TPO - Toàn bộ dải bờ biển phía đông của Trung Quốc dày đặc các nguồn phát tán thủy ngân. Việt Nam chắc chắn không tránh khỏi ô nhiễm vì rất gần và thuận tiện cho việc phát thải.
Tại Hội thảo Ô nhiễm không khí ở Việt Nam- thực trạng và giải pháp do Văn phòng Quốc hội tổ chức sáng nay, ông Nguyễn Văn Thùy, Giám đốc Trung tâm quan trắc môi trường, Tổng cục Môi trường chia sẻ, bên cạnh các nguồn ô nhiễm trong nước, Việt Nam đang đối mặt với ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Ô nhiễm xuyên biên giới
Theo ông Thùy, Việt Nam có biên giới với một số quốc gia có hoạt động sản xuất khá mạnh, chắc chắc bị ảnh hưởng bởi vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới.
Vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới khá nhiều, không chỉ ảnh hưởng của một hai nước lân cận mà chúng ta còn bị ảnh hưởng từ những vùng khá xa.
Đặc biệt, vào mùa đông ở miền bắc, chúng ta chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, chắc chắn các ô nhiễm từ Trung Quốc có vận chuyển vào Việt Nam.
Một số vấn đề như lắng đọng axit, sương mù quang hóa hay ô nhiễm xuyên biên giới tuy chưa có biểu hiện rõ ràng nhưng đã xuất hiện những dấu hiệu ảnh hưởng nhất định. Riêng việc quan trắc lắng đọng axit đã phát hiện chất ô nhiễm từ các quốc gia khác.
Ông Thùy cho biết, hiện nay chưa có nhiều số liệu về vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới. Tuy nhiên, Việt Nam đã bắt đầu tham gia mạng quan trắc lắng đọng axit, thủy ngân, các chất ô nhiễm xuyên biên giới, một thời gian nữa chúng ta mới có số liệu.
Giải quyết ra sao?
Về ô nhiễm thủy ngân xuyên biên giới, theo ông Thùy, đây là vấn đề được các quốc gia trên thế giới quan tâm nhiều. Bên cạnh chúng ta, trên bản đồ đánh giá nguồn phát thải thủy ngân trong không khí thế giới, các nhà khoa học đánh dấu toàn bộ dải bờ biển phía đông của Trung Quốc dày đặc các nguồn phát tán thủy ngân.
Thủy ngân từ Trung Quốc phát tán vào các quốc gia xung quanh như Nhật Bản, Hàn Quốc, thậm chí sang cảMỹ. Việt Nam chưa có số liệu đo đạc trực tiếp nhưng chắc chắn không tránh khỏi vì rất gần và thuận tiện cho việc phát thải.
Ông Thùy cho biết thêm, thời gian tới, Công ước Mianmanta về thủy ngân đã được 38 quốc gia phê duyệt, nếu đủ 50 quốc gia phê duyệt sẽ có hiệu lực. Lúc đó sẽ xây dựng mạng lưới ô nhiễm thủy ngân toàn cầu để theo dõi diễn biến và sự lan truyền thủy ngân trong khí quyền.
Theo ông Trương Mạnh Tiến, Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường, ô nhiễm thủy ngân đã lan sang Nhật Bản, Hàn Quốc, thậm chí cả Mỹ thì Việt Nam nằm ngay gần, khó tránh khỏi.
Ông Tiến cho rằng, Việt Nam nên dựa vào các công ước quốc tế để xây dựng các cam kết giữa hai quốc gia về các vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới.
Giáo sư Ngô Bảo Châu (trái) dự khai giảng ở Trường tiểu học Lũng Luông (Võ Nhai, Thái Nguyên). ẢNH: QUÝ HIÊN
Trả lời phỏng vấn Báo Thanh Niên, Giáo sư Ngô Bảo Châu chia sẻ một số quan sát cá nhân về những khác biệt của VN so với thế giới trong việc bổ nhiệm giáo sư.
Theo ông, khi xét ứng viên giáo sư, hội đồng cần tham vấn các chuyên gia, từ đó đưa ra những đánh giá định tính và trong quá trình đánh giá cần có sự tranh biện khoa học.
Giáo sư (GS) Ngô Bảo Châu nhận xét: “Do yếu tố lịch sử nên khái niệm GS của mình hiện rất khác với thế giới. Thế giới thì GS là một chức vụ trong các cơ sở đào tạo, nghiên cứu. Vì thế nó có một số lượng chỉ tiêu nhất định, khi thiếu chỉ tiêu (chẳng hạn do có một ông GS nào đó về hưu) thì họ sẽ tuyển người mới. Với các khoa, việc tuyển GS tối quan trọng, vì họ là những nhà khoa học đầu ngành, là linh hồn của khoa trong tương lai. Chất lượng của GS ảnh hưởng tới sự sống còn của khoa. Một khoa tuyển dụng 3 ông GS mà toàn ông hỏng thì khoa đó “tiêu”, bởi GS mà kém thì những người do ông ấy tuyển vào cũng sẽ kém.
