Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

Chi tiết buổi bàn giao 19 chiến sĩ CSCĐ của người dân Đồng Tâm

 Sau cuộc đối thoại hơn 2 tiếng đồng hồ giữa Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung với đại diện người dân xã Đồng Tâm (Mỹ Đức, Hà Nội), người dân đã chính thức thả 19 chiến sĩ CSCĐ còn bị giữ tại nhà văn hóa thôn Hoành.


  
Sáng 22/4, trước thông tin chính thức về việc Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung về đối thoại, người dân Đồng Tâm treo cờ Tổ quốc dọc đường vào làng. Các chướng ngại vật cũng được dỡ bỏ, trả lại sự thông thoáng cho đường làng.




Đoàn công tác của Trung ương và Hà Nội về thôn Hoành, Đồng Tâm muộn 20 phút so với lịch hẹn vì lý do giao thông.

Người dân đứng hai bên đường chào đón đoàn công tác.

Tại cổng làng Hoành, người dân lập chốt chặn, chỉ cho đoàn công tác, các phóng viên báo chí vào bên trong.

Ngay sau đó, cổng làng được chốt chặn, không ai có thể ra vào. Lực lượng Cảnh sát giao thông được tăng cường.

Người dân đứng chật kín trước cổng UBND xã Đồng Tâm.

Các phóng viên cũng không được vào hội trường.

Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung chủ trì cuộc đối thoại, giải đáp các thắc mắc, kiến nghị của người dân.

Sau cuộc làm việc kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ, thống nhất được một số nội dung, đoàn công tác đến Nhà văn hóa thôn Hoành, nơi 19 cán bộ chiến sĩ đang bị giữ.

Dọc đường, Chủ tịch Nguyễn Đức Chung bắt tay thăm hỏi, động viên người dân Đồng Tâm.

Nhà văn hóa thôn Hoành, nơi 19 cán bộ chiến sĩ bị giữ.


Rất đông người dân quây kín xung quanh nhà văn hóa.

Đoàn công tác và đại diện người dân làm biên bản bàn giao tại lán được dựng trong sân nhà văn hóa. Ông Dương Trung Quốc (áo xanh) cũng có mặt, trò chuyện cùng người dân.

Thượng tá Phạm Văn Trung - Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động - nắm tay Bí thư Đảng ủy xã Đồng Tâm Nguyễn Thị Lan vào thăm, động viên các chiến sĩ công an đang bị giữ.

Sau khi Chủ tịch Nguyễn Đức Chung làm bản cam kết với 3 điểm chính, các chiến sĩ đã được thả ra. Trong ảnh: các chiến sĩ bắt tay cảm ơn những người phụ nữ cả tuần qua đã chăm sóc, phục vụ mình.

Toàn bộ các chiến sĩ bị giữ đã được thả.

Lãnh đạo Trung đoàn CSCĐ cảm ơn người dân Đồng Tâm.

Bên trong nơi 19 chiến sĩ bị giữ hơn 1 tuần qua.

Biển người theo dõi sự việc.

Các chiến sĩ được bố trí ô tô đón.

Chủ tịch Nguyễn Đức Chung rời Nhà văn hóa. Trước khi ra về, đoàn công tác còn ra thăm đồng Sênh, nơi khởi nguồn của những mâu thuẫn giữa người dân và chính quyền nơi đây.

Dây chắn tại các chốt chặn được tháo bỏ.

Các con ngõ cũng được trả lại sự thông thoáng.

 





Tiến Nguyên - Quang Phong - Nguyễn Dương

Tổng thống Trump: Đến lúc giải quyết vấn đề Triều Tiên

Thanh Niên  1 đăng lại 12 liên quan

Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 24.4 cảnh báo chương trình hạt nhân, tên lửa của CHDCND Triều Tiên là mối đe dọa của thế giới và nhấn mạnh “đã đến lúc giải quyết vấn đề này”.
Tong thong Trump: Den luc giai quyet van de Trieu Tien - Anh 1
Tổng thống Mỹ Donald Trump kêu gọi Liên Hiệp Quốc tăng cường biện pháp trừng phạt Triều Tiên
“Hiện trạng ở Triều Tiên là không thể chấp nhận”, ông Trump phát biểu trong cuộc gặp với đại sứ của 15 quốc gia thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc tại Nhà Trắng, theo Reuters. Ông Trump kêu gọi: "Hội đồng Bảo an cần chuẩn bị áp đặt thêm các biện pháp trừng phạt mạnh hơn về chương trình hạt nhân, tên lửa Triều Tiên”. Reuters dẫn lời một số quan chức Mỹ cho hay những biện pháp trừng phạt mạnh hơn có thể bao gồm cấm xuất khẩu dầu cho Triều Tiên, trừng phạt các ngân hàng của Trung Quốc và một số nước khác làm ăn với Bình Nhưỡng.
“Đây là mối đe đọa thật sự đối với thế giới, liệu chúng ta có muốn bàn về vấn đề này hay không. Triều Tiên là một vấn đề lớn của thế giới và là vấn đề mà chúng ta cuối cùng phải giải quyết. Mọi người đã phớt lờ trong nhiều thập niên qua và bây giờ là lúc giải quyết vấn đề này”, ông Trump nhấn mạnh.
Cuộc gặp nói trên diễn ra trong bối cảnh có suy đoán rằng Triều Tiên sẽ thử hạt nhân hoặc phóng tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) nhằm đánh dấu 85 năm ngày thành lập lực lượng vũ trang vào hôm nay 25.4, và Washington sẽ có hành động quân sự nếu Bình Nhưỡng có động thái khiêu khích.
Vài giờ trước khi cuộc gặp nói trên diễn ra, Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc Nikki Haley cảnh báo rằng Bình Nhưỡng không nên cho Mỹ có lý do để chống lại Triều Tiên. “Chúng ta sẽ không hành động trừ phi ông ấy (lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un-NV) cho chúng ta lý do làm điều gì đó. Mục tiêu của chúng ta là không khơi mào một cuộc chiến”, bà Haley cho Đài NBC News hay khi được hỏi liệu Mỹ có nghiêm túc xem xét tấn công phủ đầu Triều Tiên hay không. Bà Haley cho hay lý do đó có thể là Bình Nhưỡng tấn công một căn cứ của Mỹ hoặc các nước đồng minh, hoặc phóng ICBM.
Vào ngày mai 26.4, Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson, Bộ trưởng quốc phòng Jim Mattis, Giám đốc tình báo quốc gia Dan Coats và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Joseph Dunford sẽ có cuộc họp báo cáo hiếm thấy với tất cả 100 thành viên Thượng viện về vấn đề Triều Tiên tại Nhà Trắng, theo Reuters. Các quan chức thường đến quốc hội để báo cáo các vấn đề với nghị sĩ nên việc 100 thượng nghị sĩ đến Nhà Trắng dự cuộc họp sắp tới là bất thường.
Văn Khoa

VỀ NHỮNG CÁI CHẾT CỦA 15 VIÊN TƯỚNG CỦA QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA...

