm Lư Hán để cho y chịu đưa quân về nước...
Như mọi người đều biết, sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chính phủ Hồ  Chí Minh đã tổ chức Tuần lễ Vàng để quyên góp vàng trong dân ủng hộ Chính phủ, số liệu vàng đóng góp cụ thể bao nhiêu chủ blog chưa nắm được con số chính xác, nhưng nghe nói cũng khá nhiều; một phần quan trọng trong số vàng quyên góp được Cụ Hồ, Cụ Huỳnh Thúc Kháng bàn nhau đem hối lộ cho Lư Hán...
Một vài nhân chứng biết rõ chuyện này cung cấp thông tin cho biết: người đứng ra quản lý vàng và cân số vàng này đem đi hối lội cho Lư Hán là ông Phạm Văn Đồng, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Tài chính, một người tin cẩn của Cụ Hồ...
Đích thân cụ Hồ và cụ Huỳnh đứng ra nhận và kiểm, cân số vàng trong đêm để hôm sau đem hối lộ Lư Hán; Cụ Hồ và Cụ Huỳnh đích thân mang số vàng này đi đưa cho Lư Hán; hồi đó nghe nói Lư Hán ở một ngôi nhà ở Cửa Nam...
Sở dĩ Cụ Hồ rủ Cụ Huỳnh tham gia với mình việc bí mật đưa hối lộ cho Lư Hán là do Cụ Hồ muốn dựa vào uy tín rất cao của cụ Huỳnh; Cụ biết nếu sau này chuyện hối lộ này lộ ra, có Cụ Huỳnh chứng kiến, đích thân cụ Huỳnh xách vàng đi thì không một ai nghi ngờ Cụ Hồ có xơ múi gì chuyện vàng này...
Theo như một vài nhân chứng kể về vụ Cụ Hồ đi đưa hối lộ này thì: khi hai Cụ đến nhà Lư Hán, Lư Hán bỏ mặc cho 2 cụ ở hàng lang không chịu tiếp hơn tiếng đồng hồ. Cụ Huỳnh điên lắm, kêu với Cụ Hồ: Thế này thì nhục quá Cụ ạ, về thôi...Cụ Huỳnh cáu đến mức dậm chân xuống sàn nhà làm vỡ cả gạch...Nhưng Cụ Hồ đã bĩnh tình khuyên Cụ Huỳnh: Xin Cụ vì thương nước, thương dân mà chịu sự nhục này...
Mãi sau Lư Hán mới chịu xuống; khi Lư Hán xuống, Cụ Hồ đã quắc mắt nhìn thẳng vào mặt Lư Hán và nói như quát rằng: Các ngài yêu cầu chúng tôi cung cấp gạo, thưa các ngài Chính phủ chúng tôi đang đói, bản thân tôi tuần cũng phải nhịn ăn một bữa...
Nói xong câu này Cụ Hồ dừng một chốc để dò xem thái độ của Lư Hán; Thấy Lư Hán có vẻ khó chịu, lúc đó Cụ Hồ mới nói: Gạo chúng tôi không có, nhưng...cụ hạ giọng: chúng tôi có vàng...
Phải nói Cụ Hồ cũng là người đưa hối lộ cự phách đúng lúc, đúng thời điểm và biết cách; Nếu không biết cách đưa thì kẻ đưa hối lộ, một hành vi hèn hạ vừa bị mất của lại bị kẻ nhận khinh; khi người ta đã khinh thì sẽ lấn, bắt nạt tiếp...Nhưng Cụ Hồ rất tinh quái, vì khi nghe Cụ Hồ nói: Chúng tôi có vàng...thì mặt Lư Hán dãn ra; Thế là việc đưa hối lộ là việc hèn nhưng mà vẫn giữ được giá cho người đưa hối lộ...
Điều quan trọng là khi đã đưa cho Lư Hán và y đồng ý nhận vàng rồi thì: Chính phủ Hồ Chí Minh đã cắt toàn bộ lương thực thực phẩm không tiếp tế cho quân đội của y...Khi đã không còn thức ăn thì quân của Lư Hán chỉ còn cách cuốn gói mà về Trung Quốc...