Trong việc đánh giá một nhà khoa học thì những đánh giá định tính quan trọng hơn các tiêu chuẩn đã được số hóa
Mỗi lần tuyển, mỗi khoa chỉ xét 1 - 2 trường hợp nên họ có thời gian xem hồ sơ của ứng viên rất kỹ. Tất nhiên họ không bao giờ quan tâm những chỉ tiêu đã được lượng hóa như cách mà VN đang làm, kiểu như có đủ số bài báo quốc tế, hay số sách đã viết, số tiến sĩ đã đào tạo... vì trong bối cảnh giáo dục ĐH thế giới ngày nay, những con số đó không mấy ý nghĩa. Thường thì họ xem xét sự ảnh hưởng của người mà họ muốn tuyển dụng tới cái ngành nghiên cứu mà khoa đang muốn thúc đẩy nó phát triển như thế nào. Họ sẽ gửi thư hỏi ý kiến của những chuyên gia hàng đầu của ngành đó trong mạng lưới khoa học toàn cầu. Thường thì cần tới đánh giá của khoảng 10 chuyên gia. Về phía các chuyên gia, họ đánh giá rất kỹ lưỡng và xét từng trường hợp cụ thể chứ không đưa ra một bảng tiêu chuẩn rồi tích vào từng ô mà cho điểm một cách cứng nhắc như ở VN.
Trước khi đến ĐH Chicago, tôi chưa hề viết sách
Nhiều nhà khoa học cho rằng với quy định tiêu chuẩn hiện nay và kể cả trong dự thảo quy định sắp tới, việc xét sẽ khiến nhiều người kém tài được vinh danh, trong khi nhiều người thực tài không được công nhận, GS nghĩ sao?
Theo tôi thì đã đến lúc chúng ta bỏ bớt việc cân đo đong đếm các tiêu chuẩn. Cách làm này cũng có cái hay trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn như việc đếm số bài thì sẽ tăng số công trình được đăng ở tạp chí ISI/Scopus. Nhưng không phải cứ tăng là mừng, bởi làm khoa học thì quan trọng vẫn là chất lượng, trong khi không cứ được đăng bài là chất lượng tốt. Vì thế khi xét công nhận GS, PGS, theo tôi nên có thêm quy định hội đồng phải xem xét thư đánh giá của các nhà khoa học đẳng cấp quốc tế, gồm cả người trong nước và ở nước ngoài, trong từng ngành của mỗi ứng viên, như cách mà các khoa ở các trường ĐH của thế giới người ta làm mỗi khi họ cần tuyển dụng GS. Trong việc đánh giá một nhà khoa học thì những đánh giá định tính quan trọng hơn các tiêu chuẩn đã được số hóa.
Nhưng ở VN, nếu để cho hội đồng quyền to như thế thì rất dễ nảy sinh tiêu cực...
Nhưng nếu đưa ra các tiêu chuẩn cứng thì đưa ra thế nào? Theo tôi thì đó không thể là những quy định cứng như viết được bao nhiêu cuốn sách hay đào tạo được bao nhiêu nghiên cứu sinh. Khi tôi được mời về ĐH Chicago, tôi chưa viết cuốn sách nào và cũng chưa hướng dẫn thành công nghiên cứu sinh nào.
Quy định viết sách đó liệu có hợp lý không?
Làm khoa học, viết sách thì hợp lý nhưng lấy tiêu chuẩn viết sách để xét ai đó có được làm GS hay không thì chỉ có ở VN thôi.
Nói chung, với giới khoa học thì người ta muốn họ ưu tiên việc nghiên cứu khoa học, nghiên cứu những gì đang nóng bỏng nhất. Mà những người đang ưu tiên thời gian nghiên cứu vào những gì nóng bỏng nhất thì họ không có thời gian viết sách. Thường khi người ta lớn tuổi rồi, hoặc muốn “chậm” lại một chút thì ai thích mới viết sách. Còn khi đang hăm hở nghiên cứu thì thường họ muốn khám phá những cái mới, kết quả khám phá đó là các bài báo. Quy định viết sách có lẽ là một quy định tương đối cổ hủ, lạc hậu, theo quan niệm GS của thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, không phải là quan niệm của hiện nay.
Khi về ĐH Chicago, GS mới bắt đầu đào tạo nghiên cứu sinh?
Thì họ tuyển mình về là để đào tạo nghiên cứu sinh. Tôi không biết nhận xét về tiêu chuẩn phải đào tạo được nghiên cứu sinh rồi mới công nhận GS thế nào, vì ở những nơi mà tôi làm việc họ không đặt ra. Tôi được bổ nhiệm GS khi còn ở bên Pháp, nhưng kể cả GS rồi tôi vẫn chỉ lên lớp dạy bình thường, cũng có lần đào tạo nghiên cứu sinh nhưng không thành công. Lúc đó công việc được ưu tiên hàng đầu của tôi là nghiên cứu.
Phải hướng tới những chuẩn mực quốc tế
Trở lại việc xét công nhận GS, PGS của hội đồng, theo GS thì những thành viên tham gia hội đồng phải như thế nào để đảm bảo việc xét công bằng, khách quan?
Thành viên của hội đồng trước hết phải là những người chính trực, thứ hai họ phải là những giỏi nhất trong số những người mà ta có. Họ có thể không hiểu được cặn kẽ, chính xác về chất lượng các công trình mà ứng viên đã làm nhưng họ phải có khả năng đọc hiểu được những bức thư đánh giá của các chuyên gia về các công trình đó... Như tôi đã nói ở trên, quan trọng là phải có đánh giá của các chuyên gia quốc tế và trong nước.