BĐQ Đỗ Như Quyên

 
THIẾU TƯỚNG TRÌNH MINH THẾ


Sinh năm 1922, tỉnh Tây Ninh Việt Nam . Ngày 3-5-1955, trong lúc đang theo dõi các đơn vị của mình (quân đội Cao Đài) phối hợp với quân đội chính phủ tấn công lực lượng Bình Xuyên ở khu cầu Tân Thuận, tướng Trình minh Thế đứng trên một xe jeep tại dốc cầu, phía bên Sàigòn. Giữa tiếng nỗ của nhiều loại súng cách xa nơi ông đứng khoảng hơn 100m, có một viên đạn duy nhất không rõ ai bắn, đã trúng ngay đầu tướng Trình Minh Thế làm ông chết tại chỗ.

Cái chết chẳng ai ngờ của thiếu tướng Trình Minh Thế vừa làm đau lòng, lẫn đau đầu cho người sống. Kẻ nổ phát súng ấy là ai? Và tại sao? Từ năm 1955 cho đến nay, 2010, đã có nhiều bài viết (kể cả sách) đưa ra các câu trả lời khác nhau về "thủ phạm" bắn tướng T.M.T., nhưng hầu hết các tác giả đó đều dựa trên sự suy luận mà không đưa ra được một chứng tích nào về văn bản, chứng từ, hoặc chứng nhân v.v... Duy nhất có một người tự nhận mình là kẻ tổ chức ám sát tướng Trình Minh Thế. Ông ta đã từng lập một lời thề, sẽ giết tướng Trình Minh Thế để trả thù cho một vị chỉ huy mà ông ta kính trọng đã bị tướng Trình Minh Thế tổ chức giết chết. Tuy ông nầy cũng chẳng trưng ra được chứng tích nào, nhưng nhận thấy lời ông kể nghe có lý hơn các câu trả lời từ trước đến nay. Chúng tôi xin phép được trích đăng lại từ nhiều nguồn tham khảo ở sách, báo tiếng Việt ở Mỹ có nói đến người nhận mình giết tướng Trình Minh Thế.

..."Năm 1951, thiếu tá Antoine Savani là Trưởng Phòng Nhì, làm xếp an ninh mật thám của Phủ Toàn Quyền Pháp trên khắp ba nước Việt-Miên-Lào. Ông nầy rất kính trọng thiếu tướng Charles Chanson (1902-1951) nguyên Tư Lệnh quân đội Pháp tại Nam Việt.

Ngày 13-7-1951, Thủ Hiến Nam Việt là ông Thái Lập Thành (1896-1951) cùng với thiếu tướng Charles Chanson đến thị xã Sa Đéc dự lễ diễn binh mừng các chiến thắng vùng Tiền Giang. Hai ông xuống xe đứng chào cờ trước khán đài chính. Bỗng một bóng người mặc quân phục vạch đám đông dự lễ chạy thật nhanh đến chổ chào cờ, vừa chạy vừa đưa tay vào túi áo (rút chốt quả lựu đạn). Lúc đến trước mặt hai vị quan khách chính, người nầy đứng nghiêm và đưa tay lên chào cũng là lúc quả lựu đạn phát nổ. Sự việc xảy ra quá nhanh, không ai kịp có một phản ứng nào cả. Người mang lựu đạn bị xé làm hai, nằm bên cạnh hai xác người đang thoi thóp là các ông Thái lập Thành và tướng Charles Chanson. Gần đó hai sĩ quan Pháp cũng bị thương nặng. Những người bị thương được đưa vào một quân y viện gần đó, nhưng vài giờ sau thì cái chết đã đến với ông Thái lập Thành và tướng Charles Chanson.

Thiếu tá Antoine Savani gần như nổi điên vì cuộc ám sát vừa kể. Qua điều tra, được biết kẻ ám sát là một thanh niên tên Phạm văn Út (1925-1951) là con nuôi của đại tá Văn Thành Cao (1924- ?), Tư Lệnh quân đội Cao Đài vùng Đồng Tháp Mười. Ngoài ra, còn có tin báo cho phòng nhì Pháp biết: Đại tá Trình Minh Thế ở Chiến Khu Lò Gò (dưới chân núi Bà Đen, Tây Ninh) cho tổ chức trọng thể lễ truy điệu và tôn vinh anh Phạm Văn Út như một anh hùng kháng chiến của quân đội Cao Đài. Qua các nguồn tin thu nhận được, thiếu tá Antoine Savani cho rằng thủ phạm là ông Trình Minh Thế và thề sẽ giết ông nầy bằng mọi giá.

Khoảng năm 1994, gần 40 năm sau ngày tướng Trình Minh Thế bị ám sát (1955), ông Antoine Savani đã về hưu từ lâu với cấp đại tá và cũng đã già. Lúc gần chết vì bệnh tim, ông ta trăn trối những lời sau cùng về cái chết của tướng Trình Minh Thế. Những lời kể của ông Antoine Savani được phỏng vấn và ghi chép bởi ông Jean Lartéguy (người sau nầy viết cuốn "Le Mal Jaune", bản tiếng Anh là "Yellow Fever").

"...Chính tôi đã giết Trình Minh Thế. Dù không tự tay cầm súng nhưng tôi là người tổ chức tất cả. Thế bị giết bởi một viên đạn do người thân tín của tôi nấp từ phía sau bắn tới, không phải từ dưới tàu bắn lên. Người bắn chẳng có tên tuổi gì, nói đúng ra, chỉ biết là cấp trung úy. Sở dĩ tôi phải giết Thế là để báo thù cho tướng Chanson mà tôi đã từng thề. Trong tất cả các thủ lãnh quân sự ở trong Nam thì Thế là người nguy hiểm nhất, có nhiều tham vọng nhất, và cũng là người khôn ngoan nhất. Lansdale* quả có mặt tinh đời khi chọn Thế ... "*(Đại Tá Edward Lansdale , 1908-1987, về hưu với cấp thiếu tướng)


TRUNG TƯỚNG ĐỖ CAO TRÍ:



Trung Tướng Đỗ cao Trí Sinh ngày 20-11-1929, làng Bình Tước tỉnh Biên Hòa Việt Nam , nguyên là Tư Lệnh Quân Đoàn III/ Quân Khu III. Sáng ngày 23-2-1971, trên cương vị Tư Lệnh Hành Quân Toàn Thắng 1/71, ông chủ tọa cuộc họp tham mưu tại Bộ tư lệnh Tiền phương QĐIII/ QK III tại căn cứ Trảng Lớn, quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh như thường lệ. Sau buổi họp, khoảng 09:30 giờ, ông dùng trực thăng bay về hướng bắc tỉnh Tây Ninh để đến Dambe (một thị trấn nhỏ của Kampuchia) nơi lực lượng xung kích QĐ III của đại tá Trần quang Khôi đang chờ. Trực thăng chỉ huy của Trung Tướng Đỗ cao Trí rời khỏi Trảng Lớn khoảng bốn phút thì bùng nổ ở trên không. Địa điểm tai nạn khoảng 7km bắc- tây-bắc thị xã Tây Ninh. Ngoài tướng Đỗ cao Trí bị tử thương còn có hai phi công (chỉ biết tên một người là đại uý Thành), hai xạ thủ và cơ khí phi hành (không rỏ danh tánh); trung tá Sỹ thuộc Trung Tâm Hành Quân QĐ III; trung tá Châu, Chỉ huy phó Truyền tin QĐ III; đại úy Tuấn, sĩ quan tuỳ viên; nhà báo Mỹ (gốc Pháp) Francoi Sully.

