Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2016

Kami - Người Buôn Gió có vai trò gì trong vụ Trịnh Xuân Thanh bỏ trốn?

Mời đọc Tổng tập Bút ký Thế sự của Phạm Viết Đào tại địa chỉ:
Nvphamvietdao1.blogspot.com

Có thể, có người của phe nhóm Trịnh Xuân Thanh tiếp xúc và gặp để nhờ Người Buôn Gió làm cái loa để tung tin nọ kia, nhằm đánh lạc hướng điều tra, lấy lý do biện minh cho việc CA Việt Nam họ cố ý không bắt Trịnh Xuân Thanh và chủ yếu là để trêu tức Trọng lú. Qua đó cho thấy, Người Buôn Gió chỉ là một thứ bung xung, “đánh quả” thuê để kiếm chác, chứ các thông tin mà Người Buôn Gió đưa chả có cái giá trị gì cả, hoàn toàn không có gì là đúng.


Dưới nhan đề "Trịnh Xuân Thanh bỏ trốn theo đường tiểu ngạch", báo Thanh Niên ngày 21/12/2016 cho biết Thiếu tướng Phạm Văn Các, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) cho hay vụ việc Trịnh Xuân Thanh, nguyên Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tổng Công ty xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC). Thời điểm tống đạt quyết định khởi tố bị can Trịnh Xuân Thanh thì người này đã bỏ trốn, lúc đó ông Thanh đang giữ chức vụ là Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang và đang xin phép nghỉ để chữa bệnh”, thiếu tướng Phạm Văn Các thông tin thêm, đến thời điểm này, xác định Trịnh Xuân Thanh bỏ trốn không phải qua đường chính ngạch.

Thông tin từ Thiếu tướng Phạm Văn Các khá phù hợp với một nguồn tin trên trang mạng tin tức hang ngày online trước đây cho biết, “Trịnh Xuân Thanh đã bỏ trốn ra nước ngoài, từ ngả Trung Quốc. Cũng nguồn tin này cung cấp dữ liệu đáng lưu ý: Máy quay AN ở cửa khẩu Tân Thanh Lạng Sơn đã quay được hình ảnh Trịnh Xuân Thanh xuất cảnh qua cửa khẩu này để sang Trung Quốc?”

Tuy nhiên, trước thông tin của tác giả Sơn Hà (xin nhắc lại là Sơn Hà chứ không phải Hà Sơn như Người Buôn Gió viết), tác giả Người Buôn Gió đã phản bác rằng, “Nhận định này được một người tên là Hà Sơn tập hợp này với nhiều tin khác thành một bài viết để cho rằng Nguyễn Phú Trọng vì lo sợ Trịnh Xuân Thanh đưa ra những bằng chứng tố cáo nên phải im miệng mấy ngày qua, các bằng chứng này theo Hà Sơn là do Trung Quốc cung cấp.

Tức là cây viết nặc danh Hà Sơn đã tận dụng nhận xét của Phạm Viết Đào để suy diễn nhằm mục đích bênh vực cho Nguyễn Phú Trọng.”

Trước đây không lâu, khi đánh giá về Người Buôn Gió tôi đã từng viết rằng, Người Buôn Gió viết toàn dựa theo trí tưởng tượng và viết theo lối chuyện kiếm hiệp. Văn của Người Buôn Gió chỉ dành cho mấy ông xích lô (hay xe ôm) và mấy bà bán khoai nướng bên vỉa hè, giới bình dân này thì vô cùng đông. Chứ người tử tế, đứng đắn và có học thì người ta chỉ đọc bài viết của Người Buôn Gió 1-2 lần, rồi sau đó thì chẳng ai người ta buồn xem lại vì toàn viết nhảm.

Vì sao lại nói như vậy?

Ví dụ thứ nhất gần đây, như chuyện Trịnh Xuân Thanh trốn bằng được tiểu ngạch qua Trung Quốc là của tác giả Sơn Hà viết ra, vậy mà ông Người Buôn Gió lại cho rằng tác giả Sơn Hà chế biến thông tin của ông Phạm Viết Đào, Người Buôn Gió viết như sau “Như vậy do túm được thông tin không rõ ràng của Phạm Viết Đào, cây bút nặc danh Hà Sơn đã chế biến nó theo chiều hướng suy diễn rằng ông Trọng sở dĩ im lặng những ngày qua. Vì lo sợ những tài liệu mà Trịnh Xuân Thanh được Trung Quốc cung cấp bung ra ngoài.”

Cụ thể, theo tác giả Sơn Hà viết rằng, ''Nếu nguồn tin này là xác thực thì, khả năng phía Trung Quốc phối hợp cùng với Bộ CA Việt Nam đã giải cứu thành công cho Trịnh Xuân Thanh và như thế có thể suy đoán rằng, củng cố các nghi vấn xung quanh việc vì sao Trịnh Xuân Thanh lại dọa rằng, sẽ công bố các bằng chứng bằng âm thanh, hình ảnh do phía Trung Quốc cung cấp để không chế Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Việc im hơi lặng tiếng của ông Trọng trong thời gian gần đây đã cho thấy sự chính xác. Để giúp cơ quan điều tra tìm ra manh mối xem: ai, thế lực nào đã giúp Trịnh Xuân Thanh trốn thoát ra nước ngoài?”

Không hiểu vì lý do gì, mà tác giả Người Buôn Gió giãy nảy lên trước các thông tin như vậy. Nếu không như thế thì tại sao lại phải lồng lên như gái ngồi phải lá han như thế này (trích): “Cho đến này chưa có bằng chứng nào của Trịnh Xuân Thanh tung ra mà có dấu ấn của Trung Quốc đưa cho. Cái thứ hai bản thân ông Nguyễn Phú Trọng học bài '' đả hổ diệt ruồi '' của Trung Cộng, cử ban kiểm tra trung ương sang Trung Cộng học cách đánh phe phái khác dứoi danh tham nhũng. Như thế không đời nào Trung Cộng lại bao che cho Trịnh Xuân Thanh hoặc Trịnh Xuân Thanh chọn đường xuât cảnh qua Trung Cộng.”

Song những cái vừa nêu xong không quan trọng bằng điều mà Người Buôn Gió viết tiếp sau đây;“Ông Phạm Viết Đào còn nói về việc Trịnh Xuân Thanh bay qua Đức, bị giữ 4 ngày, sau đó bị trục xuất lại về Canada. Xin khẳng định rằng, mọi tin tức ông Đào đưa ra đều là sai lạc, từ đó để thấy rằng những nhận định trong bài viết của Hà Sơn đều vô giá trị, bởi chúng dưa trên cơ sở lời nói vô giá trị, nếu như không nói là bịa đặt.”

Chuyện “Trịnh Xuân Thanh bay qua Đức, bị giữ 4 ngày, sau đó bị trục xuất lại về Canada” thì là chính do Người Buôn Gió là người đưa ra thông tin này rành rành. Mà theo người ta cho rằng đó là cuộc trao đổi với một nhân viên đại diện thương mại Trung Quốc gốc Việt có tên Winnie Tran, hiện vẫn còn lưu trữ trên google. Vậy mà Người Buôn Gió không hiểu sao (chắc là quên) vẫn xưng xưng đổi trắng thay đen để vu cho ông Phạm Viết Đào như vậy? (Xem hình ảnh)


Nhắc lại điều đó để thấy, những nhận định vừa xong của tác giả Người Buôn Gió không có gì để đáng tin cả. Nói như vậy để cho mọi người biết rằng, Người Buôn Gió có lẽ chỉ là một kẻ bồi bút viết thuê theo đơn đặt hàng của phe nhóm của Trịnh Xuân Thanh không hơn không kém.

Chỉ nói đơn giản thế này thôi để chứng minh điều đó, thứ nhất Trịnh Xuân Thanh, về chức vụ thì là P. Chủ tịch tỉnh Hậu Giang, ĐBQH khóa 14 hàm tương đương Thứ trưởng. Về tiền bạc thì Trịnh Xuân Thanh là vô biên, khỏi phải kể đến cho mệt. Thứ 2, về tội trạng của Trịnh Xuân Thanh bây giờ mà để bị CA Việt Nam bắt được thì chỉ có con đường duy nhất là ra nghĩa địa, nghĩa là dựa cột – tử hình. Trịnh Xuân Thanh là một người có học thức, thừa trí thông minh, vậy Trịnh Xuân Thanh vì động cơ gì mà phải lộ diện để gặp Người Buôn Gió?