Chuyện Cụ Hồ đi đưa hối lộ vàng cho Lư Hán nghe nói sau đó ông Trường Chinh có cự nự lại; Ông Trường Chinh không dám phản đối chuyện hối lộ để cho Lư Hán rút quân về mà cho rằng: một chuyện lớn như thế này mà Tổng Bí thư Đảng không được bàn, không được biết...
Khi ông Trường Chinh với tư cách là Tổng Bí thư đưa ra thắc mắc này, Cụ Huỳnh đã mắng át đi: Các anh chỉ biết một mà không biết hai; Xin hỏi nếu cho các anh biết thì liệu Lư Hán nó có dám nhận số vàng này không ? Nó không nhận, nó cứ ở lại ỳ ra thì không những vàng mà có khi cả tính mạng của anh, của tôi có còn không ? Cụ Huỳnh nói đến mức đó ông Trường Chinh mới chịu thôi...
Qua câu chuyện này để thấy ngay từ khi mới thành lập nước, giữa Đảng và Chính phủ đã có những chuyện hục hặc quyền anh, quyền tôi...Nên nhớ, thời điểm năm 1946, do uy tín của Cụ Hồ lớn nên mọi vấn đề tập trung trong tay Cụ và Cụ quyết hết; Ngay cái Hiến pháp năm 1946 do Cụ Hồ chỉ đạo soạn thảo cũng đã theo tinh thần mọi quyền lực nằm trong tay Chủ tịch nước còn Thủ tướng chỉ là người thừa hành, giúp việc giống như Chánh  Văn Phòng... .

TỐ HỮU & BỌ LẬP

Kết quả hình ảnh cho tố hữuKết quả hình ảnh cho nguyễn quang lập
Chủ nhật, giải trí Bọ Lập phác họa Tố Hữu. Thú phết! Đểu phết nha!
Một hôm mình đọc bài của Nguyễn Quang Thiều viết về Tố Hữu, thấy nó viết hay kinh. Những chuyện nó kể mình đều biết cả nhưng chưa bao giờ dám viết ra. Thế mà nó viết ngon trớt, đọc nghe êm ru, lại còn cảm động nữa. Đọc bài nó xong, mình ngồi thừ, thấy tiếc. Thằng Thiều cũng gặp Tố Hữu loáng thoáng như mình thôi, thậm chí chẳng bằng mình thế mà nó có bài ngon lành, còn mình thì không. Mình cú, định viết bài đấu lại nó, nhưng lại nghĩ xưa ông sống thì không viết, giờ ông chết rồi có viết kiểu gì người ta cũng cho mình nói phét, nên thôi. Nhưng sáng nay tự nhiên muốn viết về ông quá, định bụng 5,6 giờ chiều mới viết, nhưng mót viết chịu không nổi. Thế là víêt luôn.
Mình có tính cục bộ, phàm ai là người Quảng Bình họăc yêu quí Quảng Bình mình đều quí mến cả. Thời chiến tranh Tố Hữu còn quá người Qúảng Bình, ăn dầm ở dề trong bom đạn với dân Đồng Hới, dân Bảo Ninh có khi cả năm trời. Tiếng là ngựa xe chứ chỉ xe U oat thôi, xe volga đường chiến tranh làm sao đi được. Thứ xe U oat bây giờ có đem cho tụi trẻ chúng nó còn mắng cho. Còn yến tiệc thì nói cho sang, thực ra mấy miếng thịt lợn, thịt bò kho kho xào xào, trẻ con nhà mình dỗ mãi chúng nó mới chịu ăn. Vì thế dù ai nói đông nói tây mình vẫn qúi Tố Hữu như thường.
Thời chiến tranh dượng Thành ( Cổ Kim Thành) làm chủ tịch tỉnh, mỗi lần vào Đồng Hới mình đều đến nhà dượng chơi...