Sự ra đi đột ngột của tướng Đỗ cao Trí cũng để lại nhiều câu hỏi nhức đầu cho hậu thế. Gần 40 năm qua, đã có khá nhiều bài viết của người Việt bàn tán và nhận xét về cái chết nầy. Không có ai đưa ra được các chứng cứ nào có sức thuyết phục để dư luận chấp nhận là hợp lý, hợp tình hơn cả. Tuy nhiên tướng Đỗ cao Trí đi vào nơi khuất bóng trong lúc ông đang chiến thắng dồn dập (70-71) ở bên vùng biên giới Kampuchia. Có tin ông sắp ra nắm QĐ I để xoay chuyển tình huống mặt trận biên giới Lào, vậy mà ông ra đi! Đó là điều làm người đời sau thắc mắc.


 
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN VĂN HIẾU:



Sinh ngày 23-6-1929, thành phố Thiên Tân, Cộng Hoà Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1949 đang học đại học Aurore ở Thượng Hải thì phải theo gia đình dọn về Saigon, Việt Nam . Đầu năm 1951, ông theo học khóa 3 Võ Bị Liên Quân Việt Nam tại Đà Lạt, và tốt nghiệp (hạng hai) ngày 1-7-51 với cấp bậc thiếu uý.Thiếu Tướng Nguyễn văn Hiếu

Hai mươi năm sau, thiếu uý Nguyễn văn Hiếu đã là thiếu tướng Tư Lệnh Phó QĐ I (nhậm chức ngày 9-6-1971) và nỗi tiếng là một vị tướng liêm chính. Do có tài năng và đức độ, nên ngày 10-2-1972, Phó Tổng Thống Trần văn Hương (1902-1982) đề cử tướng Nguyễn văn Hiếu giữ chức Phụ Tá Đặc Biệt trong Ủy Ban Bài Trừ Tham Nhũng (tương đương cấp Thứ Trưởng). Ngày 1-10-1973, ông được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Phó QĐ III/ QK III và đã giữ chức vụ nầy qua ba vị Tư Lệnh Quân Đoàn là Trung Tướng Phạm quốc Thuần, Trung Tướng Dư quốc Đống (1932-2008), Trung Tướng Nguyễn văn Toàn (1932-2005).

Ngày 2-4-1975, tướng Nguyễn văn Hiếu được bổ nhiệm chức Tư Lệnh Tiền Phương QĐ III, nhưng chưa kịp nhận nhiệm sở. Ngày 4-4-1975, khoảng 17:30 giờ (các tài liệu khác thì ghi buổi trưa khoảng 13:30 giờ) những người đang làm việc tại Bộ Tư Lệnh QĐ III ở Biên Hoà bổng nghe một tiếng súng nổ trong văn phòng thiếu tướng Nguyễn văn Hiếu (cùng có nguồn tài liệu khác ghi có hai tiếng súng). Lúc mọi người mở cửa phòng thì thấy tướng Nguyễn văn Hiếu đã ngồi chết gục tại bàn làm việc, một tay ông để trên bàn và tay còn lại buông thòng xuống đất nơi có một cây súng nhỏ còn nằm trên sàn nhà (có thể loại súng P 38). Ông bị chết vì một viên đạn đi xuyên từ cằm lên thái dương (có vài tài liệu khác ghi viên đạn từ thái dương bắn xuyên lên đỉnh đầu và phá một lỗ trên trần nhà), nhưng chẳng có ai hiểu được nguyên nhân ông bị chết là do ngộ sát, tự sát hoặc bị ám sát. Vài ngày sau cái chết của tướng Nguyễn văn Hiếu, chính phủ ban đầu công bố là ông tự sát, nhưng sau đó đã cải chánh và đổi thành ngộ sát, bị cướp cò lúc đang lau súng.

Ba mươi năm sau cái chết bí ẩn của tướng Nguyễn văn Hiếu, có rất nhiều người vẫn không tin ông bị cướp cò súng bởi vì ông là người sưu tập và rất cẩn thận về súng. Có người còn quả quyết tướng Hiếu bị ám sát chết bởi những kẻ tham nhũng. Bọn nầy mượn gió bẻ măng để "giết người bịt miệng" lúc ngọn sóng Đỏ đang tràn tới. Nhưng cũng có người cho rằng một thế lực khác đã gây ra cái chết nầy. Thế lực đó đã biết được một kế hoặch bí mật giữa các tướng Nguyền văn Hiếu, Nguyễn khoa Nam, Lê văn Hưng, Trần văn Hai ở QĐIV/ QKIV, là các vị nầy sẽ tái phối trí và tổ chức lực lượng quân sự tử thủ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nếu thủ đô Sài gòn rơi vào tay quân Cộng Sản. Và thế lực đó không muốn cuộc chiến kéo dài thêm nữa khi họ đã công khai bắt tay với Việt Cộng vì quyền lợi của họ.


 
CÁI CHẾT ĐAU LÒNG
CHUẨN TƯỚNG TRƯƠNG QUAN ÂN:




Sinh năm 1932, là thủ khoa khóa 7 Trường Võ Bị Liên Quân Việt Nam ở Đà Lạt. Ông nguyên là Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh/ QĐII/ QKII từ ngày 24-11-1966. Vợ ông là bà Dương thị kim Thanh (Huế), nguyên chuẩn uý thuộc binh chủng Nhảy Dù nhưng làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Nhân dịp bà đi thăm và tặng quà cho các chiến sĩ và gia đình đang đồn trú tại vùng biên giới tây bắc tỉnh Pleiku, ngày 8-9-1968, Ông cùng bà đi chung một chiếc trực thăng loại H-34 (Choctaw) của Không Quân VNCH đến thăm các căn cứ tiền đồn. Sau khi thăm được vài nơi, trực thăng chở ông bà lại cất cánh để đến nơi khác thì máy bay phát nổ ngay trước mắt các binh sĩ và gia đình. Tất cả những người trên trực thăng đều tử thương, trong đó có Chuẩn Tướng Trương quang Ân và vợ là bà Dương thị Kim Thanh.




 
NHỮNG TAI NẠN TRỰC THĂNG
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN VIẾT THANH




Sinh năm 1931, Lâm Đồng, tốt nghiệp khóa 4 Trường Võ Bị Liên Quân Việt Nam, Đà Lạt, nguyên là Tư Lệnh QĐIV/ QKIV từ ngày 1-7-1968. Hành quân Cửu Long 1 (bắt đầu ngày 9-5-1970) là cuộc hành quân cấp quân đoàn vượt qua đất Cam Bốt nhằm giải cứu, hồi hương hàng chục ngàn đồng bào thoát sự tàn sát của của dân Cam Bốt. Trên cương vị là Tư Lệnh Hành Quân Cửu Long 1, thiếu tướng Nguyễn viết Thanh thường xuyên có mặt trên máy bay trực thăng để theo dõi và đôn đốc các đơn vị. Ngày 1-5-1970, chiếc trực thăng chỉ huy của tướng Thanh đã vở tan trên không vì bị một chiếc trực thăng võ trang của Mỹ đụng vào. Tai nạn xảy ra trên bầu trời tỉnh Kiến Tường. Tất cả số người có mặt trên hai chiếc trực thăng đều tử nạn.