Nhưng có những ngành không có công bố quốc tế nào thì việc tham vấn chuyên gia quốc tế liệu có hiệu quả khi mà họ chẳng biết người mình được mời nhận xét là ai?
Cách làm đó sẽ là động lực để các nhà khoa học trẻ hội nhập. Còn trong thời gian đầu, hội đồng có thể gửi công trình của các ứng viên để nhờ đánh giá. Trong các hoạt động nghiên cứu luôn luôn cần có sự đánh giá của cộng đồng. Nếu một nhà khoa học nghiên cứu một lĩnh vực nào đó nhưng lại không muốn ai đánh giá công việc của mình thì đúng là anh ta đang đi vào ngõ cụt.
Theo tôi, để phát triển ĐH thì phải hướng tới những chuẩn mực quốc tế. Có thể với một số người lớn tuổi ngoại ngữ không tốt, phương pháp nghiên cứu không được công nhận thì việc giới thiệu công trình của mình ra thế giới là rất khó. Nhưng tôi nghĩ với các bạn trẻ hơn thì đó không phải là vấn đề lớn nên việc lo lắng nếu không có đặc thù riêng thì một số ngành sẽ bị tiêu vong là không có cơ sở. Sẽ không có tiêu vong mà sẽ chỉ có sự thay máu.
Chỉ dựa vào những tiêu chí cứng nhắc thì không cần hội đồng
Nếu việc xét GS, PGS chỉ dựa vào các tiêu chuẩn cơ học thì cần gì hội đồng? Chẳng lẽ hội đồng chỉ là những người ngồi đếm rồi cộng xem tổng điểm của ứng viên có đủ hay không? Điều đó là vô lý. Để đánh giá một con người thì phải cần những con người cụ thể có khả năng đánh giá định tính công việc của người khác thông qua những phân tích của các chuyên gia... Và quan trọng là trong quá trình đánh giá của hội đồng thì cần phải có sự tranh biện về mặt khoa học, có như thế mới tránh cảm tính.
Một vấn đề khác mà theo tôi cần phải xem xét, đó là việc bỏ phiếu. Đã họp với nhau trong hội đồng là phải kín rồi, sao còn phải bỏ phiếu kín? Trong hội đồng, khi cần bỏ phiếu thì phải giơ tay công khai. Trước khi biểu quyết là đã có tranh biện, trong tranh biện ý kiến anh thế nào thì khi bỏ phiếu anh cũng thể hiện quan điểm như thế. Anh phải bảo vệ ý kiến của mình chứ không thể làm ngược lại được.
Dù là thợ săn thiện nghệ, không ngại đối đầu với thần hổ xám, song ông Đinh Văn Riệc lo lắng cho tính mạng gia đình, nên đã quyết định rời thung lũng giữa khe đồi Vạn Sát và núi Bộc Tổ Gà, nơi tổ tiên khai hoang, lập bản, để chuyển ra ngoài sinh sống. Chỗ ông Riệc di dời ra giờ là làng Yên Sơn 2 (Thành Yên, Thạch Thành, Thanh Hóa), nơi con trai ông, là ông Đinh Văn Trinh hiện đang ở.
Nhắc đến ông Đinh Văn Riệc, các cụ già xứ Mường Thành Yên đều biết tiếng tăm ông, là thợ săn hổ tài ba. Người dân kể về ông như huyền thoại. Ông Riệc cao tới 1,8 m, nặng 80 kg, sức khỏe vô địch.
Năm 1955, ông Đinh Văn Riệc là tổ trưởng tổ lương thực của xã. Thời điểm đó, ông phụ trách việc xây dựng kho lương thực. Tuy nhiên, ông bàn giao công việc cho anh em, còn bản thân ông thì ngày ngày đặt bẫy, vác súng vào rừng săn hổ, vì hổ ngày đêm quấy phá gia đình.
Ngoài súng hỏa mai, súng kíp, ông được cấp thêm một khẩu súng hạt nẻ. Gọi là súng hạt nẻ vì khi bóp cò, cò súng mổ vào hạt nẻ, hạt nẻ sẽ nổ, đẩy viên đạn chì to bằng quả cau ra khỏi nòng. Thời kỳ đó, loại súng này có sức công phá rất mạnh, bắn một phát có thể giết hổ lớn, thậm chí giết voi trong tích tắc. Năm đó, ông Trinh cũng đã 23 tuổi, là công an xã. Ông Trinh cũng sở hữu mấy khẩu súng, cùng cha ngày đêm ủ mưu diệt hổ.
Khoảng tháng 4/1955, chiều xuống, thần hổ xám gầm rú ngoài rừng, nhưng một con hổ thường lại xông vào tận nhà ông vồ con chó khoang tha đi. Ông Riệc đuổi theo bắn chết con hổ tại chỗ. Bầy hổ không sợ, tiếp tục đến bắt lợn. Ông Riệc đặt bẫy ngay đầu cầu thang lên nhà. Ông kéo thân cây võng xuống đất làm bẫy, rồi đặt lẫy gỗ ngay đầu cầu thang. Con hổ hơn 1 tạ định mò lên nhà, vướng vào bẫy, bị tóm sống.