Một hôm đến nhà dượng Thành, mình thấy một người đang ngồi với dượng nói chuyện gì đó rất hăng. Cả nhà đi lại cứ nem nép. Mình kéo thằng Vượng ra sân hỏi nhỏ, nói ai đó? Nó bảo Tố Hữu. Mình lạnh người, đứng lặng ngắt. Quá vinh hạnh thấy được Tố Hữu bằng xương bằng thịt. Mình đứng nép trong buồng nhìn ra, ngắm ông say sưa cho đến khi ông đi rồi vẫn đứng lặng ngắt. Mình về Ba Đồn khoe gặp Tố Hữu với tụi bạn, bóc phét nói Tố Hữu ôm mình, cho ngồi lên đùi dặn này nọ, tụi bạn ngưỡng mộ mình lắm. Thực ra có gặp cóc khô đâu, chỉ nhìn trộm ông thôi, hi hi.
Gần ba chục năm sau về làm báo Văn Nghệ mình mới thực sự gặp ông. Báo Văn nghệ có tục cứ đến 28, 29 tết là tổ chức ăn tết toàn cơ quan. Vị khách số 1 không bao giờ vắng là Tố Hữu, vì ông là sư tổ của báo. Thực ra trước đó mình cũng đã thấy ông nhưng chỉ thấy xa xa. Những lần đại hội nhà văn, vài ba hội nghị văn học ông đều là yếu nhân. Ông chưa đến cuộc họp chưa bắt đầu. Tố Hữu đứng đâu người ta đều chỉ trỏ thì thầm, nói Tố Hữu đó kià Tố Hữu đó kìa. Ông bắt tay người nọ, vỗ vai người kia rất vui vẻ. Lên diễn đàn nói chuyện cũng vui, không lý luận cao siêu gì, cứ như đứng kể chuyện chơi vậy thôi nhưng thỉnh thoảng đá ngang vài câu làm ai nấy lạnh sườn.
Chương trình đón tết báo Văn Nghệ bao giờ anh Quốc ( Bế Kiến Quốc) cũng chủ trò, đôi khi có anh Duật (Phạm Tiến Duật) nữa nhưng chủ yếu vẫn anh Quốc. Mình hỏi anh Quốc cụ Tố Hữu có đến không, anh nói đến chứ, năm nào cụ chả đến. Anh cười cười vỗ vai mình, nói mày thích ngồi với cụ hả, để rồi anh bố trí. Mình cưởi không nói gì nhưng trong bụng thì mừng lắm, được nói chuyện với Tố Hữu còn gì bằng.
Chương trình có 3 phần, năm nào cũng giống năm nào, đầu tiên là nhậu nhẹt, sau đó nghe Tố Hữu nói chuyện, cuối cùng là chơi trò đố vui có thưởng. Hồi đó Tố Hữu đã rời chính trường, nghe nói phụ trách ban chiến lược quốc gia gì đó nhưng thực ra là ngồi chơi xơi nước thôi. Nhậu nhẹt bao giờ cũng vui, ăn uống chẳng có gì nhưng đám văn ngồi đâu tất ở đó rôm rả. Mình thấy lạ là hễ Tố Hữu ngồi mâm nào, mấy ông anh trong báo kính cẩn khúm núm nhưng mắt trước mắt sau chuồn đi cả. Hữu Thỉnh chỉ ngồi với ông có 5 phút rồi nhảy đi mâm nọ mâm kia chúc mừng anh em, kì thực là để tránh nói chuyện với ông.
Nhìn đi nhìn lại không thấy ai, ông đi đến mâm mình, khi đó cũng chỉ mình và vài người. Mấy người này kính cẩn “dạ anh” rồi cũng lẹ làng biến đi, chỉ còn mình trơ khấc. Ông không hỏi mình tên gì mà hỏi mình quê đâu. Mình nói thưa chú cháu quê Quảng Bình. Mắt ông sáng lên và ông bắt đầu nói. Ông nói về Đồng Hới, về Quán Hàu, về Mẹ Suốt, chị Lý ( anh hùng Trần Thị Lý), về Lệ Ninh, về Nhật Lệ, về Đào Duy Từ… đủ thứ chuyện.