 
CHUẨN TƯỚNG PHAN ĐÌNH SOẠN


Sinh ngày 16-11-1929, Huế, tốt nghiệp khóa 1 Trường Sĩ Quan Việt Nam Thủ Đức, nguyên Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh QLVNCH từ ngày 1-10-1968 đến 31-1-1972. Ông được bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Phó QĐI/ QKI vào ngày 1-2-1972, thay thiếu tướng Nguyễn văn Hiếu. Ngày 25-2-1972, chuẩn tướng Phan đình Soạn đi máy bay trực thăng ra thăm một chiến hạm Mỹ, cách Đà Nẵng khoảng 20km ngoài khơi biển Đông Việt Nam. Lúc cất cánh trở về, trực thăng của ông vì sơ suất nên đụng vào trụ ăng ten của chiến hạm. Tuy bị hư hại nhưng trực thăng vẫn gắng bay về và bị rớt gần bán đảo Sơn Trà, quận Ba thành phố Đà Nẳng. Toàn bộ người trên máy bay đều chết và tìm được thi hài. Cùng đi với tướng Phan đình Soạn có đại tá Ngô hân Đông, nguyên Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh QĐI/ QKI.



CHUẨN TƯỚNG NGUYỄN HUY ÁNH





Sinh tháng 7-1934, tốt nghiệp trường Không Quân Phi Hành Salon de Provence 1953, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân QĐIV/ QKIV cho đến năm 1972. Chuẩn Tướng Ánh tử nạn phi cơ trong một phi vụ quan sát tình hình, vì ghi nhận một phi cơ L19 bị rớt nên ông dùng trực thăng của ông đến câu phi cơ L19 và rủi ro xảy ra tai nạn. Ông tử nạn lúc 17giờ ngày 27-2-1972.


CHUẨN TƯỚNG NGUYỄN VĂN ĐIỀM

 

 

Sinh ngày 30-6-1929, tốt nghiệp khóa 4 Trường Bộ Binh Thủ Đức. Ông giữ chức vụ Trung đoàn trưởng của SĐ1/BB và Tư Lệnh Phó trước khi được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1/BB, năm 1973. Ông được hăng cấp Chuẩn tướng tháng 4-1974. Trực thăng của ông bị rơi gần bờ biển Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi, vào 8giờ tối ngày 28-3-1975. Ông là vị tướng bị tử nạn cuối cùng trong cuộc chiến Việt Nam


NHỮNG VỊ TƯỚNG TỰ SÁT

CHUẨN TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ




Sinh ngày 22-8-1933, tỉnh Sơn Tây, học khoá 2 Trường Võ Bị Địa Phương Trung Việt, tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn uý hiện dịch. Trước ngày 30-4-1975, ông nguyên là Tư Lệnh Sư Đoàn 5/BB. Ngay sau lúc nghe được lời kêu gọi buông súng của ông Dương văn Minh, chuẩn tướng Lê nguyên Vỹ đã tự sát trước sân cờ của bản doanh Bộ Tư Lệnh SĐ5/BB ở Lai Khê tỉnh Bình Dương.


THIẾU TƯỚNG PHẠM VĂN PHÚ
 


Sinh năm 1929, tỉnh Hà Đông, học khóa 8 Trường Võ Bị Liên Quân Việt Nam, Đà Lạt, nguyên là Tư Lệnh QĐII/QKII từ tháng 11-1974. Trong cuộc họp ở Cam Ranh ngày 14-3-1975, Tổng Thống VNCH Nguyễn văn Thiệu (1924-2001) lệnh cho tướng Phạm văn Phú rút quân khỏi các tỉnh Kontum, Pleiku về vùng duyên hải QĐ II. Cuộc lui quân nầy diễn tiến như thế nào thì lịch sữ đã cho thấy. Ngày 29-4-1975, tại nhà riêng ở Sàigòn, thiếu tướng Phạn văn Phú đã uống một liều thuốc độc thật mạnh nhưng gia đình phát giác và đưa ông vào bệnh viện cứu chữa. Trưa ngày 30-4-1975, ông tỉnh lại và thều thào hỏi vợ về tình trạng lúc bấy giờ. Sau khi nghe vợ cho biết ông Dương văn Minh đã đầu hàng và Việt Cộng vừa vô dinh Độc Lập. Nghe đến đây, thiếu tướng Phạm văn Phú thở hắt ra. Đó cũng là hơi thở cuối cùng của ông.

 
CHUẨN TƯỚNG TRẦN VĂN HAI



Sinh năm 1929, Cần Thơ, tốt nghiệp khoá 7 Trường Võ Bị Liên Quân, Đà Lạt. Ông nguyên là Tư Lệnh Sư Đoàn 7/BB thuộc QĐIV/ QKIV từ ngày 1-3-1974. Trước đó ông cũng từng đảm trách các chức vụ như Tỉnh Trưởng tỉnh Phú Yên (năm 1965), Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Trung Ương (năm 1967), Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia (năm 1968), Chỉ Huy Trưởng Trung tâm Huấn Luyện Lam Sơn kiêm Chỉ Huy Trưởng Huấn Khu Dục Mỹ (năm 1971), Tư Lệnh Phó QĐII/ QKII và kiêm nhiệm Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Hành Quân Chiến Thuật QĐII/QKII (năm 1972).

Trong ngày 30-4-1975, khoảng 17:00 giờ tại Bộ Tư Lệnh SĐ7/BB ở Mỹ Tho, chuẩn tướng Trần văn hai đã uống thuốc độc ngay trong văn phòng của mình. Vị sĩ quan tuỳ viên sau khi phát giác chủ tướng của mình đã quyên sinh, đã đưa ông qua Tiểu đoàn 7 Quân Y mong cứu được ông, nhưng mọi nổ lực đều quá muộn. Buổi chiều trong ngày, trước khi uống thuốc độc chuẩn tướng Trần văn Hai trao cho vị sĩ quan tuỳ viên số tiền 70.000 đồng nhờ đưa cho người mẹ già của mình. Đây cũng là tháng lương cuối cùng của một người lính suốt đời liêm chính.


CHUẨN TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG



Sinh năm 1933, Hóc Môn, Gia Định, tốt nghệp khoá 5 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, nguyên là Tư Lệnh Phó QĐIV/ QKIV từ ngày 1-11-1974. Ông cũng từng là Tư Lệnh Sư Đoàn 5/BB (ngày 14-6-1971), Tư Lệnh Phó QĐIII/ QKIII Đặc trách Lực Lượng Phản Ứng Cấp Thời (ngày 4-9-1972), Tư Lệnh Sư Đoàn 21/BB (ngày 9-6-1973).

Khoảng 19:30 giờ ngày 30-4-1975, tại tư dinh của mình ở Cần Thơ, Chuẩn Tướng Lê văn Hưng sau khi nói những lời từ biệt với các thuộc cấp, dặn dò khuyên nhủ bạn đời là bà Phạm thị kim Hoàng, ông vào văn phòng riêng và khóa chặt cửa lại mặc dù tiếng khóc than nức nở kêu gào của người vợ. Ông đã dùng súng tự sát vào lúc 20:45 giờ ngày 30-4-1975.

 
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM



Sinh ngày 23-9-1927, Đà Nẳng (chánh quán An Cựu Tây, quận Hương Thủy, tỉnh Thưà Thiên), tốt nghiệp khóa 3 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Đời binh nghiệp của ông đã trải qua những chức vụ như: Tiểu Đoàn Trưởng TĐ5 Nhảy Dù (năm 1965), Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù (năm 1967), Tư Lệnh Sư Đoàn 7/BB (tháng 1-1970) và Tư Lệnh Quân Đoàn IV/ Quân Khu IV (tháng 11-1974) với cấp thiếu tướng.