Không chỉ thế, Trịnh Xuân Thanh lại còn chủ động liên lạc và gặp Người Buôn Gió, thì quá là chuyện quá hoang đường. Cứ tự hỏi Người Buôn Gió thì có cái giá trị gì trên đời này để Trịnh Xuân Thanh cần phải trực tiếp gặp và nhờ vả?

Thực ra thì cũng có thể, có người của phe nhóm Trịnh Xuân Thanh tiếp xúc và gặp để nhờ Người Buôn Gió làm cái loa để tung tin nọ kia, nhằm đánh lạc hướng điều tra, lấy lý do biện minh cho việc CA Việt Nam họ cố ý không bắt Trịnh Xuân Thanh và chủ yếu là để trêu tức Trọng lú. Điều đó có thể là có thật.

Nói có sách, mách có chứng, LS Vũ Đức Khanh ở Canada, người đã nhiều năm sống tại Bỉ, đã viết trên facebook cá nhân, về chuyện NBG kể lại chuyến đi gặp Trịnh Xuân Thanh ở Hà Lan, trong bài viết "Trịnh Xuân Thanh - Tên anh không có trong danh sách" đăng trên blog cá nhân của Người Buôn Gió ngày 24 tháng 11 năm 2016. Theo LS. Vũ Đức Khanh, tác giả Người Buôn Gió viết sai sự thật, nguyên văn như thế này:

“Tác giả Người Buôn Gió viết rằng ông đã gặp ông Trịnh Xuân Thanh ở thành phố Liège, miền Đông Nam Bỉ cách thành phố Maastricht (biên giới Bỉ - Hà Lan) khoảng 33 km và cách thành phố Aachen (biên giới Bỉ - Đức) khoảng 56 km. Ông cho biết rằng ông "đến nhà ga trung tâm Liège lúc 3 giờ chiều". Ông viết tiếp "mùa này trời châu Âu tối rất nhanh".

Theo tôi thì ông đã đáp tàu hỏa đi từ Đức đến nhà ga (Gare de Liège-Guillemins). Nhà ga này là một trong những nhà ga lớn của Bỉ, nối liền với các thành phố lớn của Âu Châu (Pháp, Đức Hà Lan). Bên cạnh nhà ga này (khoảng 2 phút đi bộ) là bến xe buýt liên quốc gia (Liège-Guillemins Eurolines Bus Stop), nơi có thường xuyên những chuyến xe đi từ Liège sang Maastricht (Hà Lan).

Điều làm tôi khó hiểu là vì sao tác giả lại viết "rất khó khăn từ nhà ga tôi mới tìm được bến xe liên quốc gia, trời Bỉ mưa gió cuối thu, lạnh và lá vàng xoáy trong cơn gió táp vào mặt theo cái lạnh. Tôi đứng chờ người của Trịnh Xuân Thanh" - trong khi nhà ga tàu hỏa và ga xe buýt ở Liège-Guillemins lại nằm sát bên nhau ???

Tác giả cho biết đã gặp được ông Trịnh Xuân Thanh tại Liège khi ông Thanh đến đây bằng xe buýt của Hà Lan. Theo tôi thì nếu đúng như lời tác giả đã viết thì ông Trịnh Xuân Thanh đã đáp xe buýt từ Maastricht đến Liège. "Thanh xuống trước, đầu tiên tôi tưởng đó là chiếc xe buýt của Bỉ, sau mới biết đó là xe của Hà Lan. Theo sau xuất hiện hai người nữa một già, một trẻ. Cả hai người tôi chưa bao giờ gặp họ", tác giả viết.

Theo cách trình bày của tác giả, tôi đoán ông Trịnh Xuân Thanh có thể đang tạm trú ở một vùng nông thôn hẻo lánh nào đó trong khu vực tam giác ngã ba biên giới "Bỉ, Đức và Hà Lan". Khu vực này rất ít người Việt sinh sống. Thậm chí ở Liège, theo ước lượng của tôi thì số lượng người Việt tại đây cao lắm chỉ hơn 3.000 người.

Tôi từng sống ở khu vực này trong thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước nên tôi có thể khẳng định rằng người Việt ở đây không nhiều. Và đặc biệt nhất là số lượng người Việt sử dụng phương tiện giao thông công cộng ở đây cũng hiếm. Bạn sẽ ít gặp người Việt ở nhà ga tàu hỏa này cũng như ga xe buýt, ngoại trừ giờ cao điểm trong tuần khi một số công chức liên bang phải đi tàu hỏa từ Liège đến Bruxelles làm việc.

Vấn đề là vì sao vụ "Trịnh Xuân Thanh" đã gần 3 tháng rồi mà Chính phủ Việt Nam dường như vẫn bị hai ông "Người Buôn Gió và Trịnh Xuân Thanh" trêu chọc, xỏ mũi dẫn đi vòng vòng mà không có biện pháp gì xứng đáng là Chính phủ ?

Thực sự thì ông Thanh và những người ủng hộ ông đang muốn gì ?

Tôi nghĩ, nếu tác giả Người Buôn Gió đúng đã gặp ông Trịnh Xuân Thanh ở Liège thì an ninh tình báo Âu Châu đã xác định được "chỗ ở" của ông Thanh và chắc chắn họ sẽ có những hành động cụ thể hơn chứ không thể để cái màn này tiếp tục diễn ra trên địa bàn của họ.

Cách thức mà Người Buôn Gió viết về việc "mật vụ" Việt Nam sẽ tìm cách tiếp cận nhẹ nhàng để ông Thanh được đưa trở về Việt Nam không phải là chuyện mới. Trung Quốc đã từng thực hiện hiện việc này rất nhiều lần ở Âu Châu, Canada và Mỹ nhưng không phải lúc nào cũng được nhưng cũng đừng quên đó là Trung Quốc. Tôi không tin Âu Châu, Mỹ, Canada hay Úc nhắm mắt làm ngơ để mật vụ Việt Nam thi hành điệp vụ trên đất nước của họ.

Nếu ông Trịnh Xuân Thanh không chơi sớm "ván bài lật ngửa" thì số phận của ông sắp tới giờ được định đoạt bởi bên thứ ba. Chỉ có ông và riêng ông mới có thể cứu được ông bây giờ.”


LS. Vũ Đức Khanh là một người có học, vả lại cực kỳ có uy tín trong giới truyền thông, do đó tôi tin rằng LS. Khanh không bao giờ đặt điều nói dối. Nhưng, nếu chỉ một người - LS. Vũ Đức Khanh nói thì chưa đủ thuyết phục, để khẳng định rằng Người Buôn Gió toàn luyên thuyên.

Nhưng còn thêm người thứ 2, một người gốc Việt ở Hà Lan họ nhắn tới Người Buôn Gió trên facebook của họ thế này: “Dù những người bạn của ông Trịnh Xuân Thanh đã rất kỹ lưỡng, nhưng theo tôi là vẫn còn sơ xuất nhỏ ...Hình ông TXT đứng bên cạnh chiéc xe Bus mang biển số Hà Lan là 16-BBS-2. Đây không phải xe Bus đương dài bình thương của các công ty xe khách Hà Lan mà là của công ty du lịch WELGRAVEN TRAVEL tại một phố nhỏ cách Amsterdam chừng hơn giờ xe. Đấy là Leuvenheim phố nhỏ này dễ tìm .

Nếu như AN Hà Lan muốn tìm thì quá dễ dàng rồi. Ông TXT đi trên xe này họ sẽ biết ông mang quốc tịch gì ,và cả những người đi cùng ông nữa cũng sẽ trong danh sách của AN Hà Lan và Đức. Như vây nếu đúng ông đi trên xe mà ông gió đã đưa lên thì giờ ông TXT ở người ta cũng sẽ biết. Nếu phía VN hỏi Hà Lan lấy thông tin thì kể như xong. Vấn đề ông TXT sẽ bị túm chỉ là vào lúc nào thôi.

Nhưng đây cũng có thể là trò đánh lạc hướng của lão gió và những cộng sự của TXT . Nếu là trò đánh lạc hướng thì người ta chỉ biết đến là chiếc xe Bus kia đang dừng ở đâu mà và chấm hết.

Xin những người bạn của ông TXT và lái gió cẩn thận nữa, chỉ cần một sơ xuất nhỏ thôi thì ông thanh sẽ trong tầm tay AN VN . Người theo dõi vụ TXT ,tôi rất thích trò chơi trốn tìm từ nhỏ nên xem ông TXT trốn được lâu ko ?Trước khi dừng xin uống một ly rượu vang và cầu chúc ông TXT thành công. Ha ha...”