Ông Đinh Văn Trinh đau buồn kể chuyện bố mình bị hổ ăn thịt, biến thành ma trành
Đích thân ông Riệc dùng dao chọc tiết con hổ này, phanh thây, gọi cả bản đến ăn. Thịt hổ ăn chẳng ngon gì, luộc tới 4 lần nước mà vẫn không hết mùi tanh, hôi, nhưng mọi người cứ ngấu nghiến ăn vì rất thù hổ. Theo lời ông Trinh, nước luộc thịt hổ đổ ra bãi cỏ trước nhà, vài hôm sau hàng vạn con sâu lạ bò lổm ngổm từ đất lên nhìn rất hãi.
Ông Đinh Văn Trinh nhớ lại: “Ngay khi nhà tôi giết con hổ đãi cả bản cùng ăn, thì một thầy cúng đi qua, bỗng ghé nhà tôi, gọi cả tôi lẫn bố tôi lại bảo: “Nhà này có cái rây bị hổ vồ. Ông nên thờ cúng hổ cẩn thận, đừng sát hại hổ nữa, kẻo sẽ mất mạng mà biến hết thành ma trành”. Lúc đó, gia đình tôi lo sợ, tin lời thầy cúng lắm, nhưng bố tôi thì vẫn không sợ. Hổ đã ăn thịt chị gái tôi, cùng nhiều người trong họ. Hổ ăn thịt ai, thì người đó biến thành ma trành, không siêu thoát được. Chỉ có cách giết hổ, thì những ma trành bị hổ ăn thịt mới được đầu thai”.
Ông Đinh Văn Trinh trước ngôi đền thờ "thần hổ"
Vài hôm sau khi ông thầy cúng ghé qua phán vậy, thì có một thông tin kinh hoàng ập đến: Cách làng Yên Sơn buổi sáng đi bộ (ông Trinh áng chừng khoảng 15 km), sâu trong rừng già, có 3 thợ sơn tràng bị hổ ăn thịt. Ngay lập tức, mấy bố con ông Riệc, gồm cả ông Trinh, cùng các thợ săn thiện nghệ trong bản tìm vào khu vực đó.
Ngay cạnh hang đá, chỗ cây đa khổng lồ là một xưởng xẻ gỗ lim. Những súc gỗ lim đã được xẻ thành hộp, nằm vương vãi. Cạnh đó là 3 xác người đã bị mất phần giữa. Con hổ tàn ác đã giết cả 3 người, phanh bụng, moi ruột ăn trước. Cả 3 người xấu số đều bị hổ ngoạm gẫy cổ, móc toác họng. Dấu hiệu mà thần hổ xám để lại trên xác chết là một bên mắt của nạn nhân đã bị móc mất.
Nhìn cảnh ấy, ai cũng kinh hãi, dựng hết tóc gáy, không đủ can đảm đối mặt với thần hổ xám. Ông Riệc yêu cầu mọi người về bản, để lại một mình ông tìm cách tiêu diệt thần hổ xám. Mấy anh em ông Trinh khóc lóc ghê lắm, đòi cha cho ở lại cùng giết hổ, nhưng ông không đồng ý. Ông bảo rằng, khi nào dân làng nghe thấy tiếng súng nổ, vài tiếng sau không thấy ông về, thì mọi người hãy vào rừng tìm ông.
Khi đó là giữa tháng. Các cụ đồn rằng, hổ ăn thịt người thường nhìn trăng. Mặc dù có thể giết nhiều người một lúc, nhưng nó lại ăn làm nhiều lần. Vào những ngày trăng tròn, tức ngày rằm, thì nó sẽ ăn phần giữa cơ thể. Đầu tháng thì nó ăn đầu người. Cuối tháng thì ăn chân. Khi đó đang là giữa tháng, nó xé bụng, phanh ngực ăn phần nội tạng. Chắc chắn, nó sẽ quay lại ăn tiếp phần giữa thi thể 3 sơn tràng này.
Ông Riệc chắp tay trước ngực, hướng mắt về phía 3 thi thể đã bốc mùi khấn vái lầm rầm, mong linh hồn 3 người xấu số phù hộ ông để tiêu diệt con hổ khổng lồ, trừ hậu họa cho dân lành.
Bấy giờ đang là tuần trăng. Xác 3 thợ đi rừng nằm ở chỗ quá rậm rạp nên ông Riệc kéo xác 3 người xấu số dịch ra phía ngoài, chỗ bãi đất trống. Ông nhìn trời đất, đoán hướng gió, rồi làm giàn bắn trên một thân cây cổ thụ cách chỗ xác người chừng 20 mét. Đó là một cây lớn, bám trên đá. Xung quanh thân cây có nhiều cành xòe ra bảo vệ, cản đường con thú hung dữ lao lên khi bị thương.
Loài hổ có mùi rất hôi và nặng. Nó xuất hiện ở chỗ nào, lập tức xung quanh khu vực rất hôi hám. Nhiều chỗ nó đi qua, người thính mũi, đến hôm sau vẫn còn thấy mùi hôi đặc trưng của hổ. Giống hổ tinh mắt, nhưng lại thính mũi. Vì thế, phải phục kích nó ở xuôi chiều gió, để mùi cơ thể người không bay đến mũi nó, mà chính mùi hôi nồng nặc của nó sẽ đánh thức thợ săn.