Ông đã dùng súng tự sát trong tư dinh của mình ở Cần Thơ khoảng 07:30 giờ ngày 1-5-1975.



CHẾT TRONG TÙ CỘNG SẢN VIỆT NAM:
THIẾU TƯỚNG ĐOÀN VĂN QUẢNG



* Sinh năm 1923, xuất thân Thiếu Sinh Quân Việt Nam .
* 1960: Thiếu tá, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Hành Quân/ Đệ Ngũ Quân Khu (đến năm 1962 là QĐ IV vùng 4 chiến thuật)
* 1961: Trung tá, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân/ Đệ ngũ Quân Khu.
* 1962: Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21/BB. Tháng 10-1963, Tư Lệnh Phó SĐ9/BB.
* 7-11-1963: Đại Tá Tư Lệnh SĐ9/BB.
* 1964: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biêt.
* 1966: Chuẩn tướng. 1971: Thiếu tướng.
* 1972: Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.

Sau ngày 30-4-1975, Việt Cộng đưa đi tập trung khổ sai. Thiếu tướng Đoàn văn Quảng chết trong tù Cộng sản ở trại khổ sai Nam Hà (Hà nam Ninh) ngày 6-3-1984.


 
CHUẨN TƯỚNG BÙI VĂN NHU



Sinh ngày 26-12-1920 tại quận Bến Lức tỉnh Long An, bắt đầu phục vụ ngành Cảnh Sát Quốc Gia năm 1939 từ ngạch Thư Ký phiên dịch.

* Từ 1949 đến 1952, Biên Tập Viên Chánh Sở Trung Ương Tình Báo.
* 1952-1958: Quận Trưởng Hạng 4 Thanh Tra Tổng Nha CSQG
* 1958-1960: Quận Trưởng Hạng 3 Giám Đốc TTHL/CS & CA
* 1960- chức vụ Phó Tổng Giám Đốc Tổng Nha CS.
* 1971-1975: Đại tá CSQG, Tư Lệnh Phó Tổng Nha
* 01-2-1975: Chuẩn tướng CSQG, Tư Lệnh Phó Tổng Nha CS.

Sau ngày 30-4-1975, Việt Cộng đưa đi tập trung khổ sai và chết tại trại tù Nam Hà, ngày 15-3-1984.


BĐQ Đỗ Như Quyên
1962: Quận Trưởng Hạng 2 Phụ Tá Khối CS Đặc Biệt Tổng Nha CS
* Đến năm 1966-1971, ông lên đến ngạch Quận Trưởng Thượng Hạng và đảm nhiệm

Kỳ lạ núi đá giữa vịnh Hạ Long bất ngờ phát hỏa

Thứ ba, 25/04/2017, 11:54 AM


(VTC News) - Vào cuối giờ chiều 24/4, một núi đá tại khu vực Ba Hang trên vịnh Hạ Long, phường Hùng Thắng (TP Hạ Long, Quảng Ninh) bất ngờ bốc cháy.
Vụ cháy được người dân đi biển ghi lại và đăng tải lên mạng xã hội Facebook, thu hút sự chú ý của cư dân mạng.
Hinh anh
Núi đá giữa vịnh Hạ Long bất ngờ phát hỏa. (Ảnh: Facebook) 
Theo phản ánh của người dân đi biển ghi lại clip, ngọn lửa xuất phát từ dưới chân núi, sau đó cháy lan lên lớp thực bì đỉnh núi. 
Không hề có dấu hiệu bị đốt phá vì đây là núi đá không có đường vào, cũng không có chỗ cho tàu neo đậu. Rất có thể đây chỉ là một hiện tượng bình thường của tự nhiên.
Video: Núi đã giữa vịnh Hạ Long phát hỏa (Nguồn: Facebook)
 
Đại diện cơ quan cảnh sát phòng cháy chữa cháy tỉnh Quảng Ninh cũng đã xác nhận về hiện tượng núi đá trên vịnh Hạ Long bốc cháy vào khoảng thời gian chiều 24/4.
Hinh anh  3
Lực lược chức năng sử dụng vòi rồng dập lửa nhưng do ngọn núi cao trên 100m nên việc dập lửa không có hiệu quả. 
Khi nhận được thông tin vụ cháy trên Vịnh, cơ quan phòng cháy chữa cháy đã điều tàu chữa cháy đến ngay hiện trường. Do lửa khởi phát từ phía chân núi đá, bén lan lên ngọn với độ cao trên trăm mét trong khi vòi chữa cháy chỉ phun tối đa vài chục mét nên không thể dập được lửa.
Hinh anh  4
 Đám cháy sau đó đã tự tắt khi cháy hết lớp thực bì trên ngọn núi. (Ảnh: Facebook)
Sau khi cháy hết lớp thực bì, đến chiều muộn cùng ngày, lửa đã tự tắt.
Hiện, cơ quan chức năng đang điều tra xác định nguyên nhân vụ cháy.
Khải Phong - Minh Khang

Những dấu hỏi về xác chiếc tàu chiến dưới sông Lô

07:07 23/04/2017

Ngược lên Tuyên Quang để tìm lại dấu tích chiếc tàu chiến Pháp bị quân dân ta bắn chìm trong Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, chúng tôi hết sức ngỡ ngàng khi biết vật chứng lịch sử này đã… biến mất.