Ông nói nhỏ, đều đêu, hết đông sang tây, hết chuyện Quảng Bình sang chuyện thế sự. Ông nói chuyện thế sự hệt mấy ông hưu trí phường nói chuyện thế sự, đại khái ngày xưa thế này thế kia, bây giờ mấy ông trên kia… ông chỉ ngón tay chỉ chỉ lên trời, lăc đầu, rồi dừng lời. Lúc đầu mình nghe rất hào hứng, dù gì cũng được Tố Hữu cho nói chuyện, nhưng sau ông nói dài quá, lặp nhiều quá, đâm nản. Quanh đi quẩn lại cũng ngày xưa thế này thế kia, bây giờ mấy ông trên kia…Mình nghe thêm một tiếng nữa, các mâm nhậu cũng đã giải tán hết nhưng xem chừng ông vẫn không muốn kết thúc câu chuyện. Nói thật cảm giác như đang ngồi nghe cụ Nguyễn Xuân Sanh nói. Mình đã từng ngồi hứng chuyện cụ Nguyễn Xuân Sanh rồi, khiếp đến già hi hi.
Bảo Ninh thấy mình chịu trận, đứng nép ở cửa cười thích chí, dẩu mồm nói thầm cho mày chết cho mày chết! Tức khí mình nhảy ra kéo Bảo Ninh vào, nói dạ thưa chú đây cũng là nhà văn Bảo Ninh, người Quảng Bình, con bác Hoàng Tuệ. Tố Hữu bắt tay Bảo Ninh, nói à Bảo Ninh… à, Hoàng Tuệ! Mình tót lẹ ra cửa đứng nép nhìn Bảo Ninh chịu trận, cười khoái trá. Bảo Ninh khúm núm nghe, à dạ vâng rồi tranh thủ ông không để ý, ngoảnh về phía mình chửi thầm sư bố mẹ mày rồi vội vàng ngoảnh lại à dạ vâng. Bất kể Tố Hữu đang nói gì, có khi ông chưa nói xong câu nó đã à dạ vâng rồi lại ngoảnh về phía mình chửi thầm sư bố mày! Nó càng chửi mình càng sướng he he.
Mãi sau, nó vừa à dạ vâng vừa chắp tay giấu dưới gầm bàn lạy mình như tế sao, xin mình cứu cho. Cuối cùng mình cũng đi vào nói thưa chú anh Hữu Thỉnh đang đợi chú rồi dìu ông vào phòng Hữu Thỉnh. Hửu Thỉnh đang ngồi đọc cái gì đó, vò đầu bứt tai ( cái anh này lúc nào cũng đọc được, rảnh phút nào là nhảy vào phòng đọc bài ngay), thấy Tố Hữu vào anh vụt đứng dậy reo to: A, anh! Tiếng reo mừng hồ hởi phấn khởi như thấy bố anh từ vạn kiếp trở về. Hi hi.
Năm sau vẫn vậy, đầu tiên là nhậu nhẹt, sau đó Tố Hữu nói chuỷện, cuối cùng là đố vui có thưởng. Món đố vui có thưởng anh em rất thích, ai cũng muốn mình kiếm được giải thưởng tranh Thành Chương về treo. Nhưng Tố Hữu nói dài quá. Mặc dù Hữu Thỉnh đã nhắc khéo, nói anh Tố Hữu đang rất rất bận, anh chỉ nói chuyện với anh em có 10 phút thôi. Nhưng Tố Hữu đâu có thèm chấp, ông chơi cả 100 phút không dừng. Anh em nói chuyện ồn ào như vỡ chợ ông vẫn cứ nói. Đã gần 10 h rồi mà còn một tiết mục nữa. Trương Vĩnh Tuấn đi vào đi ra mặt nhăn như bị, nói ông Thỉnh sao không nhắc cụ một tiếng nhỉ, chết chết.
Bỗng có ai đó tắt phụt micro, tưởng ông dừng hoá ra ông vẫn không thèm chấp, vẫn cứ nói. Cho đến khi ai đó cúp cầu dao điện, cả toà soạn tối om, ông mời dừng. Hữu Thỉnh đưa ông xuống cầu thang, mình lúc cúc chạy theo sau. Hữu Thỉnh nói tiếc quá anh nói đang hay lại mất điện. Tố Hữu không nói gì, chắc ông cũng biết, vì cả khu Trần Quốc Toản điện đóm vẫn sáng trưng.
