Làm thế nào để xẻ, vận chuyển những khối đá nặng 3.000 tấn lên ngọn núi và xếp chồng lên cao 40m với độ chính xác hoàn hảo, nếu người tiền sử không có công nghệ tiên tiến? (Ảnh chụp màn hình Youtube / Kosmos News)
Các nhà nghiên cứu đang tự hỏi về nguồn gốc của những khối đá khủng. Một số khối là đá xẻ có trọng lượng gấp đôi khối cự thạch ở Baalbek, hiện đang nắm giữ kỷ lục về trọng lượng.
Làm thế nào để xẻ, vận chuyển những khối đá nặng 3.000 tấn lên ngọn núi và xếp chồng lên cao 40m với độ chính xác hoàn hảo, nếu người tiền sử không có công nghệ tiên tiến? (Ảnh chụp màn hình Youtube / Kosmos News)
Những khối cự thạch lớn này được phát hiện ở Kemerovo, Siberia. Các nhà nghiên cứu đánh giá một số khối nặng đến 3.000 tấn và có niên đại 100.000 năm. Các khối đá này có các mặt hình chữ nhật phẳng phiu, được xếp chồng lên nhau cao đến 40 m, với độ chính xác tuyệt vời. Không có khối cự thạch nào như thế này được phát hiện cho đến nay.
Những tảng cự thạch này được xẻ từ đá granite, một vật liệu đặc biệt cứng và khó xẻ. (Ảnh chụp màn hình youtube/ Cosmos News)
Những tảng cự thạch này được xẻ từ đá granite, một vật liệu đặc biệt cứng và khó xẻ. Chúng được sắp xếp rất chính xác, khối nọ xếp lên khối kia lên cao tới độ cao 40m (Ảnh chụp màn hình youtube/ Cosmos News)Các khối cự thạch có các góc cạnh vuông vắn với bề mặt được cắt xẻ mài nhẵn. Chúng được sắp xếp rất chính xác, khối nọ xếp lên khối kia lên cao tới độ cao 40mCác khối cự thạch có các góc cạnh vuông vắn với bề mặt được cắt xẻ mài nhẵn. Chúng được sắp xếp rất chính xác, khối nọ xếp lên khối kia lên cao tới độ cao 40m
Các khối cự thạch có các góc cạnh vuông vắn với bề mặt được cắt xẻ mài nhẵn. Chúng được sắp xếp rất chính xác, khối nọ xếp lên khối kia lên cao tới độ cao 40m
Trước đây, những khối cự thạch được coi là lớn nhất thế giới được tìm thấy ở Baalbek, Li Băng, chúng chỉ nặng 1.500 tấn. Còn các khối cự thạch được phát hiện ở Kemerovo vào năm 2014 thì nặng gấp đôi.
Các khối cự thạch được sắp xếp rất chính xác, khối nọ xếp lên khối kia lên cao tới độ cao 40m
Các khối đá này được xẻ từ đá granit, một loại vật liệu rất cứng và rất khó gia công. Hơn nữa, chúng lại được xếp chồng lên nhau trên đỉnh một quả núi, như vậy chúng phải được vận chuyển đến đây, theo một báo cáo của Cosmos News.
Làm thế nào có thể xẻ thành những khối đá nặng 3.000 tấn, rồi vận chuyển lên một ngọn núi và xếp chồng lên nhau cao đến 40m với độ chính xác hoàn hảo, khi không có công nghệ hiện đại?
Lịch sử hành tinh chúng ta có thể khác với những gì chúng ta đã biết? Nhiều công trình cự thạch được phát hiện trên khắp thế giới cho thấy người cổ đại không có khả năng để thực hiện các kỹ thuật tiên tiến như vậy.
Ngoài khả năng đoán biết đã tồn tại các nền văn minh với công nghệ tiên tiến, một giả thuyết sẽ là những công trình cự thạch lớn đã được tạo ra bởi một chủng tộc người đặc biệt lớn- những người khổng lồ, được nói nhiều trong các truyền thuyết và câu chuyện thần thoại.