Ngược dòng lịch sử, vào ngày 10-11-1947, tại khu vực Khe Lau (còn gọi là hòn Lau, xã Phúc Ninh, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang); trung đội pháo binh của ta đánh chặn đoàn 5 chiếc tàu chiến Pháp đang từ Đầm Hồng, Bản Ty rút về. Khi pháo ta nổ, một trong những tàu chiến của địch bị trúng đạn bốc cháy ngùn ngụt rồi chìm.
Chiến thắng Khe Lau được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá là một trong mười chiến thắng lớn của quân dân ta trong chiến dịch Việt-Bắc Thu Đông năm 1947, góp phần làm phá sản âm mưu “đánh nhanh-thắng nhanh” của thực dân Pháp, bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não kháng chiến.
Dong thuyền tới Khe Lau, nước mùa này thấp. Hai bên bờ sông in đậm dáng vẻ của sự đổi thay nhưng âm hưởng tiếng pháo hào hùng khi xưa vẫn như đang dội về trong mịt mùng khói lửa. Tới đoạn sông mà trước giờ mọi người nói là nơi “tàu ngự” chỉ thấy mênh mông mặt nước.
Con tàu chở hàng nằm trong khung sắt tại khu vực hồ của Công viên cây xanh thành phố Tuyên Quang.
Xuôi dòng Lô giang, ghé một vài thuyền chài để hỏi về con tàu; người thì chắc nịch rằng nhiều năm trước tàu nằm khu vực này, mùa cạn đi qua còn thấy phần ống khói tàu nhô lên trên mặt nước. Người thì lắc đầu nói đó chỉ là chuyện nghe kể lại vì chẳng ai biết cụ thể nó nằm ở đâu. Thuyền cập bờ, lớp sỏi lạo xạo dưới chân càng khiến sự thất vọng tăng lên.
Tình cờ trao đổi với chị Nguyễn Thị Sáng (xóm Hồng Thái, xã Thắng Quân), thì được nghe kể: “Tôi ở bên này con sông Lô, tàu chìm ở phần sông phía bên xã Phúc Ninh đối diện. Trở lại đây thì không thấy con tàu đâu nữa chứ về trước khi mùa nước cạn thì nhìn rõ lắm vì nửa thân tàu nổi cả lên”. Một người dân nhìn thấy vẻ mặt “ỉu xìu” của tôi thì lên tiếng: “Trước cũng thấy nói là có vài đơn vị tiến hành trục vớt tàu chiến ở đây, nếu cậu muốn tìm hiểu thì đi hỏi các cơ quan ấy, biết đâu lại ra”.
Tôi nhờ một vài sự giới thiệu thì được hay thông tin, vào năm 2010, với mục đích bảo tồn hiện vật lịch sử UBND tỉnh Tuyên Quang có ý kiến về việc trục vớt tàu Pháp chìm trên sông Lô thuộc khu vực Khe Lau, xã Phúc Ninh, huyện Yên Sơn.
Tuy nhiên, với lý do kinh phí lớn và chưa có địa điểm để trưng bày hiện vật nên tạm thời chưa tiến hành. Trước và trong thời gian đợi đáp ứng đủ các điều kiện để trục vớt đã có phản ánh về hiện tượng con tàu bị đánh cắp nhiều bộ phận nên UBND tỉnh Tuyên Quang đã giao cho các đơn vị chức năng, cơ quan liên quan có trách nhiệm bảo vệ xác tàu.
Tới cuối tháng 11-2010, các đơn vị chức năng địa phương sau khi kiểm tra thực tế xác nhận xác tàu nằm dưới lòng sông, trong khu vực hiểm trở; tình trạng cát sỏi vùi lấp hoàn toàn, không có dấu hiệu bị đào bới, tháo dỡ trái phép.
Đến ngày 19-9-2011, chủ trương đầu tư trục vớt xác tàu chiến của Pháp do quân và dân ta bắn chìm trên sông Lô, thuộc địa phận xã Phúc Ninh được UBND tỉnh Tuyên Quang phê duyệt; giao cho Sở Xây dựng làm chủ đầu tư. Nội dung của Quyết định là khảo sát thăm dò xác định vị trí, trục vớt, vận chuyển, tu bổ và phục chế tàu làm hiện vật lịch sử trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang.
Nhưng khi mọi thủ tục đã sẵn sàng thì con tàu mang nhiều ý nghĩa lịch sử đã…"không cánh mà bay". Sự thật như đùa này đã khiến nhiều người rất bất ngờ và một "chiến dịch" khi ấy với rất nhiều cuộc tìm kiếm diễn ra trên diện rộng toàn bộ khu vực Khe Lau. Tất cả những thứ tìm được chỉ là tấm chắn pháo, thùng phuy chứa dầu và một số viên đạn (những hiện vật này đang được giữ tại Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang).
Trao đổi qua điện thoại với Quyền Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, ông Nguyễn Vũ Phan cho biết: “Để trả lời về vấn đề này cần thời gian để tổng hợp thông tin”.
Vậy thực sự có một chiếc tàu chiến cổ nằm tại Khe Lau hay không? Nếu có, thì tại sao lại biến mất ngay trước thời điểm trục vớt chứ không phải trong suốt nhiều năm dài đã qua; các đơn vị có trách nhiệm trông coi, bảo vệ đã ở đâu khi sự biến mất kỳ lạ này xảy ra. Nếu câu trả lời là không hề có con tàu nào thì những hoạt động liên quan đợt kiểm tra thực tế, các văn bản xác nhận, báo cáo và cả những hợp đồng trông coi chiếc tàu là thế nào?
Trong lúc cuộc dò tìm tung tích chiếc tàu đã nhắc ở phía trên chưa có kết quả thì một con tàu khác được phát hiện ra và đã tiến hành trục vớt. Về sau này là con tàu chở hàng của Pháp, được trục vớt thành công từ đầu năm 2014 và đưa về tạm lưu giữ tại khu vực hồ của Công viên cây xanh thành phố Tuyên quang (khuôn viên Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang). Trở về từ lòng sông nhưng đến hiện tại, số phận của con tàu này cũng không khá hơn khi vẫn phải chịu “ngược đãi” của sương gió.
Chiếc tàu phát hiện năm 2012, cách bờ sông Lô khoảng 15m, thuộc địa phận thôn Phúc Lộc, xã An Khang, thành phố Tuyên Quang. Theo Hội đồng giám định cổ vật (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), chiếc tàu cổ chìm trên sông Lô là tàu chở hàng chạy bằng hơi nước, có thể liên quan đến giai đoạn kháng chiến chống Pháp tại Tuyên Quang hoặc là tàu trong công cuộc khai thác thuộc địa bị đắm.
Tàu thuộc niên đại cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; chiều dài 41m, rộng 8,8m, cao 2m. Hình dáng tàu còn khá nguyên vẹn không bị biến dạng, có thể phục chế làm hiện vật lịch sử. Cấu tạo bằng gỗ, các mép nối phía ngoài bọc và ghép bằng đồng. Thu được bên trong tàu là 477 hiện vật; đáng chú ý có những chiếc đèn dầu hỏa bằng đồng, đồng hồ nước bằng sắt…
Theo người dân quanh khu vực giữ chiếc tàu cho biết, sau khi chuyển về hồ cây xanh một thời gian, tàu bỗng biến mất. Sau mới hay là chiếc tàu này “đen đủi” bị…chìm lần 2 ngay tại địa điểm neo; nguyên nhân tại sao không ai biết.
Suốt quãng thời gian dài người ta cho nó “yên phận” dưới nước hồ. Bẵng đi cho tới khi địa phương tiến hành rút cạn nước để cải tạo hồ thì con tàu mới một lần nữa lộ ra. Đi xuống dưới hồ nước cạn tới đáy, phóng viên ghi nhận chiếc tàu đã… rụng rời nhiều bộ phận bên trong phần khung sắt hoen rỉ.
Chiếc tàu này được nhận định thuộc loại tàu rất hiếm ở Việt Nam và trên thế giới, có giá trị trong nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, giao thương. Mang ý nghĩa như vậy nên sau khoảng 2 tháng trục vớt, tàu được chuyển về hồ công viên cây xanh cạnh Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang, giữ trong khung sắt, neo nổi tạm thời để chờ trưng bày và bảo quản lâu dài.
Kế hoạch là vậy nhưng trong thực tế con tàu vẫn “lặng im” ở đó năm này qua năm khác.
Theo lời Quyền Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, ông Phan cho biết, với chiếc tàu này hiện tại chỉ có phương án duy nhất là cho chìm dưới nước hồ như thời gian qua để bảo quản bởi vấn đề thiếu kinh phí.
Trung Hiếu

Chậm ban hành kết luận thanh tra TKV do còn nhiều ý kiến

13:46 24/04/2017

Sáng nay (24-4), tại buổi họp báo công tác thanh tra Quý 1-2017, Thanh tra Chính phủ cho biết, 3 tháng đầu năm nay, toàn ngành đã tiến hành 1.885 cuộc thanh tra hành chính và 36.580 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành.