Ông Riệc chọn một cành to làm đà ngang, chặt thêm những thanh gỗ, vít lại làm giàn chắc chắn. Làm giàn xong, ông dùng dây thừng bện từ sợ cây móc rất dai buộc thi thể các nạn nhân vào tảng đá lớn, để hổ không tha đi được. Ông vững tâm chờ đợi con hổ đến khi đêm xuống, kể cả có ngủ quên cũng không sao...
Đêm đầu tiên, rồi đêm thứ hai, đêm thứ ba, ông Riệc ôm một khẩu hạt dẻ, một khẩu súng kíp trong tay, thiu thiu ngủ dưới ánh trăng miền sơn cước. Bầy muỗi rừng to như ruồi tha hồ hút máu, ông cũng mặc kệ. Trong tâm trí ông, chỉ có một suy nghĩ duy nhất là giết thần hổ xám trả thù cho những sinh linh xấu số.
Đêm thứ 4, đang thiu thiu ngủ, ông bị đánh thức bởi những tiếng động liên tục, nặng nề. Ông Riệc nhổm dậy rất nhẹ nhàng. Trăng treo lơ lửng giữa trời, ánh sáng bị sương khuấy ra nhợt nhạt. Ông Riệc thấy rõ ràng, qua cái khe đặt nòng súng trước mặt do thân cây chỗ đó tõe ra làm đôi, một khối xám xám lấp loáng dưới ánh trăng. Một con mắt đỏ rực của thần hổ xám đang cắn thi thể một người lắc đi lắc lại để dứt thịt ra ăn.
Cánh đồng mang tên Ruộng Ông Riệc
Qua nòng súng, ông Riệc thấy đầu nó cúi xuống và đối diện với nòng súng. Ông Riệc bóp cò. Tiếng nổ đinh tai vang lên. Con thú gầm lên giận dữ. Nó lao thẳng về phía gốc cây vả vào thân cây roang roác khiến gốc cây rung lên dữ dội. Ông Riệc tiếp tục gí nòng khẩu súng kíp nhả đạn. Tuy nhiên, viên đạn trúng tảng đá dưới gốc cây. Loáng một cái, con hổ đã mất hút trong rừng. Tiếng nó “uồm uồm” lồng lộn vang dậy cả cánh rừng. Tiếng gầm nhỏ dần rồi mất hút.
Chờ tiếng con hổ mất hẳn, ông Riệc khoác súng tụt xuống tìm về làng. Đi đến giữa đường, thì thấy con cháu, người dân đốt đuốc tìm vào. Hôm sau, ông Riệc cùng mọi người vào rừng mai táng 3 thợ rừng xấu số, rồi lần theo dấu máu tìm con hổ. Tuy nhiên, đến bờ suối thì dấu máu mờ dần rồi biến mất. Phát đạn chỉ trúng phần mềm nên không giết được nó.
Theo lời ông Trinh, khu vực 3 người xẻ gỗ bị hổ ăn thịt chỉ mình ông dám vào. Người ta tin rằng, 3 người bị hổ ăn thịt đã biến thành ma trành oan khuất ngự ở đó. Hàng năm, vào ngày giỗ cha, ông Trinh vẫn cuốc bộ khoảng 15 km vào đó thắp hương cho cha. Ông vẫn can đảm đi qua chỗ 3 thợ rừng bị hổ ăn thịt. Chỗ đó giờ cỏ cây mọc rậm rạp, những xúc gỗ lim xẻ dở vẫn còn đó, mốc đen, bị cỏ cây mọc trùm lên.
Sống ở vùng rừng thẳm, ai cũng hiểu rằng, con hổ bị thương sẽ biến thành con hổ dữ, hay bắt người. Hổ thương càng nặng thì càng dữ dằn. Đặc biệt, nếu hổ bị thương bởi con người, thì cả đời nó sẽ tìm cách ăn thịt người. Khi đã ăn thịt người quen mùi, nó không ăn thứ gì khác ngoài con người.
Hổ là loài nhớ dai, thù lâu, nên nó sẽ trả thù đến tận cùng, đến tàn khốc. Vậy nên, lần bắn thương con hổ này càng khiến gia đình ông Riệc thêm lo lắng. Gia đình mời thầy mo đến cúng bái, nhưng thầy mo đều lắc đầu bảo không còn cách nào khác, rằng thần hổ xám sẽ tiếp tục trả thù.
Vợ ông Riệc cúng bái ở miếu Vó Ấm, xin thần hổ tha mạng, nhưng ông Riệc thì vẫn quyết tâm diệt hổ. Chỉ có giết thần hổ xám, thì con gái ông, những người trong họ bị hổ xám ăn thịt mới thoát kiếp ma trành.
Những ngày sau đó, cứ hễ ở đâu có tiếng hổ gầm, ở đâu có dấu chân hổ, là ông Riệc vác súng vào rừng săn tìm, không cần quan tâm đến an toàn tính mạng. Nghe một số người đi rừng bảo, hổ xám khổng lồ có mặt ở đuôi dãy Bộc Tổ Gà, cách nhà nửa buổi đi bộ, ông Riệc đã vác súng lên đường ngay.