Qua đó cho thấy, việc khẳng định Người Buôn Gió chỉ là một thứ bung xung, “đánh quả” thuê để kiếm chác, chứ các thông tin mà Người Buôn Gió đưa chả có cái giá trị gì cả, hoàn toàn không có gì là đúng.

Xin không phải bình luận gì thêm nữa, vì nghiệp vụ của An ninh Việt Nam họ cao hơn NBG không dưới 100 lần. Người Buôn Gió bốc phét và lừa dối mấy bác xe ôm, mấy cô bán khoai bên vỉa hè được chứ sao lừa được những người khác bằng 3 cái trò trẻ con như thế sao có ai tin?

Người ta bảo trên trời có chín tầng mây, nói như thế cũng chỉ muốn nhắc ông Người Buôn Gió rằng, một kẻ tầm như Gió cũng nên biết cái giá trị của bản thân mình đến đâu, ông thuộc cỡ nào, để bớt chém gió nói phét đi. 


Merry christmas and Happy new year 2017!

Đêm 24/12/2016

© Kami

* Đây là trang Blog cá nhân của Kami. Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á châu Tự do RFA.

Bí quyết thành công của các nước Bắc Âu

Posted on  by The Observer

Print Friendly
Norway … the nice side, at least.
Nguồn: “The secret of their success“, The Economist, 02/02/2013.
Biên dịch và chú thích: Phạm Vũ Lửa Hạ
Các nước Bắc Âu có lẽ trị quốc tốt nhất thế giới
Cecil Rhodes[i] từng nhận xét rằng “sinh ra là người Anh coi như trúng số độc đắc”. Ngày nay ta cũng có thể nói như vậy về người sinh ra ở Bắc Âu. Các nước Bắc Âu không chỉ tránh được phần lớn những vấn nạn kinh tế đang làm rung chuyển vùng Địa Trung Hải; mà còn tránh được phần lớn những căn bệnh xã hội đang hành hạ nước Mỹ. Xét về bất cứ chỉ số nào đo lường tình trạng ổn định và lành mạnh của một xã hội – từ các chỉ số kinh tế như năng suất và đổi mới sáng tạo đến các chỉ số xã hội như tình trạng bất bình đẳng và tội ác – các nước Bắc Âu quần hội ở gần đầu bảng xếp hạng (xem bảng).
2012ranking-2
Tại sao khu vực hẻo lánh, dân cư thưa thớt, với mùa đông băng giá và những vùng hoang vu mênh mông này lại thành công đến vậy? Đã có thời đa số người dân các nước này chẳng ngần ngại ca ngợi chính phủ của họ, cái chính phủ mà trong phần lớn thế kỷ 20 chính là những nhà dân chủ xã hội nấp dưới một trong những vỏ bọc dân tộc khác nhau của họ. Chính phủ đó đã cung cấp cho người dân các dịch vụ phúc lợi trọn đời, từ lúc lọt lòng cho đến khi xuống mồ, cứu họ thoát khỏi cảnh sống khắc nghiệt của tổ tiên họ hồi thế kỷ 19, và can thiệp để cứu các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thoát khỏi những cuộc khủng hoảng định kỳ.
Nhưng giới chủ trương thị trường tự do bới lông tìm vết trong cách lý giải của giới ủng hộ vai trò can thiệp của chính phủ, và đưa một cách giải thích khác đầy thuyết phục. Trong giai đoạn từ 1870 đến 1970, các nước Bắc Âu nằm trong số các nước tăng trưởng nhanh nhất thế giới, nhờ một loạt các cải cách có lợi cho kinh doanh chẳng hạn như thành lập các ngân hàng và tư hữu hóa các khu rừng. Nhưng trong những năm 1970 và 1980 sự bành trướng thiếu kỷ cương của chính phủ  khiến những cải cách đó chựng lại. Giới chủ trương thị trường tự do nhận định rằng thành tựu đáng nể gần đây của khu vực này là nhờ họ quyết tâm giảm chi tiêu chính phủ và để cho giới kinh doanh được tự do hành động.
Vai trò của chính phủ trong việc cải thiện tình trạng bình đẳng cũng đang bị đặt câu hỏi. Andreas Bergh, thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế học Công nghiệp của Thụy Điển, nhận định rằng thu nhập [quốc dân] của Thụy Điển đã giảm sút trước khi nhà nước phúc lợi xuất hiện, mà nhà nước phúc lợi này là một hệ quả chứ không phải nguyên nhân của sự thịnh vượng của Bắc Âu – và suýt giết chết con ngỗng đẻ trứng vàng.
Bản tường trình đặc biệt này [của tạp chí The Economist] tán thành một số lập luận của giới chủ trương thị trường tự do. Các nước Bắc Âu đã từng nhiễm thói quen chi tiêu cho phúc lợi nhiều hơn khả năng trang trải của họ và thói quen dựa dẫm quá nhiều vào một số ít công ty lớn. Họ hành động đúng khi cố gắng tinh giản nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho kinh doanh. Nhưng sẽ sai lầm nếu [họ] hoàn toàn phớt lờ vai trò của chính phủ.
Các nước Bắc Âu hãnh diện về tính trung thực và minh bạch của chính phủ nước họ. Các chính phủ Bắc Âu bị giám sát chặt chẽ: ví dụ, ở Thụy Điển ai cũng có quyền xem tất cả các hồ sơ chính thức. Các chính khách bị bêu diếu, nếu họ nhảy khỏi yên xe đạp và chui vào xe limousine công.
Người Bắc Âu đã cộng thêm hai phẩm chất quan trọng vào tính minh bạch: tính thực dụng và tính quyết đoán. Khi phát hiện rằng kiểu đồng thuận dân chủ xã hội cũ không còn tác dụng, họ sẵn sàng từ bỏ nó mà chẳng một lời bàn cãi ầm ĩ và áp dụng những ý tưởng mới từ đóng góp của mọi giới chính trị bất kể tả hữu. Họ cũng tỏ ra hết sức quyết tâm trong việc thực hiện triệt để các cải cách. Nếu thấy người Bắc Âu tử tế mà tưởng họ nhu nhược yếu đuối là ta nhầm to.
Tính thực dụng giải thích tại sao sự đồng thuận mới đã nhanh chóng thay thế sự đồng thuận cũ. Ví dụ, hiếm có chính khách Dân chủ Xã hội Thụy Điển nào muốn bãi bỏ những cải cách bảo thủ được thực hiện trong những năm gần đây. Tính thực dụng cũng giải thích tại sao dường như các nước Bắc Âu thường có thể là nơi tập hợp đủ kiểu chính sách thiên tả và thiên hữu.
Tính thực dụng cũng giải thích tại sao người Bắc Âu liên tục nâng cấp mô hình của họ. Họ vẫn còn gặp nhiều vấn đề. Các chính phủ của họ vẫn còn quá cồng kềnh và khu vực tư nhân ở các nước này còn quá nhỏ. Thuế của họ vẫn còn quá cao và một số khoản phúc lợi của họ quá hào phóng. Hệ thống đảm bảo công ăn việc làm linh hoạt (flexicurity) của Đan Mạch quá coi trọng đến sự bảo đảm việc làm, nhưng quá coi nhẹ tính linh hoạt. Sự phát triển bùng nổ dầu hỏa của Na Uy đang có nguy cơ tiêu diệt tinh thần làm việc siêng năng cần mẫn. Quả là dấu hiệu xấu khi ở bất cứ thời điểm nào cũng có hơn 6% lực lượng lao động nghỉ bệnh và khoảng 9% dân số trong độ tuổi lao động sống bằng trợ cấp bệnh tật. Nhưng người Bắc Âu tiếp tục áp dụng các cải cách cơ cấu mới, có lẽ là hơi chậm nhưng đầy dứt khoát và cương quyết. Họ lại đang thực hiện những điều này mà không hề hy sinh các đặc tính khiến mô hình Bắc Âu vô cùng có giá trị: khả năng đầu tư vào vốn con người và bảo vệ cho người dân tránh khỏi những xáo trộn vốn là một phần của hệ thống tư bản chủ nghĩa.
Noi gương Đan Mạch[ii]
Phần lớn các nước giàu hiện nay đang gặp những vấn đề mà người Bắc Âu đã gặp vào đầu những năm 1990 – chi tiêu công cộng vượt quá tầm kiểm soát và các chương trình phúc lợi an sinh quá hào phóng. Nam Âu cần đôi chút tính quyết đoán của Bắc Âu nếu muốn kiểm soát tài chính công. Và Mỹ cần đôi chút tính thực dụng của Bắc Âu nếu mong có cơ hội kiềm chế phúc lợi an sinh và cải cách khu vực công cộng.
Người Bắc Âu chẳng hề đỏ mặt ngượng ngùng khi cần quảng bá các ưu điểm của mô hình của họ. Các tổ chức nghiên cứu của Bắc Âu tiến hành những nghiên cứu chi tiết bằng tiếng Anh về cách họ cải cách nhà nước. Các chính khách tích cực bảo vệ quan điểm của mình ở các cuộc họp quốc tế và các chuyên viên tư vấn Bắc Âu mang kinh nghiệm chuyên môn của mình về khu vực công cộng đi bán khắp thế giới. Dag Detter đã đóng vai trò chủ đạo trong quá trình tái cấu trúc danh mục đầu tư thương mại của nhà nước Thụy Điển trong những năm 1990, chiếm hơn một phần tư khu vực kinh doanh. Từ đó ông đã cố vấn cho chính phủ các nước ở Châu Á và Châu Âu.
Song khó mà hình dung được mô hình trị quốc của Bắc Âu có thể truyền bá nhanh chóng, chủ yếu bởi vì tài năng trị quốc Bắc Âu mang tính đặc thù, không giống ai. Việc trị quốc ở Bắc Âu xuất phát từ sự kết hợp địa lý khắc nghiệt và lịch sử ôn hòa. Tất cả các nước Bắc Âu đều có dân số ít,bởi vậy những người thuộc tầng lớp chóp bu cầm quyền phải hòa đồng với nhau. Vua chúa các nước này sống ở những nơi tương đối giản dị và giới quý tộc cũng phải kỳ kèo mặc cả với các nông dân và thủy thủ có suy nghĩ độc lập.
Họ sớm đi theo chủ nghĩa tự do. Thụy Điển bảo đảm tự do báo chí vào năm 1766, và kể từ những năm 1840 về sau Thụy Điển bãi bỏ chế độ ưu tiên cho quý tộc khi giao phó những chức vụ cao cấp trong chính phủ, và tạo ra hệ thống công quyền dựa trên năng lực và không có tham nhũng. Họ cũng theo đạo Tin Lành – một tôn giáo giảm vai trò của giáo hội xuống chỉ còn là người hỗ trợ và nhấn mạnh đến mối quan hệ trực tiếp giữa con người và Thượng Đế. Một trong những ưu tiên chính của giáo hội Tin Lành là dạy nông dân biết đọc.
Sự kết hợp giữa địa lý và lịch sử đã cung cấp cho các chính phủ Bắc Âu hai nguồn lực quan trọng: sự tín nhiệm người lạ và lòng tin vào các quyền cá nhân. Một khảo sát của Eurobarometer[iii] về sự tín nhiệm xã hội tổng quát (khác với lòng tin trong gia đình) cho thấy các nước Bắc Âu nằm ở các vị trí dẫn đầu (xem biểu đồ dưới đây). Giới kinh tế học cho rằng sự tín nhiệm ở mức độ cao dẫn đến chi phí giao dịch thấp hơn – không cần đến kiện tụng kiểu Mỹ hay những thương vụ “có qua có lại mới toại lòng nhau” kiểu Ý để được việc. Nhưng các ưu điểm của Bắc Âu không chỉ dừng lại ở đó. Sự tín nhiệm đồng nghĩa với việc những người tài đức tham gia bộ máy công quyền. Công dân đóng thuế và tuân thủ luật lệ. Các quyết định của chính phủ được nhiều giới tán thành.
Mức tín nhiệm của công chúng đối với các thể chế*
 survey-1
 