Vậy là, liên tục có những khám phá mới về điều kỳ diệu tưởng chừng như không có. Những khám phá mới của con người dường như liên tục mở ra những chân trời quá khứ mà trước đây người ta vốn không nghĩ tới, không tin. Dành một chút suy ngẫm để tự thấy mình nhỏ bé thế nào trước vũ trụ mênh mông và bao la, năng lực và kiến thức của con người vẫn qúa ư nhỏ bé hữu hạn. Hãy tôn trọng thiên nhiên đất trời. Chúng ta vốn là ai và có thể thực sự làm được điều gì, trên thực tế vẫn mãi là một ẩn số lớn của nhân loại.
Xuân Hà (biên dịch theo Epoch Times France)
Bí ẩn của sự sống, càng nghiên cứu các nhà khoa học càng tin chắc rằng :”Thượng Đế có tồn tại”
“Sự phát triển của khoa học từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai gây ấn tượng mạnh, khiến nhân loại nghĩ rằng khoa học có một khả năng vô tận trong việc nhận thức thế giới và giải quyết các vấn đề của nhân loại. Sự thực không phải như vậy: khoa học có những giới hạn và những giới hạn đó là từ bản chất bên trong của nó… Càng đi sâu nghiên cứu, nhiều nhà khoa học càng đi đến kết luận không thể tránh được: Thượng đế có tồn tại”.
Đó là Lời Giới thiệu cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC của nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới, do NXB Khoa học & Kỹ thuật Hà-nội xuất bản năm 2004.
Tôi có cuốn sách này ngay từ khi nó vừa ra mắt. Nhưng vì nhiều lý do, tôi đã bỏ quên nó trong một góc khuất của tủ sách hơn 12 năm nay. Gần đây tình cờ “phát hiện” ra, tôi giật mình nhận ra đây là một cuốn sách triết học khoa học vô cùng quý giá. Không hề cường điệu, tôi muốn nói rằng nếu không nắm được những tư tưởng trong cuốn sách này, cách nhìn về thế giới của chúng ta sẽ bị khiếm khuyết đáng kể, bởi chính khoa học hiện đại đã phát triển tới chỗ cho thấy thế giới quan thuần túy duy vật đã trở thành bất lực trước hàng loạt hiện thực diễn ra trước mắt khoa học.
Gấp cuốn sách lại, tôi có cảm giác ân hận vì đọc nó quá muộn. Nhưng “muộn còn hơn không bao giờ”, tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này đến đông đảo bạn đọc, với hai thông điệp chủ yếu mà cuốn sách muốn gửi tới nhân loại thế kỷ 21:
Khoa học có giới hạn, và giới hạn đó là hệ quả tất yếu của nhận thức logic dựa trên nền tảng duy vật chủ nghĩa.
Vì khoa học bị giới hạn, cần phải có một sự thay đổi mang tính cách mạng về thế giới quan để chắp cánh cho sự nhận thức vượt khỏi tầng hiện thực vật chất chật hẹp, vươn tới những tầng hiện thực bên ngoài khoa học ─ tầng hiện thực phi vật chất và tâm linh.
Hai thông điệp đó được chuyển tải thông qua những bài báo hoặc những cuốn sách nhỏ sau đây:
Bài báo“Những điều giả định trước và những giới hạn của khoa học” của Peter Hodgson, Trưởng nhóm vật lý lý thuyết của Viện Vật lý Hạt nhân ở Oxford, tác giả cuốn “Nuclear Reactions and Nuclear Structure” (Phản ứng hạt nhân và Cấu trúc hạt nhân), do NXB Clarendon Press xuất bản tại Oxford, 1971.
Bài báo“Các giới hạn của khoa học” của Peter Medawar, nhà sinh học Anh, đoạt Giải Nobel về sinh lý học và y học năm 1960, từng là chủ tịch Hội nghị quốc tế ở Viện Wistar, Philadelphia, 1966, một hội nghị lớn thảo luận về Học thuyết Tân-Darwin, đã đi tới kết luận học thuyết này không thể bảo vệ được về mặt toán học.
Cuốn sách “Thượng đế và khoa học” của các tác giả: Jean Guitton, viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp, một trong những nhà triết học xuất sắc nhất cuối thế kỷ 20, người thừa kế cuối cùng của nhà triết học lớn Henri Bergson, và hai anh em Grichka Bogdanov và Igor Bogdanov, cả hai đều là tiến sĩ vật lý thiên văn và vật lý lý thuyết.
