Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

Bộ tộc hiếu chiến nhất thế giới, hàng trăm năm sống tách biệt, thấy người lạ là giương cung bắn; Phải chăng người cổ đại đã góp phần tạo nên sa mạc Sahara?; Đến với 2 vùng đất khó tiếp cận nhất trên Trái đất này

Được mệnh danh là “bộ tộc Đồ Đá”, Sentinel là một dân tộc bản địa cô lập sinh sống ở đảo Bắc Sentinel, thuộc quần đảo Andaman trong vịnh Bengal, Ấn Độ.
Cộng đồng người Sentinel luôn luôn chống lại mọi nỗ lực liên lạc từ thế giới bên ngoài. Họ duy trì đời sống nguyên thủy, từ chối xã hội văn minh hiện đại và không muốn tiếp xúc với những người không phải cư dân trên hòn đảo của họ.
Từ trên cao nhìn xuống, hòn đảo phía Bắc Sentinel thật vô cùng thơ mộng với những bãi biển xanh thẳm và khu rừng tươi mát, bí ẩn, thu hút sự tò mò của nhiều người.
Tuy nhiên, đó không phải là nơi dành cho khách du lịch hay những ai muốn khám phá. Nơi này chỉ dành riêng cho những cư dân trên đảo, những người bí ẩn nhất thế giới. Họ mãi mãi sẽ không cho những người khác cơ hội được tìm hiểu về mảnh đất này.
Người dân trên hòn đảo Bắc Sentinel được gọi chung là Sentinelese. Họ duy trì thói quen săn bắn, hái lượm và sống bầy đàn. Họ đi săn thú rừng, đánh cá, hái lượm các loại quả trong rừng và không biết làm nông nghiệp. Họ sống trong những túp lều lá, chủ yếu chỉ để che nắng mưa, và ngủ ngay trên sàn trải bằng lá cây, lá cọ. Mỗi túp lều là nơi ở của một gia đình, từ 3 đến 4 thành viên. Ngôn ngữ của họ rất khác những cư dân còn lại trên quần đảo Andaman, và họ hầu như không liên lạc với những cư dân của bộ tộc khác suốt hàng ngàn năm nay.
Không kỳ bí như những bộ lạc ẩn giấu dưới những tán rừng Amazon rộng lớn, bạt ngàn và rất khó tìm ra tung tích, sự tồn tại của Sentinelese đã được biết đến qua hàng thế kỷ, nhưng chưa ai có cơ hội được tiếp xúc với họ. Họ từ chối tất cả mọi đề nghị từ thế giới bên ngoài. Những người cố chấp, không tôn trọng những thông điệp mà họ phát đi sẽ nhận được những cơn mưa mũi tên phóng ra vun vút và thậm chí phải bỏ mạng.
Năm 2006, người Sentinelese đã từng giết chết hai ngư dân đánh cá, tấn công máy bay trực thăng khảo sát bằng cách bắn mũi tên lửa và ném đá. Họ kịch liệt từ chối, phản đối một nhóm các thành viên đến từ nhiều quốc gia, những nhà thám hiểm, những đội an ninh muốn tìm hiểu họ, khám phá vùng đất của họ. Chính bởi thế, hiếm có bức ảnh nào chụp cận cảnh họ, và những bức ảnh và video ghi lại đều có chất lượng rất thấp, phần lớn quay từ trên máy bay với khoảng cách rất xa hoặc từ bên bờ kia biển.
Mặc dù nằm trong quần đảo Andaman nhưng hòn đảo Bắc Sentinel lại vô cùng hẻo lánh. Và cũng khác với cư dân ở phần đảo khác của Andaman, có sự giao lưu với xã hội hiện đại, những người Setinelese coi những người đến từ nơi khác là đối tượng thù địch. Chính phủ Ấn Độ đã từng khởi động một chương trình với mục đích thiết lập mối liên hệ với những người dân ở đây, nhưng kết quả thu được không được như mong muốn và vẫn chỉ là thiện ý một chiều từ phía chính phủ.
Theo ước tính, cư dân trên đảo này vào khoảng vài chục đến vài trăm người. Người ta cũng không biết chính xác cơn sóng thần hồi năm 2004 ở chuỗi quần đảo Andaman ảnh hưởng đến họ như thế nào. Tuy nhiên, trong số hàng chục triệu người bị ảnh hưởng bởi thảm họa, chỉ có người Sentinelese là không cần ai giúp đỡ. Họ đã tìm đến những vùng đất cao trước khi cơn bão ập đến và tàn phá mọi thứ.
Những người Sentinelese có lý do của họ, và mặc dù họ không hề biết tới lối sống và suy nghĩ của con người hiện đại, nhưng họ biết những phong tục tập quán, môi trường sống, lối suy nghĩ của họ không cần sự hiện đại thay đổi.
Họ muốn sống cùng trời, cùng đất, cùng tự nhiên, sống hồn nhiên như cỏ cây của núi rừng và suy nghĩ giản đơn, không phiền toái, không tính toán. Sự tồn tại của Sentinelese và thái độ cương quyết của họ với thế giới bên ngoài như những thông điệp muốn nhắn gửi tới con người hiện đại chúng ta: Hãy tôn trọng quá khứ, tôn trọng những thứ nguyên thủy còn sót lại.
Ảnh dẫn qua: Genk
Thủy Linh (tổng hợp)