Cuộc Khảo sát Các Giá trị Thế giới (The World Values Survey), đã thăm dò các giá trị ở hơn 100 nước từ năm 1981, cho biết dân Bắc Âu là những người có lòng tin lớn nhất thế giới về quyền tự chủ của cá nhân. Sự kết hợp kiểu Bắc Âu giữa chính phủ quy mô lớn và chủ nghĩa cá nhân có thể nghe kỳ lạ đối với một số người, nhưng theo Lars Tragardh, thuộc Đại học Ersta Skondal University College ở Stockholm, người Bắc Âu dễ dàng hòa hợp hai yếu tố này: họ xem công việc chính của nhà nước là cổ xúy quyền tự chủ của cá nhân và tính cơ động xã hội (social mobility).[iv] Bất cứ luật lệ xã hội nào của Bắc Âu – đặc biệt là các luật gia đình trong những năm gần đây – cũng có thể được chứng minh là ủng hộ quyền tự chủ của cá nhân. Dịch vụ giáo dục miễn phí phổ quát[v] giúp cho sinh viên thuộc mọi tầng lớp và hoàn cảnh đạt được tiềm năng của mình. Việc đánh thuế tách bạch đối với các cặp vợ chồng giúp người vợ được bình đẳng với người chồng. Dịch vụ giữ trẻ phổ quát tạo điều kiện cho cả hai bậc cha mẹ có thể đi làm toàn thời gian. Ông Tragardh có một cụm từ hữu ích để mô tả tâm lý này: “chủ nghĩa cá nhân có sự can thiệp của nhà nước” (statist individualism).
Người Bắc Âu mang theo thái độ này đối với chính phủ khi họ ra nước ngoài. Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khoảng 1,3 triệu người, một phần tư dân số Thụy Điển lúc đó, di cư, chủ yếu sang Mỹ. Nước Mỹ sáng tác cả thể loại chuyện tiếu lâm về “những người Thụy Điển khờ khạo” và thái độ sẵn sàng tuân thủ luật lệ của họ. Chính những người Thụy Điển khờ khạo đã tạo nên các cộng đồng được quản lý tốt nhất ở Mỹ, chẳng hạn như Minnesota. Thậm chí ngày nay những người Mỹ gốc gác Bắc Âu có khả năng cao hơn 10% so với người Mỹ trung bình về chuyện tin rằng “phần lớn mọi người có thể tin được”.
Quy mô lớn nhỏ không phải yếu tố duy nhất
Giới kinh tế học thường ngỡ ngàng về thành công kinh tế gần đây của các nước Bắc Âu trong khi chính phủ các nước này có quy mô quá lớn. Theo một quy tắc không chính thức trong giới chuyên môn, nếu số thu thuế tính theo tỉ lệ phần trăm của GDP tăng lên 10 điểm phần trăm, thì thường có tương quan với mức giảm nửa điểm phần trăm về tỉ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm. Nhưng các con số như vậy cần được điều chỉnh để phản ánh các lợi ích của tính trung thực và hiệu quả. Ví dụ, chính phú Ý ấn một gánh nặng kinh khủng đè lên vai xã hội vì các chính khách điều hành chính phủ chủ yếu lo chuyện vơ vét lợi lộc chứ không phải cung cấp dịch vụ công cộng. Goran Persson, cựu thủ tướng Thụy Điển, từng so sánh nền kinh tế Thụy Điển với một con ong – “với một cơ thể quá nặng nề và đôi cánh nhỏ, cứ tưởng con ong không bay nổi, nhưng nó bay được”. Ngày nay con ong đó vẫn đang giữ thể trạng khỏe mạnh và đang bay khỏe hơn nhịp bay của nó trong mấy chục năm qua.
Nguồn: Bản tiếng Việt © 2013 Phạm Vũ Lửa Hạ & pro&contra