Ông Trinh vẫn nhớ rõ, hôm đó là ngày 14/10/1955, ông Riệc dắt dao găm cùng khẩu súng hạt nẻ, dẫn cậu con trai Đinh Văn Bổ vào rừng. Ông Bổ là em trai ông Trinh, khi đó mới 13 tuổi. Thời gian đó, ông Trinh đang công tác ở xã khác, nên không theo được cha. Đi hết dãy Bộc Tổ Gà, thì đến thung lũng, có bãi cỏ gianh bên bờ suối.
Ông Riệc quan sát thấy nhiều dấu chân hổ vẫn còn mới. Nhìn vết chân hổ khổng lồ, ông Riệc biết thần hổ xám đang cư ngụ ở khu vực này. Ban ngày, hổ kiếm chỗ kín đáo nằm ngủ, chiều xuống mới đi săn, nên ông Riệc chọn địa điểm ngắm bắn, rồi tranh thủ xuống suối mò cá. Con suối nước cạn, cá nhiều, nên hai bố con mò một lúc đã được khá nhiều cá. Quanh khu vực, lại có nhiều cây trám, nên hai bố con ông Riệc tranh thủ lấy nhựa trám. Lấy một lúc đã được cả chục kg nhựa.
12 giờ trưa, ông Riệc bảo con: “Tao có súng và dao ở đây là yên tâm rồi, mày mang cá và gùi nhựa trám về đi. Tối nay tao phục hổ. Trưa mai sẽ về đến nhà”.
Ông Bổ gùi nhựa trám trên lưng, xách sâu cá lững thững theo đường mòn về làng. Vừa đi một đoạn, ông nghe tiếng hổ gầm vang, tiếng hét của ông Riệc. Ông Bổ vứt gùi nhựa trám chạy lại. Đứng trên mỏm đá nhìn xuống, thấy bố đang quần nhau với hổ. Ông Riệc nằm dưới, hổ chồm lên trên, liên tục lát, cắn, xé. Chỉ một lát sau, ông Riệc đã nằm im, toàn thân vấy máu.
Hổ xám khổng lồ cắn xác ông quăng xa, rồi nó lại chồm đến cắn xé. Con hổ quái ác cứ cắn người thợ săn rồi lại tung lên như mèo vờn chuột. Nhìn cảnh tượng ấy, người con đau xót gào khóc, nhưng không dám lại gần. Ông Bổ chạy một mạch về làng thông báo với mọi người.
Ông Thử, ông Sáng, ông Rạng, ông Trinh và hai người em, đều là những thợ săn kỳ cựu đã vác súng tìm vào rừng. Dấu tích trận đánh nhau kinh thiên động địa vẫn còn rõ rệt. Cỏ cây táp đi. Những vết máu đã thâm sì. Khẩu súng hạt nẻ lên đạn vẫn treo ở gạc cây trám, chứng tỏ chưa được sử dụng.
Ông Trinh dẫn phóng viên vào nơi thờ thần hổ
Ở thân cây bên cạnh, con dao găm cắm vào. Lưỡi dao dính máu và nhúm lông hổ. Điều này chứng tỏ ông Riệc đã đâm trúng hổ. Tuy nhiên, nhát đâm tiếp theo thì trượt, dao cắm phập vào thân cây. Sau cú đâm đó, ông Riệc đã mất mạng bởi hổ.
Nhìn dấu chân hổ, rồi khẩu súng treo trên cây, mọi người biết rằng ông Riệc đã bị hổ tấn công bất ngờ. Có thể, nhân lúc ông Riệc đang lấy nhựa trám, thần hổ xám khổng lồ đã tấn công từ phía sau. Cú tát đầu tiên của nó không hạ được người thợ săn dũng cảm. Tuy nhiên, vì bị tấn công bất ngờ, nên ông Riệc hoàn toàn yếu thế. Ông đã bị nó đoạt mạng chỉ trong giây lát.
Cuộc tìm kiếm diễn ra khá lâu, song không thấy xác ông Riệc đâu. Ông Trinh cùng mọi người ghé vào làng Muồng, cách đó không xa, chỉ có vài nóc nhà nghỉ tạm. Đêm nghe tiếng hổ xám gầm vang rừng, mà mọi người không dám đối đầu với nó.
Sáng hôm sau, mọi người tiếp tục dò tìm theo dấu máu, thì phát hiện xác ông Riệc ở một gốc cây, cách chỗ hổ tấn công giết hại ông khoảng 500 mét. Nhìn thân thể ông Riệc, ai cũng xót xa. Ông Trinh và 2 người em đã khóc rống, ngất xỉu. Thần hổ xám đã cắn nát mặt, xét toang lồng ngực, bụng và ăn sạch nội tạng. Ông Trinh chỉ có thể nhận ra cha mình qua chiếc áo rách tướp loang lổ.
Ông Trinh cùng mọi người gom thi thể ông Riệc, quấn vào chiếc chăn, đẵn cây làm cáng khiêng về chôn ở mảnh ruộng giữa khe núi Bộc Tổ Gà và đồi Vạn Sát. Khu ruộng rộng mênh mông dưới thung lũng giờ được chia cho nhiều hộ gia đình canh tác. Người dân ở Thành Yên vẫn gọi cánh đồng ấy là Ruộng Ông Riệc, nhằm tưởng nhớ người thợ săn dũng cảm đã bỏ mạng dưới móng vuốt kinh hồn của thần hổ xám.