Qua thanh tra, đã phát hiện vi phạm về kinh tế 41.821 tỷ đồng và 168 ha đất, trong đó đã kiến nghị thu hồi 8.773 tỷ đồng và 80 ha đất; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính đối với 259 tập thể, cá nhân; ban hành 26.331 quyết định xử phạt hành chính với tổng số tiền lên tới gần 7.000 tỷ đồng, chuyển cơ quan điều tra xử lý 21 vụ việc với 47 đối tượng.
Về công tác phòng, chống tham nhũng, qua kiểm tra nội bộ đã phát hiện 1 vụ, 3 đối tượng có hành vi tham nhũng (tại Sóc Trăng); qua hoạt động thanh tra đã phát hiện 3 vụ, 4 đối tượng tham nhũng và liên quan đến tham nhũng (tại An Giang 1 vụ, 3 đối tượng, Hà Giang 1 vụ, 1 đối tượng; Sóc Trăng 1 vụ).
Tại buổi họp báo, các phóng viên báo chí cũng đã đặt câu hỏi về những kết luận thanh tra đối với các tập đoàn, tổng công ty lớn như: Tổng công ty Cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC), Mobifone, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV).
Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh tại buổi họp báo
Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh thừa nhận, cuộc thanh tra Mobifone đã kết thúc thanh tra trực tiếp theo đúng quy định, từ lúc kết thúc đến nay thời gian tương đối dài nhưng chưa ban hành kết luận thanh tra. Lý do là do có những nội dung phải làm việc nhiều lần, thậm chí quay trở lại làm việc với các đối tượng được thanh tra để đảm bảo kết luận chính xác, khách quan.
“Riêng cuộc thanh tra PVC, cùng một lúc Thanh tra Chính phủ có đoàn thanh tra và bên Bộ Công an cũng tiến hành điều tra những sai phạm tại đây. Chúng tôi kết hợp chặt chẽ với nhau, đến nay đã kết thúc và đang trong quá trình hoàn thiện dự thảo báo cáo thanh tra” – ông Khánh cho biết.
Đối với cuộc thanh tra đối với TKV, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ cho rằng, thời hạn kết thúc đã lâu nhưng chưa ban hành kết luận là do có sự chậm trễ. Có rất nhiều việc cần làm ngay trong quá trình tiến hành thanh tra dù chưa có kết luận, đó là làm việc với cơ quan chức năng đối với những vụ việc có dấu hiệu hình sự.
“Đối với dự thảo kết luận thanh tra TKV chúng tôi đã làm việc với các cơ quan chức năng có liên quan như Bộ Công thương, Bộ Tài chính… về những nội dung rất lớn, nhưng hiện có nhiều ý kiến khác nhau. Đó là câu chuyện về cách tính khối lượng bóc đất đá khi khai thác, là tỷ lệ cấu thành rất lớn trong chi phí, đến mấy nghìn tỷ, cho nên không thể kết luận ngay mà phải lật đi lật lại...
Thứ hai là câu chuyện về thuế tài nguyên. Còn nhiều quan niệm khác nhau về đối tượng trực tiếp nộp thuế tài nguyên, do đó chúng tôi phải làm việc với các cơ quan chức năng để củng cố lại, vấn đề này cũng mấy nghìn tỷ…” – ông lý giải.
Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh khẳng định, sau khi nhận thấy có nhiều ý kiến khác nhau, Thanh tra Chính phủ đã thành lập một bộ phận thẩm định riêng, chủ yếu tập trung các vấn đề này. Và trong tuần này ông sẽ làm việc với tổ thẩm định.
“Thực chất cuộc thanh tra này không có gì quá phức tạp ngoài những ý kiến còn khác nhau, liên quan chi phí lớn của ngành than” – ông thông tin thêm.
Quỳnh Vinh