[i] Cecil John Rhodes (1853-1902) là doanh nhân Anh, nhà tài phiệt ngành khai khoáng (chủ tịch đầu tiên của công ty kim cương De Beers), và chính khách ở Nam Phi. Ông dùng gia sản của mình lập học bổng Rhodes tài trợ cho sinh viên xuất sắc nước ngoài học ở Đại học Oxford. Học bổng này được nhiều nguồn như tạp chí Time, nhà xuất bản Yale University Press, báo The McGill Reporter,và Associated Press xem là học bổng quốc tế danh giá nhất thế giới. (Wikipedia)
[ii] Nguyên văn: “getting to Denmark”. Theo Ian Morris, chủ đề trọng tâm của tác phẩm Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng(The End of History and the Last Man, 1999) của Francis Fukuyama là “noi gương Đan Mạch”. Tác giả Fukuyama ý muốn nói đến việc tạo ra những xã hội ổn định, thanh bình, thịnh vượng, dung nạp mọi thành phần và tầng lớp, và trung thực. Cũng như trong tiểu luận nổi tiếng Sự cáo chung của lịch sử làm tiền đề cho cuốn sách này, Fukuyama xem đây là điểm tận cùng hợp lý của phát triển xã hội, và cho rằng tính chất Đan Mạch đòi hỏi phải có ba yếu tố: các nhà nước vận hành hiệu quả, chế độ pháp trị, và chính phủ có trách nhiệm giải trình. (Ian Morris,How To Get to the End of History, Slate, 2 May 2011)
[iii] Eurobarometer là loạt khảo sát dư luận được thực hiện định kỳ nhân danh Ủy hội Châu Âu kể từ năm 1973, về nhiều loại chủ đề liên quan đến Liên hiệp Châu Âu ở các nước thành viên. (Wikipedia).
[iv] Tính cơ động xã hội (social mobility) là khái niệm về sự dịch chuyển của các cá nhân, gia đình, hay nhóm người, trong một hệ thống đẳng cấp hay giai tầng xã hội. Nếu sự dịch chuyển đó là thay đổi về vị trí/chức vụ mà không thay đổi về tầng lớp xã hội, thì gọi là “cơ động theo chiều ngang” (horizontal mobility). Ví dụ một người dịch chuyển từ một chức vụ quản lý ở công ty này sang một chức vụ tương tự ở một công ty khác. Nhưng nếu sự dịch chuyển làm thay đổi tầng lớp xã hội thì gọi là “cơ động theo chiều dọc” (vertical mobility), và có thể “cơ động hướng lên” (upward mobility) hoặc “cơ động hướng xuống” (downward mobility). Một công nhân trở thành doanh nhân giàu có dịch chuyển lên giai cấp cao hơn; một quý tộc có đất bị mất hết gia sản trong một cuộc cách mạng dịch chuyển xuống giai cấp thấp hơn. (Bách khoa toàn thư Britannica)
[v] Dịch vụ giữ trẻ phổ quát (universal day care) là hệ thống bảo đảm mọi bậc phụ huynh đều có chỗ gửi con ở nhà trẻ mà không phải chờ đợi, thường có mức phí thấp và cố định. Ví dụ, ở Thụy Điển hệ thống này chủ yếu do nhà nước điều hành, chỉ có 20% đi nhà trẻ tư nhân. Năm 2002, nhà nước Thụy Điển áp dụng khung phí tối đa, giúp hệ thống này càng dễ trang trải hơn vì phí giữ trẻ mà phụ huynh đóng chiếm không quá 1 đến 3% thu nhập của họ. (Devine, Dympna & Kilkenny, Ursula, Nordic childcare model best for economic and social wellbeing, Irish Times, 9 June 2011)
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2015/12/26/thanh-cong-bac-au/#sthash.T8UfKGEr.dpuf

Ngô Minh - Bao giờ thì dân được làm chủ?

Dân chủ là một khái niệm rất rộng, rất cốt lõi của xã hội dân sự văn minh. Ở đây tôi chỉ xin đề cấp đến việc thực thị dân chủ ở địa phương mà Đảng CS và nhà nước Việt Nam mà các nghị quyết của Đaneg CS ở VN hay nói tới.. Các nghị quyết của Đảng Cộng sản từ mấy chục năm nay nói rất nhiều đến “quyền làm chủ của nhân dân”, “chính quyền của dân,  do dân, vì dân”.v.v…“ Có thể trích rất nhiều câu về dân làm chủ rất bóng bẩy :” đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân…Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân…”, “ … đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân…”, “…Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của xã hôi…”, hay ”…Phát huy hơn nữa dân chủ xã hội chủ nghĩa…”; :”  Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân…”; …Thực hiện đồng bộ các chính sách  và luật pháp của nhà nước  nhằm phát huy dân chủ .v.v..và .v.v..

ngo-minh
T/g Ngô Minh
Nhưng thực tế thì trước thời kỳ đổi mới, nhờ “khoán chui”, “tự cứu lấy mình trước khi trời cứu” của dân, người dân mới thoát cảnh chết đói tất cả ruộng đất đều vào Hợp tác xã . Nhờ dân, Đảng CS  mới có “nghị quyết 10 về khoán hộ trong nông nghiệp”. Thế là thành tích của dân biến thành thành tích của Đảng :” Đã biến nước ta từ một nước đói cơm thành một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới “.Nhưng rồi do chính sách “ruộng đất là sở hữu  nhà nước”, nên nông dân không còn ruộng nữa. Thế là mục tiêu “ruộng đất cho dân cày” Cuộc cách mạng trở thành con số không . Khắp nơi trong cả nước, tình trạng ruộng đất của nông dân bị thu hồi để xây dựng đô thị. Cán bộ lấy đất ruộng, đất vườn của dân phân lô chia nhau bán chác, làm giàu. Người dân không có quyền sở hữu nên  không đòi lại được. Không chịu giao đất thì họ cưỡng chế, vì quyền lực nằm trong tay  chính quyền. Điển hình là ông Trần Văn Truyền, Chánh Thanh tra Chihns phủ, trước khi về hưu đã cướp cho mình bốn năm căn nhà, năm sáu lô đất!.

Có rất nhiều vấn đề bức xúc vi phạm quyền làm chủ của nhân dân mà các Nghị quyết Đảng không  nói tới.. Thứ nhất là ở cơ sở , quyền dân chủ của nhân dân bị vi phạm nghiêm trọng . Vì thói “Kiêu ngạo cộng sản”, vì bệnh thành tích, vụ lợi, các Đảng bộ , chi bộ cơ sở luôn luôn che dấu khuyết điểm, đố kỵ với bất kỳ ai  phê phán mình. Ở đó Bí thư, thường vụ cấp ủy đảng bộ, chi bộ cơ sở là “Ông Đảng” có quyền sinh quyền sát. Bà con phê bình, phê phán, kiến nghị bất cứ việc gì đều bị quy là “ Nói xấu Đảng”. Ai bị quy kết là “Nói xấu Đảng” thì gia đình bị trù dập khốn khổ, con em không được xác nhận lý lịch để đi học đại học, trung học chuyên nghiệp, hay đi xin việc làm bất cứ đâu. Nên có thực trạng đau lòng là “ Người dân sợ  Đảng hơn là tin Đảng! ”. Những cuộc “Tiếp dân” được tổ chức định kỳ ở địa phương của lãnh đạo tỉnh, huyện  là rất hình thức, làm cho qua chuyện, đa phần là để “ quan lớn” thanh minh, chối tội về những khuyết điểm mà bà con chất vấn, chứ không phải là nơi để bà con “thực hiện vai trò phản biện” với Đảng. Thứ hai nữa là những người đến chỗ tiếp dân đều được chọn lọc là”cốt cán” của cấp ủy. Ý kiến đề đạt của dân trong những cuộc “Tiếp dân” đó không bao giờ đến tai người lãnh đạo cao của Đảng. Nên trong thực tế  Đảng đang ngày càng xa dân, có nhiều khi đối lập với nhân dân! Đảng cấp trên thì về tỉnh huyện đi đâu cũng xe cảnh sát hú còi inh ỏi, các quan Đảng không báo giờ biết  sự thật về đời sống  nghèo đói về vật chất và bị bức bách về tinh thần của người dân nông thôn. Các báo Đảng hay nêu khẩu hiệu:” Đưa nghị quyết vào cuộc sống”, nhưng nghị quyết thì chung chung nên không vào được cuộc sống, còn “cuộc sống trăm hoa đua nở” thì không được đưa vào nghị quyết , vì  đó không phải là “Ý Đảng”!

Một vấn đề nghiêm trọng nữa của Đảng cơ sở là ở các Chi bộ phường, thôn, xã ở các địa phương phía Nam  đảng viên đa phần là cán bộ về hưu. Có nhiều chi bộ ở phường tuổi câp ủy, đảng viên thấp nhất là 60 tuổi, tuổi cao nhất là 83, 85. Những đảng viên đó không có thông tin nhiều về đổi mới, tư duy của họ là tư duy từ thời bao cấp, cực đoan và lẩm cẩm. Những đảng viên này không bao giờ chấp nhận những ý kiến mới mẻ, nếu ngược với ý kiến của mình, nên người dân không bao giờ đề đạt được với Đảng những điều tâm huyết của mình. Với những cơ sở Đảng như thế, các bạn trẻ địa phương bao giờ cũng từ chối vào đảng vì sợ phê phán kiểm điểm là “đua đòi”,”lai căng”,”hư hỏng”. Họ tìm cách ra thành phố kiếm việc làm. Với những cơ sở đảng yếu kém như thế, những chủ trương chính sách có ích của Đảng và Nhà nước  không bao giờ đến được với người dân một cách trọn vẹn, mà trở thành một mớ lý luận chung chung, sáo rỗng, không có sức thuyết phục.