Thời kỳ đó, người Mường đồn rằng, thi thoảng họ vẫn gặp hồn ma ông Riệc ở cánh đồng. Người ta thấy bóng dáng vạm vỡ của ông với khẩu súng trên vai. Nơi ông đánh nhau với hổ không ai dám vào, bởi họ tin rằng hồn ma ông lúc nào cũng cư ngụ ở đó. Chỉ đến khi, thần hổ xám bị tiêu diệt bởi một thợ săn được ví như Võ Tòng của miền tây Thanh Hóa, giải thoát cho hàng trăm oan hồn, thì câu chuyện về ông cũng như những ma trành mới không còn nữa.
Bộ trưởng Y tế: Ung thư nhiều không phải do thực phẩm bẩn
"Nói một năm chết 70.000 người và phát hiện thêm 200.000 ca ung thư nguyên nhân do thực phẩm bẩn là không chính xác mà nguyên nhân là bệnh nhiễm trùng cấp tính và mãn tính", Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho hay.
Chiều 20/4, đoàn giám sát của Quốc hội báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2016. Kết quả cho thấy tình hình ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm diễn ra nghiêm trọng ở một số địa phương. Đã có hơn 1.000 vụ ngộ độc với khoảng 30.400 người mắc, hơn 25.600 người phải nhập viện, trong đó 164 người chết.
"Bệnh ung thư mỗi năm làm khoảng 70.000 người chết và hơn 200.000 ca phát hiện mới, trong đó có nguyên nhân thực phẩm không an toàn và còn 268 vụ không xác định được nguyên nhân gây ngộ độc (chiếm 26,6%)", Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng cho hay.
Theo ông Dũng, kết quả kiểm nghiệm rau, quả tươi sống giai đoạn 2011-2016 cho thấy tỷ lệ tồn dư hóa chất vượt ngưỡng cho phép gần 8,5%. Trong hơn 54.700 hộ dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bị kiểm tra thì hơn 9.000 vụ vi phạm. Ở một số địa phương đoàn đến giám sát, các tiểu thương không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc sản phẩm, tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục cho phép sử dụng, thuốc không rõ nguồn gốc diễn ra phổ biến.
Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến.
Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho rằng hiện nay hạn chế lớn nhất là xử phạt không nghiêm minh nên mới xảy ra vi phạm nghiêm trọng trong sản xuất, chế biến thực phẩm. Các nhà sản xuất kinh doanh bất chấp quy định, coi thường sức khoẻ, tính mạng của người tiêu dùng. Bà Tiến kiến nghị cần đưa các tội liên quan đến thực phẩm bẩn vào hình sự với mức xử phạt cao hơn.
"Nói một năm chết 70.000 người và phát hiện thêm 200.000 ca ung thư, nguyên nhân thực phẩm bẩn là không chính xác. Bộ Y tế đã mời chuyên gia trong và ngoài nước hội thảo và đã thông báo là hiện nay nguyên nhân gây ung thư hàng đầu là bệnh nhiễm trùng cấp tính và mãn tính. Ví dụ viêm gan B, viên gan C gây viêm gan mãn tính, ung thư gan", bà Tiến nhấn mạnh.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định cũng đồng tình với bà Tiến là ung thư không phải do thực phẩm bẩn mà là nhiều nguyên nhân khác.
Lý giải về việc số lượng vi phạm nhiều nhưng xử lý hình sự còn rất ít, Thứ trưởng Công an Lê Quý Vương cho biết, hành vi vi phạm an toàn thực phẩm gây hậu quả nhưng phải liên quan giám định chất đó thế nào, nếu dẫn đến chết người thì nguyên nhân có phải do thức ăn, đồ uống không? Điều này rất khó khăn. Bình thường xác định hoá chất độc tố có khi hậu quả không xảy ra ngay, uống rượu vài ngày mới gây phản ứng, Hà Giang vừa qua là như vậy.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng Chính phủ chỉ đạo kiểm tra, xử lý vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đạt yêu cầu. "Báo cáo nói các hộ gia đình chưa nhận thức hết tồn tại hoặc nhận thức nhưng cố ý vi phạm. Tôi nói người ta trồng rau, luống này là để ăn, luống kia để bán, đó là cố ý vi phạm chứ không phải nhận thức chưa tới", bà Ngân nói.
Chủ tịch Quốc hội chia sẻ, hàng ngày mở tivi ra thấy tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, ngộ độc thực phẩm, "thấy cuộc sống của dân không yên bình, quá nhiều rủi ro rình rập". Bà Ngân đề nghị nâng cao vai trò kiểm tra, kiểm soát theo mô hình từ trang trại đến bàn ăn, phân khúc ra để các bộ phối hợp quản lý.
Hoàng Thùy
Giám đốc bệnh viện K: 35% ung thư do chế độ ăn uống
25/04/2017 03:09 GMT+7
- Giám đốc bệnh viện K nhấn mạnh hút thuốc và chế độ dinh dưỡng không hợp lý là 2 nhóm nguyên nhân hàng đầu gây ung thư.
PGS.TS Trần Văn Thuấn, Giám đốc BV K cho biết, ung thư ngày càng gia tăng trên khắp thế giới chứ không riêng Việt Nam.