Phải chăng người cổ đại đã góp phần tạo nên sa mạc Sahara?



Các nhà nghiên cứu từ Đại học Quốc gia Seoul cho rằng sa mạc Sahara từng là đồng cỏ xanh màu mỡ, và chính con người đã góp phần sa mạc hóa nơi này.
Khi chúng ta quan sát những triền cát trải dài ngút tầm mắt của sa mạc Sahara ngày nay, có vẻ như nó đã như vậy từ bao đời rồi. Nhưng trong một giai đoạn ngắn vào khoảng 10.000 năm trước, nơi đây từng là một đồng cỏ xanh tươi, màu mỡ bao phủ trong những con hồ. Một nghiên cứu mới đây nhận định con người có thể là nhân tố then chốt trong quá trình chuyển dịch to lớn từ thảm cỏ xanh tươi màu mỡ sang sa mạc nóng bức khô cằn.

(Ảnh: Internet)
Đây là nghiên cứu mới của các nhà khảo cổ và sinh thái học từ Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc). Trong đó, họ phân tích vai trò của hoạt động con người trong quá trình sa mạc hóa Sahara. Quá trình này bắt đầu khi các cộng đồng dân cư từ thời kỳ đồ đá mới ở Châu Phi thử nghiệm nền nông nghiệp chăn nuôi gần sông Nin vào khoảng 8.000 năm trước, một kỹ thuật đã dần len lỏi sang phương Tây. Khi cộng đồng dân cư trải dài và mở rộng, ngày càng có nhiều gia súc được chăn thả, nên đồng cỏ xanh màu mỡ dần dần “vơi đi” theo thời gian.
Quá trình “gặt cây” đã khiến thảm cỏ xanh trở thành bụi rậm. Và khi không được che chắn trước ánh sáng Mặt Trời, lượng ánh sáng phản chiếu khỏi bề mặt Trái Đất gia tăng, từ đó ảnh hưởng đến tình trạng bầu khí quyển. Điều này châm ngòi cho sự sụt giảm lượng mưa gió mùa, thúc đẩy mạnh hơn nữa quá trình sa mạc hóa và thu nhỏ diện tích thảm thực vật. Vòng tuần hoàn ác tính này rốt cục đã lan rộng, biến một khu vực gần rộng bằng nước Mỹ thành một sa mạc khô cằn như ngày nay.

Quá trình “gặt cây” đã khiến thảm cỏ xanh trở thành bụi rậm. (Ảnh: Internet)
Phát hiện mới đã thách thức các nghiên cứu trước đây, vốn cho rằng sự chuyển dịch này được gây nên do sự thay đổi quỹ đạo Trái Đất hay sự thay đổi tự nhiên của thảm thực vật. Tuy nhiên, hoạt động của con người thời kỳ đồ đá mới được cho là đã thúc đẩy sự thay đổi sinh thái tại nhiều khu vực ở Châu Âu, Đông Á, và Châu Mỹ. Lấy ví dụ, một số phỏng đoán đảo Madagascar đã được định hình bởi con người thông qua việc đốt rừng quy mô lớn vào khoảng 1.000 năm trước. Không nói quá khi cho rằng điều tương tự có thể đã xảy đến với Sahara.
Tuy nhiên, cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu để xác thực giả thuyết này. Các nhà nghiên cứu hy vọng trở lại Sahara để kiểm chứng ý tưởng này bằng cách quan sát xem cái gì nằm bên dưới lớp cát.
sa mạc sahara
(Ảnh: Internet)
Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Frontiers in Earth Science.“Vào thời điểm này ở Sahara có hồ ở khắp mọi nơi, và chúng chính là hồ sơ ghi nhận sự thay đổi của thảm thực vật. Chúng tôi cần đào sâu xuống những lòng hồ nguyên gốc này để thu thập hồ sơ thảm thực vật, tiến hành quan sát khảo cổ để xem người xưa từng làm gì ở đó. Rất khó để lập mô hình các tác động của thảm thực vật lên hệ thống khí hậu. Trong vai trò nhà khảo cổ và nhà sinh thái, công việc của chúng tôi là đi ra ngoài kia và thu thập số liệu, để tạo nên những mô hình chi tiết hơn”.
Quý Khải