Hollywood đề cao sự thật về chiến tranh Việt Nam

Thứ 3, 08:05, 25/04/2017

VOV.VN - Những ghi nhận bằng các giải thưởng danh tiếng đã trở thành động lực để ngày càng có thêm nhiều nhà làm phim Mỹ tìm đến đề tài chiến tranh Việt Nam.
Chiến tranh Việt Nam cho đến nay vẫn luôn là vấn đề “nóng”, nhiều ám ảnh của lịch sử đương đại Mỹ. Mỗi khi gần đến ngày 30/4 hàng năm (kể từ 1975 đến nay), các kênh truyền hình Mỹ lại phát sóng nhắc lại đề tài này bằng hàng loạt phim tư liệu, tài liệu đến phim truyện.
Đặc biệt là những bộ phim tài liệu của Hollywood trong những năm chiến tranh mang nội dung phản ánh trung thực, khách quan cuộc chiến tranh Việt Nam, không theo những gì c hính phủ Mỹ tuyên truyền vào lúc đó. Trong đó có cả những phim đã "giải mật" được các hình ảnh dối trá, sắp đặt, cho thấy những "xảo thuật" thông tin từng đánh lừa cả nước Mỹ và công luận thế giới về cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam.
Một số bộ phim tài liệu phản ánh một cách trung thực, có cái nhìn khách quan cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm cho người dân nước Mỹ biết về “sự lừa dối hào nhoáng” của chính phủ Mỹ. Lúc đó những phim này được gán là những bộ phim “phản chiến”.
hollywood de cao su that ve chien tranh viet nam hinh 1
Poster phim “Heart and Mind - Trái tim và khối óc (1973)” của đạo diễn Peter Davis.
Thập niên những năm 1960, phong trào phản chiến của lính Mỹ tham gia cuộc chiến ở Việt Nam đã dấy lên một cách mạnh mẽ không chỉ ở tại chiến trường miền Nam Việt Nam mà còn ngay trong lòng nước Mỹ.
Rồi thông tin của các hãng truyền thông lớn trên thế giới từ AP, AFP, UPI, Reuters, Life… luôn đưa những hình ảnh cuộc chiến tranh Việt Nam mà nạn nhân là thường dân vô tội, là sự hủy diệt sự sống, là những hành động man rợ của lính Mỹ ở chiến trường…
Những điều ấy đã thôi thúc các nhà làm phim độc lập của Hollywood tìm hiểu sự thật, không theo những gì mà Nhà Trắng và Lầu Năm Góc tuyên truyền cho người dân Mỹ về một nguy cơ đe dọa nước Mỹ không có thật.
"Trả lại sự thật" cho chiến tranh Việt Nam
Kể từ khi Mỹ tham chiến ở Việt Nam, bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Chính phủ Mỹ đã ra sức “bơm” vào đầu người dân Mỹ những nguy cơ đe dọa an ninh nước Mỹ bởi Việt Cộng. Để cho người dân Mỹ tin vào những thông tin đó, chính phủ Mỹ đã nhào nặn, bóp méo sự thật cuộc chiến ở Việt Nam.
Không thể quay lưng với những sự thật kinh hoàng, những tội ác của quân đội Mỹ và sự có mặt một cách vô lý của Mỹ ở Việt Nam, hàng loạt các cuộc phản chiến của binh lính Mỹ ở Việt Nam và ngay ở nước Mỹ đã làm xáo trộn cả xã hội Mỹ, gây nhiều thắc mắc của người dân Mỹ và cả những người dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới về cuộc chiến này.
Những điều đó gợi ý cho các nhà làm phim Hollywood nhận ra ngay mình đã bị lừa dối bởi những “xảo thuật” thông tin thiếu chân thực của bộ phận quan hệ công chúng quân đội Mỹ cung cấp vì mục đích chính trị. Ngay từ cuối thập niên 1960, một số nhà làm phim độc lập Hollywood, với quan điểm tiến bộ, đã tự đi thu thập hình ảnh ngay tại chiến trường Việt Nam.
hollywood de cao su that ve chien tranh viet nam hinh 2
Phim tài liệu “In the year of the Pig - Năm Hợi" của đạo diễn Emile de Antonio ra mắt năm 1969.
Và sau đó, đã có hàng chục bộ phim “phản ánh sự thật”, “trả lại sự thật” về chiến tranh Việt Nam ra đời. Trong những phim này, các nhà làm phim độc lập đã cố gắng đi tìm câu trả lời: Sự có mặt của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là đúng hay sai!?
Mở đầu cho loạt phim “phản chiến” này là phim tài liệu “In the year of the Pig - Năm Hợi" của đạo diễn Emile de Antonio ra mắt năm 1969. Với những cuộc phỏng vấn các nhà báo, chính khách, quan chức và cựu chiến binh cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Antonio đã vạch trần sự thật mà trước đó chưa bộ phim nào dám động đến, rằng: Chính sách can thiệp của Mỹ là âm mưu đã được hoạch định trước và thất bại quân sự là kết quả không thể tránh khỏi của một chính sách như vậy.
Đặc biệt là dù bộ phim hoàn thành năm 1968, khi Hội nghị Paris chưa được diễn ra vào năm 1969, và trước rất lâu khi Chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào năm 1975, nhưng nó đã nói về sự thất bại của người Mỹ như là kết quả không thể tránh khỏi của một chính sách can thiệp đầy mưu mô xảo trá và phi lý!
Cũng chính thời điểm bộ phim hoàn thành, là khi sự kiện Tết Mậu Thân 1968 ở Việt Nam đã làm cả nước Mỹ sửng sốt, rúng động, bàng hoàng. Lần đầu tiên nước Mỹ biết về một cuộc chiến tranh đẫm máu mà con em họ đã bị hy sinh một cách nhục nhã bởi tội danh: Những kẻ xâm lược.
Ngay khi mới xuất hiện, bộ phim “Năm Hợi” đã gây ra tranh luận dữ dội. Ở Mỹ, một số rạp chiếu phim này bị khán giả phá hoại, rạp chiếu ở Houston còn bị đe dọa đánh bom. Ở Pháp, sau một thời gian chiếu phim và thu hút được khá nhiều lượt khán giả, các rạp phim bị tấn công bằng “bom” chất bẩn. Không ai ngờ rằng, Hollywood dám dũng cảm đề cao những thước phim dám nhìn thẳng vào sự thật như vậy.
Năm 1970, “Năm Hợi” nằm trong danh sách đề cử giải Oscar cho Phim tài liệu hay nhất.
Chiến tranh Việt Nam là “sự lừa dối hào nhoáng” của chính phủ Mỹ
Lần lượt các phim tài liệu được công chiếu càng minh chứng thêm “sự lừa dối hào nhoáng” của Chính phủ Mỹ về cuộc chiến ở Việt Nam như: “Interview My Lai Veterans - Phỏng vấn các cựu chiến binh Mỹ Lai (1970)” của đạo diễn Joseph Shick, đã đưa ra điềm báo trước thất bại của quân đội Mỹ qua thái độ hống hách, hợm hĩnh của trung úy Calley và đồng đội.
“Accused in basic training course - Khóa huấn luyện căn bản (1971)” của nhà làm phim Frederic Wiseman, phản ánh những tên lính biến thành tội phạm chiến tranh tàn ác sau khi trải qua khóa huấn luyện mất nhân tính.
“Heart and Mind - Trái tim và khối óc (1973)” của đạo diễn Peter Davis, đã cố tìm hiểu và lý giải xem làm thế nào các đặc trưng văn hóa Mỹ lại có thể chấp nhận đẩy chiến tranh Việt Nam đến tội ác chống nhân loại. Qua đó vạch trần những ngụy biện lừa dối được chính phủ Mỹ dùng làm bình phong che đậy ý nghĩa sâu xa của hành động.
Hollywood đã chứng minh cho hành động “phản chiến” của mình bằng cách đã không do dự trao cho phim “Trái tim và khối óc” giải Oscar phim tài liệu hay nhất năm 1974.
Đáng chú ý nhất là phim “Winter soldier - Lính mùa đông" ra mắt năm 1972. So với toàn bộ các phim tài liệu nói về chiến tranh Việt Nam, đây là bộ phim có tác động công luận mạnh mẽ nhất. thái độ phản chiến được thể hiện rõ nét.
hollywood de cao su that ve chien tranh viet nam hinh 3
Phim “Winter soldier - Lính mùa đông" ra mắt năm 1972.
Phim kể về các cựu chiến binh trẻ tuổi (từ 20-27 tuổi) sau khi từ cuộc chiến Việt Nam về nước, họ đã nhận ra vừa tham gia tàn sát những người vô tội, họ lên tiếng phản biện chống lại sự dối trá của các phương tiện truyền thông đại chúng.
125 người trong số họ đã tập hợp tại Detroit (Mỹ) tháng 2/1971 để các nhà làm phim độc lập khai thác sự thật, trong khi các phương tiện thông tin chính thống của chính phủ Mỹ thì ra sức bào chữa và phủ nhận.
Trong phim này, chính các cựu chiến binh Mỹ đã thừa nhận hành vi man rợ mà họ từng làm ở Việt Nam nhân danh "văn minh phương Tây" và kể lại quá trình "tẩy não" trong trường huấn luyện, nơi họ được dạy dỗ phải bóp chết đạo đức và buông thả bản năng xâm lược.
Những lời sám hối này đã được một nhóm nhà làm phim độc lập thu hình lại và biên tập thành một bộ phim dài 95 phút. Bộ phim dù sau đó được chiếu ở LHP Berlin và Cannes, được đón nhận nồng nhiệt ở châu Âu, nhưng vẫn bị các kênh truyền hình lớn tại Mỹ từ chối phát sóng.
Tại Mỹ, phim bị nhận xét là “gây nhiều tranh cãi” do trình chiếu trong thời điểm nhạy cảm khi cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam đang diễn ra ác liệt. Nhưng Hollywood vẫn dũng cảm trao giải Oscar phim tài liệu hay nhất năm 1973.
Sự thật có phép lạ nhiệm màu: Sự thật giải thoát, sự thật hàn gắn và sự thật hòa giải, đó là thông điệp sâu sắc mà các nhà làm phim độc lập chân chính của Mỹ muốn hướng đến. Họ tin tưởng rằng chỉ những thước phim trung thực và nghiêm túc của mình mới có đủ sức mạnh hướng khán giả, đến với thiện chí xoa dịu vết thương chiến tranh và khép lại một thời kỳ đã qua, mở sang những trang sử mới. (Le Monde Diplomatique)
Những ghi nhận bằng các giải thưởng danh giá của Hollywood đã khuyến khích và trở thành động lực để ngày càng có thêm nhiều nhà làm phim Mỹ tìm đến đề tài chiến tranh Việt Nam theo hướng tôn trọng sự thật, đưa ra ánh sáng những sự thật như thông điệp về chiến tranh, để mọi người trân trọng và giữ gìn những khoảnh khắc hòa bình, khi thế giới vẫn luôn bị đe dọa hàng ngày bởi nhiều cuộc chiến khác nhau đang, sắp xảy ra./.
CTV Hoài Hương/VOV.VN