Ngay cả những đảng bộ cấp tỉnh, thành phố việc vi phạm quyền dân chủ của nhân dân cũng rất nghiêm trọng. Do trình độ nhận thức, học vấn có hạn, nhưng lại có tư tưởng kiêu ngạo “cấp trên bao giờ cũng trình độ hơn, đúng hơn cấp dưới”, nên rất nhiều bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh không thèm để ý đến nhưng lời phản biện quyết liệt của các nhà khoa học, nhà văn hóa về những công trình xây dựng phản văn hóa truyền thống như nhà văn hóa thay nhà rông ở miền núi, xét danh hiệu “Làng văn hóa”, “Cơ quan văn hóa”.v.v…  Bệnh lãnh đạo ác cảm với  những trí thức cương trực, chỉ nghe theo những người xu nịnh đang làm triệt tiêu những sáng kiến tâm huyết của nhân dân đối với công cuộc xây dựng đất nước. Một bộ máy công quyền chuyên sách nhiễu,”hành”dân, đục khóet dân là bộ máy phản dân chủ!

Có khẩu hiệu rất hay:”Dân biết ,dân bàn, dân  làm, dân kiểm tra”. Quả thật nếu làm được điều đó thì đất nước không thể có tham nhũng tràn lan như bây giờ. Nhưng đó chỉ là khẩu hiệu suông, hay nói nôn na là khẩu hiệu tuyên truyền, lừa lọc!  Vì không hề có cơ chế để thực hiện. Cơ chế cụ thể nào để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong từng công việc của đất nước ? Làm sao để dân biết rõ từng công việc của Đảng và chính quyền ? Công khai như thế nào ? Cơ chế thông tin như thế nào ? Dựa vào thẩm quyền nào để dân kiểm tra ? Nhân dân được làm chủ ở mức độ nào? Làm chủ những vấn đề gì ? Cách thức làm chủ như thế nào ? Dân chủ không thành máu thịt của cuộc sống xã hội mà chỉ là một mỹ từ. Muốn có dân chủ thực sự, phải có một  bộ luật thực hành dân chủ trong xã hội . Và ban hành nó để mọi người thực hiện.

Dân chủ là quyền tối thượng của mỗi con người được Hiến pháp bảo vệ, nhưng lại không có hiệu lực trong thực tế cuộc sống. Để phát huy dân chủ của nhân dân trước hết phải thực hiện dân chủ ở các làng xã.  Những chủ trương lớn của Đảng và nhà nước phải  tổ chức “trưng cầu dân ý”. Đó là một cơ chế khoa học mà chúng ta chưa bao giờ thực hiện. Làm được như vậy, dân mới tin khẩu hiệu “lấy dân làm gốc” của Đảng CS. Nhân dân thực hiện dân chủ trực tiếp, qua đại diện của mình và qua chế độ tự quản ở từng cộng đồng dân cư. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng  là những đại diện mà qua đó nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình. Một thực tế đau lòng hiện nay là Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể quần chúng không thể hiện được là người đại diện có thẩm quyền của nhân dân trước đảng, mà từ lâu đã biến thành “bộ phận của đảng”, tất cả các tổ chức này đều “sợ” Đảng, chỉ ”nói và làm theo lãnh đạo đảng cấp trên”. Nên tiếng nói phản biện của  người dân bị vô hiệu hóa. Từ đó Đảng không bao giờ nghe được tiếng nói trung thực của nhân dân. Vì thế phải tổ chức lại Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo đúng nghĩa một tổ chức xã hội,  đại diện thực sự của các từng lớp nhân dân, những tổ chức này không cần có nhiều đảng viên, thậm chí không cần thiết phải đảng viên làm lãnh đạo, có “ quyền nhất định” đối với đảng bộ cùng cấp. Có như thế mới có tiếng nói trung thực của chính mình đối với Đảng trong từng công việc của đất nước.

Bao giờ thì người dân được làm chủ thực sự

Ngô Minh

(Blog Ngô Minh)

ĐẠI TÁ TÌNH BÁO QUÁCH HẢI LƯỢNG: TRƯỚC KHI ĐÁNH VIỆT NAM 2/1979, TRUNG QUỐC ĐÃ LÀM TÊ LIỆT HỆ THỐNG TUYÊN GIÁO VN

Phạm Viết Đào. 
(thực hiện)

Mời đọc: Tổng tập Bút ký Thế sự tại địa chỉ:
nvpnhamvietdao1.blogspot.com

Đại tá Quách Hải Lượng nguyên Trưởng Phòng tác chiến Quân chủng Phòng không; Nguyên Tùy viên quân sự Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh; Nguyên cán bộ nghiên cứu Viện chiến lược Tổng Cục 2...
Cuộc phỏng vấn Đại tá Quách Hải Lương dưới đây được thực hiện và đưa lên blog từ 19/6/2012 lúc đó ông đang khỏe. 
Đại tá Quách Hải Lượng là 1 trong 5 người ký Bản kiến nghị 5 điểm...
Ông đã qua đời vì bạo bệnh tháng 9/2013...

"Trước khi đưa 60 vạn quân phát động cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía bắc, Trung Quốc đã phát động một cuộc chiến tranh về thông tin, một cuộc chiến tranh về tâm lý, Trung Quốc đã làm cho chúng ta bị tê liệt về ý chí trước khi nó đánh thật...
Đó là bài học cao nhất!
-Bài học thứ 2: Ta đã chuẩn bị từ năm 1978, đã làm tuyến phòng thủ Sông Cầu theo lệnh của ông Cố Duẩn ( TBT Lê Duẩn); Bài học thứ 2 đó là: Không được thống nhất trong Bộ chỉ huy và lành đạo cao nhất ? Đồng chí Duẩn đã quyết tâm như thế nhưng tại sao đồng chỉ Dũng ( Đại tướng Văn Tiến Dũng, BT Bộ Quốc phòng thời điểm 1979) ?
-Bài học thứ 3: Trên mặt trận cụ thể, người ở vị trí chiến lược cao nhất không bị bất ngờ nhưng thời điểm chiến thuật ta bị bất ngờ ?
-Bài học thứ 4 đó là: Chúng ta bị Trung Quốc đánh cho ruỗng về tinh thần mà chúng ta không hề biết; Đến nỗi trước hôm chúng nó đánh ta, Tướng Đàm Quang Trung còn đứng ở thị xã Cao Bằng nói: Trung Quốc cho kẹo cũng không dám đánh ta ? Không đánh được ta đâu...
Tôi trực ban tác chiến suốt buổi sáng 19/2/1979, buổi trưa tôi về nhà ăn cơm, bà vợ tôi cũng vừa đi nghe tuyên giáo nói chuyện chưa về. Khi bà về tôi hỏi: Đi đâu về đấy ? Bà ấy bảo: Em đi nghe tuyên giáo nói chuyện thời sự...Tôi hỏi: Tuyên giáo nói cái gì ? Tuyến giáo bảo: Có cho kẹo Trung Quốc không dám đánh minh...Tôi cười bào vợ: Thưa bà chị chúng nó đánh bon em từ sáng rồi đấy ?!
Hệ thống thông tin, tuyên giáo đã làm tê liệt tinh thần cảnh giác của rất nhiều người? Nguye hiểm đến thế...
Cho nên ta bị thiệt hại...về tinh thần trước khi bị thiệt hại về vật chất...
-Theo bác giai đoạn 1978, Trung Quốc đã dùng tiền không chế cán bộ mình chưa ?
- Từ năm 1973 họ đã không viện trợ cho ta rồi! Trung Quốc đã đi với Mỹ, coi Liên Xô là kẻ thù, coi Việt nam là tiểu bá mà ta không cảnh giác...
Khi đi thăm Mỹ, Đặng Tiểu Bình tuyên bố sẽ đánh Việt Nam ? 
Tổng thống Mỹ Gemmy Carter nói đùa: Đánh Việt Nam anh không sợ trời sập sao?
Đặng Tiểu Bình cười trả lời: Sợ gì, tôi lùn hơn anh, anh cao hơn tôi; Trời sập thì anh chết trước...
( Chứng tỏ TT Mỹ Carter rất thâm thúy, ông biết câu chuyện ngụ ngôn của Trung Quốc về một người nước Kỷ cách đây 2500 năm; Người này mất ăn mất ngủ, âu sầu, khổ não bởi suốt ngày lo trời sập, đất long, mình không biết nương tựa vào đâu...) 
Carter khuyên Đặng Tiều Bình nên tranh thủ sự đồng tình của Nhật. Đặng Tiểu Bình bay về qua Nhật luôn...Một ông Tổng Cục Phó Tổng Cục 2 bạn tôi có tài liệu nói rằng: Khi qua Nhật để tranh thủ sự đồng tình, Đặng Tiểu Bình không từ một thủ đoạn hèn hạ nào, đã cúi xuống hôn lá cớ Nhật...Giai đoạn đó tôi đi khắp các tỉnh biên giới thấy bà con dân tộc truyền nhau: Vua Đặng sắp sang đây...Nghe thế, tôi sợ quá về báo cáo với quân chủng: Thế này thì nguy hiểm lắm rồi. 
Tôi vào đến Huế, gặp một số trí thức; Tôi hỏi: Nếu Trung Quốc đánh mình thì thế nào? 
Trí thức Huế rất thắng thắng: Nếu ông Thiệu quay lại chúng tôi còn suy nghĩ, còn nếu Trung Quốc đánh ta nhất quyết phải đánh...Các cháu sinh viên Sài Gòn trả lời tôi: Ngày xưa chị Út Tịch đánh Mỹ đến còn cái lai quần cũng đánh; Còn bây giờ nếu Trung Quốc đánh ta, chúng cháu cũng sẽ theo gương Út Tịch: Còn cái lai quần cũng quyết đánh quân Trung Quốc xâm lược ! Tinh thần của dân như thế cơ mà..."
   