Đây chính là 2 vùng đất khó tiếp cận nhất trên Trái đất này

Phương Mai | 
Đây chính là 2 vùng đất khó tiếp cận nhất trên Trái đất này
Kerguelen là một trong những vùng đất cô độc và khó tiếp cận nhất trên Trái Đất.

Loài người chúng ta vẫn chưa thể khám phá và chinh phục hết hành tinh của mình và đây là 2 trong số đó.



Ai trong chúng ta cũng tin rằng, chỉ cần vi vu trên những chuyến bay, con người có thể ghé chân đến mọi vùng đất trên thế giới. Thậm chí, con người còn mang tham vọng về việc di cư lên sao Hỏa hay tìm ra Trái đất thứ 2 tồn tại sự sống.
Nhưng mới đây, dựa trên dấu tích của các dạng sinh vật sống kỳ lạ và sự phân bố lại của lục địa Zealandia, chúng ta đã thực sự bị choáng ngợp bởi một sự thật.
Đó là vẫn còn những địa danh mà chưa từng có một ai đặt chân đến bởi chúng cực hẻo lánh, và khó đến nhất trên hành tinh.
Đầu tiên phải kể đến quần đảo Pitcairn - địa hạt nước Anh nằm giữa Thái Bình Dương. Nơi đây là vùng đất sinh sống của vỏn vẹn 49 cư dân.
Đây chính là 2 vùng đất khó tiếp cận nhất trên Trái đất này - Ảnh 1.
Hòn đảo Pitcairn xinh đẹp
Pitcairn không chỉ là một hòn đảo với dân số thưa thớt đến kinh ngạc, mà nó còn nằm cách xa hòn đảo có tồn tại sự sống gần nhất đến hàng trăm cây số.
Trên thiên đường nhiệt đới xinh đẹp này, chúng ta cũng không thể tìm thấy một sân bay nào. Do vậy, cách di chuyển duy nhất cho những ai muốn ghé thăm nơi đây chính là di chuyển bằng thuyền. Trớ trêu rằng, những chiếc thuyền cũng hiếm khi ghé tới hòn đảo này.
Bạn có biết rằng "điên khùng" hơn cả, trước khi bạn lên tàu, bạn sẽ phải trải qua khoảng 24 giờ bay đến một hòn đảo nằm ở Polynesia, nước Pháp có tên là Mangereva. Và lịch trình bay đến đây chỉ có 1 chuyến/tuần mà thôi.
Sau đó, bạn cần phải vượt 531km bằng thuyền và lênh đênh hơn 32 giờ đồng hồ để đến quần đảo Pitcairn. Cần phải khuyến cáo với các bạn rằng thuyền chỉ di chuyển đến đảo một lần trong vòng ba tháng mà thôi?
Đây chính là 2 vùng đất khó tiếp cận nhất trên Trái đất này - Ảnh 2.
Tuy nhiên, nếu xét về độ hẻo lánh thì Pitcairn cũng còn thua xa quần đảo Kerguelen ở Ấn Độ Dương.
Bởi nơi đây cách các trung tâm dân cư ở Madagasca tới 3.300 km. Vì vậy, người ta đặt tên cho Kerguelen là quần đảo "cô độc".
Tin được không, quần đảo này là nơi cư trú của vài nhà nghiên cứu khoa học mà thôi. Giống như Pitcairn, Kerguelen không có sân bay vì thế bạn buộc phải đi thuyền.
Và điều mà khiến bạn sẽ phải mắt chữ "A" mồm chữ "O" đó chính là thuyền chỉ ghé thăm nơi đây 4 lần một năm thôi. Bạn sẽ phải lênh đênh trên biển 6 ngày để đến được vùng đất này.
Đây chính là 2 vùng đất khó tiếp cận nhất trên Trái đất này - Ảnh 3.
Kerguelen trên bản đồ.
Nhưng nếu đến được đây, bạn sẽ có cơ hội chinh phục thử thách "có 1-0-2" không bao giờ quên.
Bao quanh những quần đảo này là dãy nũi Sidley dài 1,8km - đây chính là ngọn núi lửa không hoạt động cao nhất ở Nam Cực và cũng nằm ở phần xa nhất của Nam Cực.
Đây chính là 2 vùng đất khó tiếp cận nhất trên Trái đất này - Ảnh 4.
Ngọn núi Sidley kỳ vĩ.
Trong vài thập kỷ qua, chỉ có ba người nói rằng họ đã đặt chân được lên đỉnh núi. Vì vậy, nếu bạn muốn khoe khoang với cả thế giới về những chiến tích của mình, núi Sidley có thể giúp bạn đạt được mong muốn đó.
NguồnSciencealert
theo Trí Thức Trẻ
Xem thêm:

Xem thêm:

Về nữ văn sỹ của miền Nam Nguyễn Thị Thụy Vũ

An Nam

  • 22 tháng 3 2017
Writer Nguyen Thi Thuy VuBản quyền hình ảnhAN NAM
Image captionNhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ
Cụ bà tuổi 80, tóc bạc trắng, tai đã lãng, nhưng lối nói chuyện vẫn sắc sảo với chất giọng rặt Nam Bộ, cứ ngơ ngác hỏi đi hỏi lại cho rõ tên mấy độc giả mê văn thời cũ trước khi đề vài chữ vào bộ sách làm kỷ niệm.
Trước 1975, cụ bà đó, Nguyễn Thị Thụy Vũ, tên thật: Nguyễn Thị Băng Lĩnh, là một trong năm nhà văn nữ nổi tiếng nhất miền Nam (bốn người khác: Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Trùng Dương).

Gái bar và những người mẹ cao quý

Tháng 3/2017, công ty Phương Nam Book liên kết với nhà xuất bản Hội Nhà văn cho in lại 10 cuốn sách của nữ văn sĩ miền Nam một thời, gồm ba tập truyện ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông và bảy tập truyện dài: Khung rêu (giải thưởng Văn học miền Nam 1971), Thú hoang, Nhang tàn thắp khuya, Ngọn pháo bông, Như thiên đường lạnh, Cho trận gió kinh thiên, Chiều xuống êm đềm.
Cũng lần đầu tiên sau 42 năm, toàn bộ tác phẩm của nhà văn miền Nam này được in lại đầy đủ. Khác với các tác giả miền Nam trước đây, mỗi lần xuất hiện trở lại, báo chí thường dè dặt, nhưng với Nguyễn Thị Thụy Vũ, báo chí chính thống trong nước truyền thông nhiệt tình, có cả những bài báo muốn lái tác phẩm của bà về hướng "đấu tranh giai cấp".
Buổi ra mắt bộ 10 tác phẩm này tại đường sách Nguyễn Văn Bình (chiều 20/3) là một sự kiện đặc biệt.
Cụ bà Nguyễn Thị Thụy Vũ giờ đây cũng không ưa nói nhiều về chuyện viết lách. Bởi đơn giản, nhìn lại cuộc đời văn chương của mình cùng những bể dâu, bà rốt cuộc cũng chỉ coi chuyện viết là "cày chữ nuôi con".
Nguyen Thi Thuy Vu's bookBản quyền hình ảnhAN NAM
Sinh năm 1937 ở Vĩnh Long, trong một gia đình khá giả. Cha bà là nhà văn Mặc Khải, cô là thi sĩ Phương Đài đều hoạt động kháng chiến.
Khoảng 1960-1965, bà dạy tiểu học tại Vĩnh Long, rồi không chấp nhận được môi trường sư phạm bó hẹp, khăn gói lên Sài Gòn học Anh ngữ ở Hội Việt Mỹ. Tại đây, ngay từ năm đầu tiên học tiếng Anh, bà được một bạn học (về sau mới biết, anh ta thuộc giới 'ma cô') giới thiệu đi dạy tiếng Anh cho các cô gái làm snack bar, những phụ nữ Việt Nam cặp kè binh lính, sĩ quan Mỹ.
"Mấy cô gái cặp kè Mỹ để nuôi thân giữa Sài Gòn lúc đó tôi dạy thường ít học. Có khi một chữ 'Hello' dạy một tuần không thuộc. Tui mới nhận ra, họ đi học vì cần người tâm sự là chính.
"Có cô kia đã có năm đứa con với người chồng Việt, chiến tranh chồng chết nên phải đi làm nghề này kiếm sống. Cổ gửi con về bên ngoại, hằng tháng gửi tiền về nuôi. Tụi nhỏ ăn học và lớn lên, có đứa học tới đại học, nhưng không hề biết mẹ nó làm nghề đó.