Thực lòng khi đó mình rất thương ông. Vẫn biết mình đến tuổi như ông thì còn lẩn thẩn gấp 10 ông nữa nhưng vẫn thương ông quá. Giá ông đừng làm quan, chỉ làm thơ thì hay biết bao nhiêu

Tổng chi phí cho các hội lên tới 68.000 tỉ đồng


Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Tổng chi phí cho các hội lên tới 68.000 tỉ đồng

07/07/2016 16:49 GMT+7
TTO - Đó là chia sẻ của TS Hoàng Ngọc Giao, viện trưởng Viện Chính sách pháp luật và phát triển, tại hội thảo của Liên hiệp Các tổ chức khoa học kỹ thuật VN liên quan Luật về hội.
Tổng chi phí cho các hội lên tới 68.000 tỉ đồng
Ông Hoàng Ngọc Giao - Ảnh: Nguyễn Khánh
Hiện nay VN có hàng loạt hội đoàn như Hội Nhà văn, Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh, Hội Người cao tuổi, Hội Nhạc sĩ, Hội Điện ảnh, Hội Kiến trúc sư, Hội Luật gia, Liên minh các hợp tác xã VN…
Theo ông Hoàng Ngọc Giao, Hiến pháp quy định công dân VN có quyền lập hội. Và thực tế, dẫn nghiên cứu của Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội), ông Giao cho biết tổng ngân sách nhà nước mỗi năm ước chi cho các hội - đoàn thể lên tới khoảng 14.000 tỉ đồng.
Theo ông Giao, con số trên là cao hơn dự toán ngân sách năm 2016 dành cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (khoảng 11.000 tỉ), cao gần gấp đôi ngân sách dành cho Bộ GD-ĐT và Bộ Y tế…
Đặc biệt, ông Hoàng Ngọc Giao cho biết nghiên cứu trên đã nêu nếu tính đủ cả chi phí kinh tế - xã hội, tức gồm cả đất đai, nhà cửa, xe cộ và các tài sản khác, chi phí cho toàn hệ thống các hội đoàn mỗi năm dao động từ 45.600-68.100 tỉ đồng.
“Kinh phí trên là tính cả chi phí cơ hội, như Tổng liên đoàn Lao động VN có hàng loạt nhà nghỉ, khách sạn…” - ông Giao nói.
Trong khi đó, theo tờ trình Luật về hội của Chính phủ gửi lên Quốc hội thì Chính phủ cho biết tính đến tháng 12-2014 cả nước có 52.565 hội (483 hội hoạt động phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động phạm vi địa phương). Biên chế năm 2015 đã giao cho các hội đặc thù là 7.445 biên chế.
Theo ông Hoàng Ngọc Giao, quyền lập hội theo nhu cầu của Đảng và Nhà nước chưa được quy định cụ thể theo hướng tăng cường hiệu quả, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các tổ chức hội được Nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động. Ông Giao đánh giá dự thảo Luật về hội do Bộ Nội vụ soạn thảo chưa thể hiện những giải pháp nhằm giảm thiểu xu thế bao cấp kinh phí với các hội do Đảng, Nhà nước thành lập.
Ông Nguyễn Ngọc Lâm (nguyên vụ trưởng Vụ Các tổ chức phi chính phủ, Bộ Nội vụ) cũng có tham luận tại hội thảo với tư cách chủ tịch hội đồng Trung tâm Nghiên cứu quản lý và phát triển bền vững đã thẳng thắn cho biết giờ nghỉ hưu, ông nói có thể khác so với thời đương chức.
Theo ông Lâm, Luật về hội đã được xây dựng vào đầu năm 1990 của thế kỷ trước nhưng sau 20 năm chưa ban hành được. Có nhiều nguyên nhân, nhưng có nguyên nhân “chúng ta chưa nhận thức rõ vai trò của các tổ chức phi chính phủ”. Để luật lần này “đi đến đích” trong Quốc hội khóa XIV, ông Lâm kiến nghị: nâng cao nhận thức vì phát triển hội thực chất là phát triển các tổ chức của dân, thực hiện quyền làm chủ của dân.
Ông Lâm đề nghị cần nghiên cứu toàn diện về hội và các tổ chức phi chính phủ của VN để đánh giá chính xác về số lượng, các chính sách cũng như hiệu quả hoạt động… của các hội, lấy đó làm cơ sở xây dựng Luật về hội.
C.V.KÌNH