Năm 2000, số ca mắc mới ung thư tại Việt Nam là 69.000. Hiện tại, con số này tăng lên 126.000, trong đó có khoảng 94.000 trường hợp tử vong.
Tỉ lệ mắc ung thư ở cả 2 giới là 140/100.000 dân, đứng thứ 78/172 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Theo ước tính đến năm 2020, Việt Nam sẽ có tối thiểu 190.000 ca ung thư mắc mới mỗi năm.
Việt Nam đứng 78/172 quốc gia và vùng lãnh thổ về tỉ lệ mắc mới ung thư
5 loại ung thư thường gặp nhiều nhất ở nữ gồm: Ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung thư cổ tử cung và ung thư dạ dày.
5 loại ung thư nhiều nhất ở nam giới gồm: Ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đầu trực tràng và ung thư thực quản.
Trong đó có 4 nguyên nhân chính khiến ung thư tại Việt Nam ngày càng tăng:
Thứ nhất: Tuổi thọ người Việt ngày càng cao, hiện đạt 73,4 tuổi. Tuổi càng cao, tỉ lệ phơi nhiễm với các nguy cơ ung thư càng lớn.
Thứ hai: Do nhận thức, tuyên truyền tăng lên, người dân đi khám ngày càng nhiều hơn.
Thứ ba: Các phương tiện chẩn đoán ngày càng tốt hơn, tỉ lệ phát hiện bệnh cao hơn.
Thứ 4: Do tác động của các nguyên nhân hiện hữu gồm nguyên nhân bên ngoài và bên trong.
Chỉ có 10% do rối loạn cơ thể
“Ung thư là bệnh lý gây ra do nhiều nguyên nhân kết hợp, trong đó chỉ có dưới 10% ung thư phát sinh do các rối loạn trong cơ thể, 80% do liên quan yếu tố môi trường sống”, PGS Thuấn thông tin.
10% nguyên nhân bên trong bao gồm các rối loạn nội tiết, tổn thương có tính di truyền.
Ví dụ trong gia đình có mẹ, chị em gái mắc ung thư vú thì người đó có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn 4-6 lần người bình thường. Con số này gấp 2-4 lần ở những phụ nữ uống thuốc tránh thai liên tục hơn 10 năm. Hoặc những trường hợp đa polip sẽ có nguy cơ mắc ung thư đại tràng cao hơn...
PGS.TS Trần Văn Thuấn. Ảnh: T.Hạnh
“Trong số các nguyên nhân liên quan đến yếu tố môi trường, hút thuốc, chế độ dinh dưỡng không hợp lý và ô nhiễm thực phẩm chiếm tới 65% nguyên nhân gây ung thư”, PGS Thuấn nhấn mạnh.
- Hút thuốc: Là nguyên nhân gây ra 30% trong tổng số các loại ung thư như: Ung thư phổi, ung thư thanh quản, thực quản, khoang miệng, bàng quan, tuỵ, vú, dạ dày, cổ tử cung...
- Chế độ ăn uống không hợp lý và ô nhiễm thực phẩm: Chiếm khoảng 35%. Trong đó chế độ ăn nhiều thịt, mỡ động vật, ít rau quả làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng và ung thư vú.
Các chất bảo quản thực phẩm, nhuộm màu thực phẩm có nguồn gốc hoá học, các chất trung gian chuyển và sinh ra từ thực phẩm nấm mốc, lên men (cà, dưa muối) gây ra nhiều loại ung thư đường tiêu hoá như: Dạ dày, gan, đại tràng, thực quản...
Theo PGS Thuấn, các chất tăng trọng, thuốc trừ sâu, kháng sinh, chất phụ gia... có trong thực phẩm gây ảnh hưởng không tốt cho sức khoẻ người sử dụng, có thể gây ngộ độc cấp tính, nhiễm trùng, sán não... nhưng để phát triển thành bệnh lý ung thư thường phải sau thời gian dài tiếp xúc.
“Do đó nói thực phẩm bẩn gây ra ung thư là không có căn cứ. Muốn khẳng định, cần có thời gian dài theo dõi, nghiên cứu với số lượng mẫu đủ lớn. Ngay như để khẳng định tác hại của hút thuốc với ung thư phổi, các nhà khoa học cũng phải mất tới 30 năm”, PGS Thuấn nhấn mạnh.
- Ô nhiễm môi trường: Chiếm 2-8%. Trong đó thuốc diệt cỏ là yếu tố nguy cơ ung thư vú và một số ung thư khác.
- Tia phóng xạ: Loại nguyên nhân này chiếm khoảng 3%, phát ra từ các máy chụp X-quang, các chất phóng xạ có khả năng gây thương tổn gen và sự phát triển tế bào gây u hạch, giáp trạng, máu...
- Tia cực tím: Gây ung thư da.
- Nhiễm virus, vi khuẩn: Virus gây u nhú là nguyên nhân gây 70% ung thư cổ tử cung, virus viêm gan B gây ung thư gan nguyên phát, virus HP gây ung thư dạ dày, sán máng gây ung thư bàng quang...
Theo PGS Thuấn, với các nguyên nhân kể trên cũng cần thời gian tiếp xúc nhất định, lâu dài mới phát triển thành bệnh ung thư.