Bài báo “Thượng đế và Big Bang” của Dominique Lambert, giáo sư Đại học Notre-Dame de la Paix ở Namur.
Một trong các dịch giả đồng thời là người biên tập chính: GS Đặng Mộng Lân, một nhà vật lý uy tín của Việt Nam, tác giả cuốn “Bẩy hằng số vũ trụ”, một cuốn sách “bán chạy” cách đây khoảng 30 năm.
Tất cả các tác giả nói trên, bằng ngôn ngữ riêng của mình, thông qua lĩnh vực hoạt động cụ thể của mình, đều khẳng định rằng khoa học bị giới hạn, nó không trả lời được rất nhiều câu hỏi do chính khoa học đặt ra hoặc do thực tiễn thách thức. Đó là điều mọi người cần biết, không chỉ để học lấy sự khiêm tốn, mà quan trọng hơn, để suy nghĩ về việc làm thế nào mở rộng sự nhận thức lên những tầng cao hơn khoa học, rộng hơn khoa học.
GIỚI HẠN CỦA KHOA HỌC VÀ KHOA HỌC VỀ GIỚI HẠN
Nếu bạn có cuốn sách này trong tay, hãy đọc ngay lời giới thiệu trên trang bìa cuối:
“Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học có thể gây ấn tượng là khoa học có một khả năng vô tận trong việc nhận thức thế giới và giải quyết các vấn đề của nhân loại. Nhưng sự thực không phải như vậy: khoa học có những giới hạn từ bản chất bên trong của nó. BÊN NGOÀI KHOA HỌC được tập hợp từ nhiều bài viết của các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới, những người đã được Giải thưởng Nobel về các ngành khoa học. Họ là những nguồi đi tìm câu trả lời cho các vấn đề: ‘Đâu là giới hạn của khoa học? Đâu là cầu nối giữa khoa học và tôn giáo? Thượng đế có tồn tại hay không?’. Cuốn sách này chắc chắn sẽ mang lại hứng thú cho đông đảo bạn đọc, những người muốn tìm hiểu về khoa học cũng như các vấn đề ở bên ngoài khoa học”.
Peter Hodgson cũng nhấn mạnh điều tương tự ngay từ lời mở đầu bài báo của ông :
“Các thành tựu của khoa học và công nghệ thật ấn tượng và có ảnh hưởng khiến người ta có xu hướng nghĩ rằng mọi vấn đề đều có thể giải quyết bằng phương pháp khoa học, và bất kỳ vấn đề gì mà không thể giải quyết được như vậy thì đều là những vấn đề giả, vô nghĩa. Một sự tin tưởng ngây thơ như vậy vào sức mạnh toàn năng của khoa học ngày nay đã ít được để ý, vì rõ ràng xã hội đang phải đương đầu với hàng loạt vấn đề nan giải không thể giải quyết được chỉ bằng các phương pháp khoa học, và cũng có những vấn đề thực sự về con người mà chúng mãi mãi vượt ra ngoài khả năng tìm kiếm của khoa học”. (trang 7)
Đọc đến đó, một đầu óc lành mạnh sẽ lập tức bật ra câu hỏi: “Vấn đề thực sự nào về con người có thể mãi mãi vượt ra ngoài khả năng của khoa học?”.
Theo Peter Hodgson, đó là khả năng tồn tại của thế giới tâm linh ─ một thế giới phi vật chất không thể kiểm chứng bằng giác quan và công cụ vật lý nhưng có nhiều dấu hiệu khách quan cho thấy nó tồn tại.
Thật vậy, Peter Hodgson đã dẫn một câu chuyện của Alexis Carrel, một nhà sinh lý học người Pháp từng đoạt Giải Nobel 1912 về sinh lý học và y học năm 1912. Trong một cuốn sách của mình, Alexis Carrel đã kể lại một câu chuyện dị thường mà chính ông đã theo dõi: cô Marie Bailly, một bệnh nhân bị lao phúc mạc sắp chết, đã hành hương tới Lourdes để cầu xin Đức Mẹ chữa bệnh cho cô. Kết quả cô đã tự nhiên khỏi bệnh. Carrel chính là người theo dõi bệnh tình của cô và ông đã kể lại tường tận sự việc. Ông xác nhận đây là một phép lạ mà ông chứng kiến.