"Theo con mắt của tui, đó là một người mẹ cao quý. Cũng có cô đến mùa đông mặc một cái áo len cũ rách nhàu nhĩ. Tui hỏi thăm sao có tiền không chịu chưng diện, cô ấy nói chiếc áo len rách này là kỷ vật của mối tình đầu ở quê nhà", nhà văn Thụy Vũ kể.
Thực tế trần trụi, khốc liệt và cũng thấm đẫm buồn đau về đời sống những cô gái làm ở các snack bar, dan díu với lính Mỹ đã đi vào những trang viết của Nguyễn Thị Thụy Vũ, gây chấn động dư luận vào khoảng cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. Với các tập: Mèo đêm, Lao vào lửa, Ngọn pháo bông,… Nguyễn Thị Thụy Vũ trở thành một hiện tượng văn học gây ngạc nhiên trên văn đàn miền Nam.
'Như gái có chồng còn đi ăn sương'
Về sau, Võ Phiến viết trong Văn học niềm Nam tổng quan nói về sách của Thụy Vũ là dạng sách mà "các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết".
"Mình tưởng tượng nhưng cũng từ trên thực tế. Truyện của tui, như Khung rêu, có thiệt trên 70%. Nên viết xong tui với ông già lục đục với nhau vài năm, ổng nghĩ ổng là nhân vật địa chủ trong truyện.
"Truyện viết về gái điếm, gái bar tui viết xong có anh lính miền Nam tìm đến nhà xô cửa đi vào ôm tui vì tưởng tui là gái bar thì mới viết được như vậy. Cũng có anh cầm lựu đạn qua nói tui viết về ảnh và kêu tui phải lên tiếng xin lỗi," bà nhớ lại.
Mộ tài, chung sống với nhà thơ Tô Thùy Yên (một sĩ quan tâm lý chiến của chính quyền Sài Gòn, một trong những nhà thơ quan trọng bậc nhất của văn học miền Nam trước 1975) và có đến bốn mặt con, Nguyễn Thị Thụy Vũ chấp nhận một mình viết văn nuôi con.
Writer Nguyen Thi Thuy VuBản quyền hình ảnhAN NAM
Image captionNhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ trong buổi ra mắt sách hôm 20/03
Bà kể: "Hằng ngày tui phải chạy đến các tòa soạn báo viết truyện feuilleton (truyện dài kỳ). Đến báo này viết ba trang rồi lại tất tả chạy qua báo khác, cứ như vậy. Trăm hay không bằng tay quen. Đẻ con thì tự cho mình được nghỉ ba ngày để vào bệnh viện. Đẻ xong lại giao con chạy đi viết.
"Có chủ báo trả mỗi feuilleton ra là 20.000 đồng (tiền Việt Nam Cộng hòa), nhưng có ông chủ thì kì kèo bớt một thêm hai. Đó là cái nhục. Mình đi làm thuê cho người ta mà người ta coi đồng tiền to quá."
Bà coi Võ Phiến là người thầy, đàn anh nâng đỡ trong nghề văn. Những truyện đầu tiên bà gửi đến tạp chí Bách Khoa và được ông khuyến khích viết tiếp.
"Việc viết feuilleton như là gái có chồng rồi vẫn đi ăn sương. Tôi coi tờ Bách Khoa chỗ ông Phiến khác nào ông chồng già hiền lành nghiêm túc lặng lẽ luôn chờ tui về. Viết cho Bách Khoa của ông Phiến, tui có cảm giác mình được làm văn chương," bà Thụy Vũ kể lại.
Hỏi, các nhà văn nữ thời đó có chơi với nhau không? Nguyễn Thị Thụy Vũ: "Không, tụi tui mỗi người một thế giới; ít gặp nhau đàm đạo văn chương như mấy ông. Tụi tui chỉ thăm nhau lúc đẻ.
"Ông Thanh Tâm Tuyền nói rằng, phụ nữ không nên léo hánh chấn văn đàn, cần phải đuổi mấy bà vô bếp nấu ăn. Tui không tán thành. Nhưng mà thiệt tình tui lúc nào cũng thấy thua kém đàn ông về mặt sâu sắc. Lúc nào tui cũng nhượng bộ đàn ông chút xíu."