Tín ngưỡng – Cột trụ tinh thần vĩnh hằng của nhân loại; Mặt trái của nhân tính: Bạn càng nhân nhượng, người khác càng lấn tới

Làm người có thể rộng rãi, nhưng cần gặp được người biết báo ân; có thể lương thiện, nhưng cần phải gặp người thông tình đạt lý. Những lời nói sau đây, tuy chua chát, nhưng lại chính là mặt trái trong nhân tính con người.

nhân tính, nhân nhượng, mặt trái, Bài chọn lọc,
Bạn càng nhân nhượng, người khác lại càng muốn lấn tới. (Ảnh: Internet)
Bạn càng nhân nhượng, người khác lại càng muốn lấn tới
Bạn càng lùi bước, người khác lại càng tàn nhẫn hơn, càng muốn đuổi cùng giết tận.
Bạn càng tha thứ, người khác lại càng liều lĩnh hơn, càng không kiêng nể gì cả.
Bạn càng mềm lòng, người khác càng tham lam vô độ hơn.
Người hiền lành thường dễ bị bắt nạt, ngựa tốt thường bị người cưỡi.
Đây chính là bản chất trần trụi của nhân tính…
Bạn luôn theo đuổi, cũng sẽ dễ dàng bị ruồng bỏ.
Bạn luôn quan tâm, cũng sẽ bị ngoảnh mặt làm ngơ.
Bạn luôn cho đi, cũng sẽ bị coi là tất yếu.
Bạn luôn dốc lòng, cũng sẽ bị xem thành kẻ vô tâm.
Ngốc nghếch thường bị người đùa nghịch, thành tâm lại hay bị người giẫm đạp.
Đây là bài học xương máu…
Làm người có thể rộng lượng, nhưng cần phải gặp được người biết báo ân, bằng không, lòng tốt của bạn coi như uổng phí.
nhân tính, nhân nhượng, mặt trái, Bài chọn lọc,
Làm người có thể rộng lượng, nhưng cần phải gặp được người biết báo ân. (Ảnh: Internet)
Làm người có thể lương thiện, nhưng cần phải gặp được người thông tình đạt lý, bằng không thì chỗ dụng tâm của bạn coi như lãng phí.
Làm người có thể bao dung, nhưng cần gặp được người có lòng có dạ, nếu không thì bao nhiêu nhẫn nại cũng là vô ích.
Hãy nói với những người không hiểu ân tình kia, đừng xem bạn là kể ngốc. Bạn có thể dễ dàng tha thứ cho họ, chỉ vì bạn coi họ là bằng hữu. Nếu như nói ra những điều xấu của họ, thì nhất định có người sẽ mất mặt.
Đối với bạn bè, tha thứ nhưng không dung túng. Đối với tình cảm, quý trọng nhưng không thể nuông chiều.
Bạn có nỗi khổ tâm, nhưng cũng cần ai đó hiểu được. Bạn không muốn nói tâm trạng, nhưng cũng cần một ai đó cảm thông.
Bạn từng xem tôi là kẻ có mắt không tròng, bây giờ tôi xem bạn như người qua đường xa lạ.
Bạn đã từng bao lần không đếm xỉa đến tôi, bây giờ tôi cũng không muốn ngó ngàng gì tới bạn.
Bạn từng xem tôi là người đa tình đa cảm, bây giờ tôi xem bạn tựa như gió thoảng qua tai.
Hãy dành trái tim chân thành của bạn cho những người quan tâm bạn nhất!
Tuệ Tâm, theo Cmoney

Tín ngưỡng – Cột trụ tinh thần vĩnh hằng của nhân loại

Tín ngưỡng, kính ngưỡng đối với Thần Phật, sẽ vĩnh viễn tồn tại ở nơi nhân loại. Nó là con đường mà con người cả đời tìm kiếm theo đuổi. Tín ngưỡng có thể dẫn dắt con người trở về với bản nguyên của sinh mệnh, trở về ngôi nhà thật sự, cũng chính là phản bổn quy chân!