Mọi người Công giáo đều biết Lourdes (Lộ Đức), một thị trấn nằm ở phía tây-nam nước Pháp, dưới chân dãy núi Pyrénées, là một vùng đất thánh, nổi tiếng thiêng liêng vì Đức Mẹ từng hiện ra ở đó. Người công giáo từ khắp nơi trên thế giới đều ao ước một lần trong đời được đặt chân tới đó. Họ tin tuyệt đối vào những hiện tượng lành bệnh như của cô Marie Bailly, nhưng các nhà khoa học vô thần thì không tin. Peter Hodgson cho biết những ghi chép của Alexis Carrel về trường hợp lành bệnh của cô Marie Bailly hoàn toàn nằm trong sự quan sát của một nhà khoa học. Theo ông, hiện tượng Marie Bailly tự nhiên khỏi bệnh khi hành hương đến Lourdes là một hiện tượng có thật, nhưng nằm bên ngoài khoa học, vượt quá tầm với của khoa học.
Trong phần phụ lục ở trang 25, GS Đặng Mộng Lân cho đăng lại một bài báo của ông trên tạp chí Vật lý Ngày nay, số Tháng 10/2003, trong đó cho biết từ cuối thế kỷ 19, khoa học đã tiến hành nhiều thí nghiệm chặt chẽ để nghiên cứu hiện tượng tâm linh, nhưng cho đến nay, những nghiên cứu này vẫn chưa được coi là khoa học. Nói cách khác, hiện tượng tâm linh vẫn nằm bên ngoài khoa học. Một trong những lý do cụ thể là ở chỗ những hiện tượng này không mang tính chất lặp đi lặp lại để có thể áp dụng phương pháp quy nạp ─ phương pháp chủ yếu của nghiên cứu khoa học cho phép tổng quát hóa các sự kiện riêng lẻ thành định luật khoa học.
Đứng trước sự thật này (hiện tượng tâm linh nằm ngoài khoa học), có hai thái độ ứng xử: người vô thần theo chủ nghĩa duy khoa học (scientism) lập tức bác bỏ các hiện tượng tâm linh, quy kết đó là ảo ảnh, dối trá, nhưng những người có tư duy mở có thể suy đoán rằng tồn tại một “thế giới tâm linh”, hoặc một tầng “hiện thực tâm linh” (psychic reality / spiritual reality) nằm ngoài tầng hiện thực vật chất thông thường, và do đó khoa học bất lực trong việc nghiên cứu nó. Đó chính là điều Peter Hodgson muốn gợi ý để chúng ta suy ngẫm.
Trong thực tế, những ai từng chứng kiến những phép lạ chữa bệnh của cụ Nguyễn Đức Cần ở Việt Nam những năm đầu thập kỷ 1970 hoặc được biết những phép lạ chữa bệnh của nhà chữa bệnh tâm linh Bruno Groening đều dễ dàng tin trường hợp của cô Marie Bailly là một sự thật. [1] Chỉ có những người thờ phụng chủ nghĩa duy vật như một tín điều mới không tin.
BÍ ẨN CỦA SỰ SỐNG
Có một sự thật rất đáng ngạc nhiên mà bất kỳ ai quan tâm tới thuyết tiến hóa cũng nên biết: một số môn đệ của thuyết tiến hóa Darwin, trong khi bảo vệ niềm tin của mình, đã tuyên bố rằng vấn đề nguồn gốc sự sống không nằm trong thuyết tiến hóa. Sự thiếu hiểu biết này thực ra không đáng tranh luận, vì cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC từ lâu đã trình bày một cách rõ ràng những vấn đề liên quan đến nguồn gốc sự sống, qua đó chúng ta có thể thấy tính chất phi lý và phi khoa học của thuyết tiến hóa.