"Vậy bà có quan tâm đến nữ quyền không, ở thời điểm đó?" một người trẻ hỏi. Đáp: "Tui ít biết về cái đó. Nhưng nếu có nữ quyền trong truyện tui thì đó là viết một cách tự nhiên."
'Giải phóng'
Nguyen Thi Thuy Vu's bookBản quyền hình ảnhAN NAM
Cũng như nhiều người, bà quen dùng từ "giải phóng" để nói đến mốc sự kiện chính trị 30/4/1975. "Tui có chừng chục truyện viết xong xuôi rồi chưa kịp công bố thì "giải phóng". Mỗi đêm, thằng Công an Khu vực ở làng báo chí Thủ Đức đến gõ cửa nhà tui lục soát ba lần. Tui thấy phiền phức quá nên đem mớ bản thảo đi đốt. Sau lại tiếc, mình cũng ngu, phải chi mình gửi về quê cho bà già là xong."
Bà kể tiếp về giai đoạn bị tra xét lý lịch, quan điểm: "Các ông Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức thương tình, dặn tui ra trước cán bộ phải nói vầy, nói vầy để được cảm thông, nhưng tui vẫn nói thẳng thắn mọi chuyện theo cách của tui. Về sau ông già tui nói, 'tao đã mở đường cho nó nhưng nó cứ chui vào chỗ khó' nhưng ổng tự hào về tui vì tui có lý tưởng riêng.
"Cuộc sống sau 'giải phóng' vô cùng khó khăn. Tui một mình nuôi bầy con nheo nhóc, có đứa bị thiểu năng nằm một chỗ. Tui phải để nó cho mấy đứa lớn cho ăn, chăm sóc còn mình thì đi làm thuê bán vé xe bus cho một người bạn.
"Xe chạy tuyến Thủ Đức - Sài Gòn, từ sáng đến tối mịch mới về nhà. Về đến nhà thấy con cái đứa thì nằm ngủ trên vũng nước đái, đứa lêu lổng đi chơi không cho em ăn… nhìn cái cảnh đó tui muốn chết đi cho rồi. Khó khăn quá, năm 1980 tui bồng bế tụi nhỏ về Bình Phước nương nhờ má cho đến bây giờ," bà kể.
Làm nhiều nghề kiếm sống nuôi con, từ chăn dê, buôn bán, trồng tiêu…, cây bút nữ dấn thân nhất của văn đàn miền Nam trước 1975 đã không còn viết gì nữa kể từ sau "giải phóng". Bà kể: "Ổng (tức, Tô Thùy Yên) thì theo gia đình vợ con ổng đi sang Mỹ, có đời sống riêng. Tui làm đủ nghề lo cho con.
"Ba đứa con tui cũng thành nhân, yên bề gia thất. Có một thằng làm thơ, người ta nói nó có chịu ảnh hưởng của cha nó. Nhưng mấy con tui, đứa nào cũng nghèo, chẳng giúp gì được mình. Tui sống nhờ đứa con bị tàn tật.
"Xưa tui bỏ nó ở nhà đi làm báo, nó bị té, ảnh hưởng não nên nằm một chỗ đến giờ, vậy mà giờ nó nuôi tui bằng tiền từ thiện bạn bè, các nhà hảo tâm thương tình giúp đỡ…"
Người mô tả về xã hội bên lề Sài Gòn khốc liệt một thuở lại cũng chính là người chịu đựng những hệ lụy mà chiến tranh để lại.
Trở lại văn đàn trong nước sau gần nửa thế kỷ, trong bối cảnh sách vở văn chương đang ở vào một giai đoạn hỗn loạn và phân hóa mạnh mẽ, thì tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ minh chứng rằng, những gì là chân giá trị sẽ không bị phủ lấp dưới bụi thời gian và những định kiến.
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả sống ở Sài Gòn.