tu luyện, tín ngưỡng, thần Phật, phản bổn quy chân, cột trụ tinh thần, Bài chọn lọc,
Tín ngưỡng có thể dẫn dắt con người trở về với bản nguyên của sinh mệnh, trở về ngôi nhà thật sự của mình. (Ảnh: Internet)
Nhìn lên bầu trời, có muôn vàn vì sao không tính đếm được, không ai biết được rốt cuộc là có bao nhiêu. Trái Đất, trong vũ trụ mênh mông vô tận này, chỉ nhỏ bé đến mức không thể so sánh, chẳng qua chỉ là một hạt bụi li ti mà thôi. Con người sống ở trong hạt bụi bé tí tẹo này, có tư cách gì tự cao tự đại mà ca tụng bản thân, mà tự cho rằng “con người” là sinh mệnh chí cao vô thượng trong vũ trụ này?
Chẳng lẽ trên những tinh cầu khác không có sinh mệnh chăng? Có lẽ còn có vô lượng vô số sinh mệnh, thậm chí còn cao cấp hơn cả con người, hoặc thấp hơn con người hoặc ngang hàng với con người, phân bố rộng khắp các tầng không gian vũ trụ, chỉ là con người không biết rõ mà thôi!
Nhìn thấy những vì sao chi chít khắp trời, ta không khỏi tự hỏi:
Trong vũ trụ mênh mang này, rốt cuộc ta là ai?
Con người là khỉ tiến hóa thành, mấy chục năm nay chúng ta được học những điều như vậy trong sách giáo khoa dạy ở trường, nhưng trong tâm trước sau lại nghi hoặc: Loài khỉ trở thành “tổ tiên” của bản thân mình, cảm giác như đang bị sỉ nhục.
Tuy vậy, khi chúng ta đọc những tác phẩm lịch sử nổi tiếng trên thế giới, thì lại không có chút liên quan gì với thuyết tiến hóa này, điều được nhắc đến nhiều hơn cả chính là mối quan hệ giữa con người và Thần. Từ trong kinh điển nổi tiếng của các tôn giáo chính thống và những câu chuyện thần thoại xa xưa được lưu truyền lại, cùng với những tác phẩm nghệ thuật bất hủ, đều là ca tụng Thần, ca ngợi Thần.
Trong tất cả các tôn giáo chính thống, đều nói “con người” là do Thần dựa theo hình thượng bản thân mình mà tạo nên, khiến cho con người có được thân thể và ngoại hình giống như Thần. Con người, bởi vậy mà đã trở nên trân quý, đối với loài khỉ là không có mối liên quan gì.
Nhưng mà, dường như phần lớn con người hiện đại, đặc biệt là những người bị thuyết vô thần và thuyết tiến hóa lừa gạt, ngoài việc vì lợi ích của bản thân mà gieo quẻ xem bói hoặc vào chùa thắp hương bái Phật để cầu vận may ra, đại đa số người là đã không thể nói rõ ý nghĩa của việc cầu Thần bái Phật nữa; họ đã không cảm nhận được sự từ bi thù thắng của Thần Phật. Chùa chiền đã trở thành nơi cầu tài cầu lợi, bảo hộ bình an, không còn là điện đường thần thánh. Con người càng khó tìm kiếm nơi quy y của tâm hồn, kính ngưỡng đối với Thần Phật đương nhiên cũng đã không còn. Con người lại không biết rằng, đây chính là đang đi đến vực thẳm không đáy, phá hủy nền tảng đạo đức của nhân loại.
Những người am hiểu lịch sử, một lòng hướng thiện đều biết rõ rằng, trong dòng sông dài đẵng đẵng của lịch sử, tín ngưỡng mới là thứ duy nhất vượt qua sự tàn phá của thời gian, mới là cội nguồn chân chính của nhân loại, mới là chìa khóa để con người tìm về bản thân.
Giàu nghèo sang hèn, chủ đề cuộc sống của con người, ai ai cũng đều chìm đắm trong đó, nhưng nó lại không thể chống lại được sự tàn phá của thời gian. Vẻ đẹp của người phụ nữ, trí huệ của người đàn ông, sự trong sáng ngây thơ của những đứa trẻ, sự dũng mãnh can đảm của kẻ tráng niên… cho đến bản thân của sinh mệnh con người, đều sẽ bị dòng sông dài của thời gian tàn phá không còn lại chút dấu vết gì. Duy chỉ có tín ngưỡng đã trở thành đối thủ của thời gian, mãi mãi tồn tại ở thế gian con người; đã trở thành cột trụ tinh thần vĩnh hằng của nhân loại.
Trên thế giới này, không kể là bạn từ đâu đến, mọi người đối với tín ngưỡng đều ôm giữ một loại sùng kính xuất phát từ nội tâm. Cho dù một số người đã bị thuyết vô thần và thuyết tiến hóa gây nhầm lẫn, dù họ thừa nhận bản thân không có tín ngưỡng, cảm thấy không biết phải làm sao, nhưng đối với tôn giáo truyền thống chân chính cũng vẫn ôm giữ một tâm thái kính trọng như vậy.
Tín ngưỡng, kính ngưỡng đối với Thần Phật, sẽ vĩnh viễn tồn tại ở nơi nhân loại, hơn nữa còn siêu việt khỏi thời không Trái Đất, nơi con người sinh sống. Tín ngưỡng, tất nhiên là đến từ cảnh giới cao hơn con người, đương nhiên là con đường mà con người cả đời tìm kiếm theo đuổi. Bởi vậy, nó có thể dẫn dắt con người trở về nơi nguyên lai của sinh mệnh, trở về ngôi nhà thật sự, cũng đồng nghĩa là phản bổn quy chân!
tu luyện, tín ngưỡng, thần Phật, phản bổn quy chân, cột trụ tinh thần, Bài chọn lọc,
Tín ngưỡng có thể dẫn dắt con người trở về với bản nguyên của sinh mệnh. (Ảnh: Internet)
Vậy người xưa đối với Thần Phật, đối với việc tìm kiếm theo đuổi con đường cầu đạo như thế nào?
Vào thời Ấn Độ cổ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi đó vẫn còn là Thái tử Tất Đạt Đa, vì để cầu Đạo đã từ bỏ vương bị, bỏ lại người vợ xinh đẹp tuyệt trần, một lòng tu luyện, trải qua muôn vàn khó khăn, cuối cùng đã đạt được quả vị của Phật. Về sau, Ngài đã truyền Pháp 49 năm, cứu độ vô số chúng sinh, đời đời nhận được sự kính ngưỡng và bái lạy của người đời.
Các bậc đế vương của các triều đại lịch sử đều rất thành kính tín ngưỡng Thần Phật, mỗi lần gặp chuyện lớn hoặc ngày lễ, đều cần phải lễ tế trời đất và tổ tiên. Ở nhân gian, những câu chuyện tu luyện của hai trường phái Phật gia và Đạo gia càng là nhiều không kể xiết, những người cuối cùng tu thành đắc Đạo cũng rất nhiều. Điều này cũng đều được ghi chép trong một số sách cổ, hoặc được lưu truyền ở dân gian.
Thật ra, Trung Quốc trước thời cận đại, toàn bộ xã hội đối với người tu luyện đều vô cùng tôn kính. Ví như trong tác phẩm kinh điển nổi tiếng “Thủy Hử”, Lỗ Đề Hạt giết người, vì để tránh hình phạt, đã xuất gia làm hòa thượng, quan phủ cũng không truy cứu nữa. Bởi vì con người đã “xuất gia” rồi, quan phủ cũng không thể quản nữa, quan phủ chỉ có thể quản những sự tình của xã hội người thường.
Trong “Phong Thần Diễn Nghĩa”, khi đại công cáo thành, vào lúc Võ Vương phân đất phong hầu, nhóm người tu Đạo của Lý Tĩnh tuy đã từng lập được những công lao hiển hách, nhưng lại không muốn vinh hoa, họ nói với Võ Vương rằng: “Chúng tôi là người trên núi, vâng lệnh sư phụ xuống giúp bệ hạ mà thôi. Nay đã thái bình thịnh trị, chúng tôi xin về núi tu hành, còn việc phú quý chúng tôi không muốn. Chúng tôi tuy đội ơn bệ hạ, nhưng không dám cãi sư phụ. Vả lại tâm tu hành còn nặng, không có ý hưởng tước quyền, xin bệ hạ cho chúng tôi toại nguyện”.  
Võ Vương hết cách, đành phải dẫn theo văn võ bá quan đến ngoại thành phía Nam mở tiệc tiễn đưa, cùng xem lại tình tiết này:
Nhóm người Lý Tĩnh bước lên trên tạ ơn, nói: “Chúng thần nào có tài đức gì, dám phiền bệ bạ ngự giá thân lâm ban thưởng, khiến chúng thần cảm kích khôn cùng!”.
Võ Vương dùng tay đỡ lấy, nói: “Các vị nay về núi tức là bậc tiên thần, không còn ràng buộc đạo vua tôi nữa. Vậy chớ khiêm nhường…”.
Võ Vương lấy tôn nghiêm của bậc thiên tử, đối đãi ngang hàng với nhóm người tu Đạo của Lý Tĩnh, ràng buộc quân thần trước đây cũng đã bỏ qua. Tình tiết này đã phản ánh chân thật một sự thật trong xã hội truyền thống Trung Quốc: Người tu luyện không chịu sự quản chế của xã hội người thường (đương nhiên đây không phải nói là người tu luyện thì có thể tùy ý phá hoại đạo đức và quản lý bình thường của trong xã hội), từ thiên tử cho đến người dân đều vô cùng kính ngưỡng đối với người tu luyện.
Ở các nước phương Tây, tín ngưỡng đối với Thần của mọi người cũng là như vậy. Đức Chúa Jesus vì chúng sinh mà chịu biết bao khổ nạn, thần tích của Ngài đã cảm động vô số người. Các tín đồ Cơ Đốc giáo dù bị bức hại hơn 300 năm đều chưa từng từ bỏ tín ngưỡng, cuối cùng đã giành được quyền lợi của họ, cho hôm nay, những tín đồ theo đạo Cơ Đốc đã là hơn 2 tỷ người.
Nhìn từ toàn bộ chỉnh thể xã hội nhân loại, những người tín ngưỡng Thần Phật vẫn chiếm tuyệt đại đa số. Lịch sử xưa nay trên thế giới, phàm là những kẻ tiến hành bức hại tín đồ, phá hủy đền miếu, phỉ báng lăng nhục Thần Phật, thì đều gặp phải ác báo ở các mức độ khác nhau. Thương Trụ Vương viết thơ dâm loạn khinh nhờn Nữ Oa nương nương, bạo chúa Nero bức hại tín đồ Cơ Đốc giáo… chính là những ví dụ điển hình. Những bài học của lịch sử không thể nói là không sâu sắc, không thể nói là không đau xót!
Trong xã hội ngày nay, có một bộ phận những người vẫn kiên định với đức tin vào Thần Phật giống như vậy. Trong vòng xoáy ham muốn hưởng thụ vật chất của người đời, họ xem nhẹ địa vị, bạc tiền, công danh; tuy bản thân bị đối xử ngược đãi bất công, nhưng lại lấy ý chí kim cương không chút sợ hãi, đã vẽ nên một quang cảnh thù thắng đặc biệt ở thế gian con người.
Có lẽ, con người chỉ khi có tín ngưỡng cao quý, mới có cột trụ tinh thần vĩnh hằng, mới có được sự ước thúc của tâm pháp, mới hiểu rõ được ý nghĩa thật sự của đời người, cuối cùng phản bổn quy chân trở về ngôi nhà thật sự của mình, tận hưởng những điều tốt đẹp và vĩnh hằng của sinh mệnh!

Tiểu Thiện, dịch từ qi-gong.me