Thật vậy, tại trang 138, các tác giả viết :
“Nhưng sự sống, nó là cái gì vậy? Câu hỏi mà tôi muốn đặt ra ở đây, câu hỏi mà tôi không thể tránh được, là biết rõ sự sống xuất hiện bằng “phép lạ” nào… Sự sống xuất hiện ngẫu nhiên, hay hoàn toàn ngược lại, nó là kết quả của một tính tất yếu huyền bí?”
Hỏi tức là đã trả lời. Đọc câu hỏi đó chúng ta đã có thể đoán người hỏi muốn trả lời như thế nào.
Cụ thể. Theo cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC, có hai quan điểm đối lập về nguồn gốc sự sống: 1/ Sự sống hình thành một cách ngẫu nhiên từ vật chất không sống; 2/ Sự sống hình thành do một tác động siêu nhiên, một chủ ý có trước của Đấng Sáng tạo.
Quan điểm thứ nhất là quan điểm của thuyết tiến hóa, và cũng là quan điểm của “học thuyết sự sống hình thành tự phát” (doctrine of spontaneous generation) có từ thời Hy lạp cổ đại.
Quan điểm thứ hai là quan điểm của Lý thuyết Thiết kế Thông minh (Theory of Intelligent Design) và của Thuyết Sáng tạo (Creationism).
Quan điểm thứ nhất, học thuyết sự sống hình thành tự phát, đã bị đập tan bởi Định luật Tạo sinh (Law of Biogenesis) do Louis Pasteur khám phá năm 1862, với thí nghiệm bình cổ cong thiên nga nổi tiếng. Nhưng Darwin đã sáng tác ra học thuyết về “cái ao ấm áp”, sau này được các đệ tử chế biến thành lý thuyết về “nồi súp nguyên thủy” (primordial soup) hoặc “nồi súp tiền sinh thái” (prebiotic soup), thậm chí được các môn đệ tôn lên thành “thuyết tiến hóa hóa học” (chemical evolution), trong đó cho rằng vật chất vô cơ vào một dịp may mắn nào đó ngẫu nhiên kết hợp lại thành phân tử sống đầu tiên, rồi phân tử này tiến hóa dần dần thành mọi sinh vật ngày nay. Đây thực chất là học thuyết sự sống hình thành tự phát đã bị bác bỏ. Cơ sở duy nhất của thuyết tiến hóa hóa học là thời gian và cơ may ─ với thời gian gần như vô hạn, ít nhất sẽ có một dịp may xảy ra, và như thế là đủ để sự sống sinh sôi nẩy nở. “Thời gian tự nó sẽ làm các phép lạ” (Time itself performs miracles), George Wald tuyên bố (!!!). Vậy hãy xem các nhà khoa học trong cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC nói gì về khả năng xảy ra “phép lạ” như George Wald nói.
Sau khi so sánh một con bướm (sự sống) với một hòn sỏi (cái không sống), Jean Guitton nhận xét “sự sống chứa đựng một lượng thông tin phong phú gấp bội so với cái không sống”, rồi ông hỏi: “Nếu sự sống chỉ là vật chất chứa nhiều thông tin hơn thì thông tin ấy từ đâu mà ra?” (trang 138).
Nếu thuyết tiến hóa bảo vật chất vô cơ NGẪU NHIÊN tập hợp lại để tạo thành vật chất sống thì, Guitton chất vấn, “Bằng “ngẫu nhiên” nào mà một số nguyên tử lại xích lại gần nhau để tạo thành những phân tử acid amin đầu tiên? Và bằng “ngẫu nhiên” nào mà những phân tử ấy được tập hợp lại để đi tới tòa nhà phức tạp ghê gớm là ADN ấy?… ai đã vạch ra các đề án của phân tử ADN đầu tiên mang theo thông điệp đầu tiên cho phép tế bào sống đầu tiên tự sinh sản?” (trang 139)
Rồi Guitton cho biết: “Những nhà nghiên cứu hàng đầu không còn bằng lòng với việc đọc thuộc lòng các quy luật của Darwin mà không suy nghĩ; họ dựng lên những lý luận mới, thường rất đáng kinh ngạc. Đó là những giả thuyết rõ ràng dựa vào sự can thiệp của một nguyên lý tổ chức siêu việt vào vật chất” (trang 139) [2]
Có nghĩa là những nhà nghiên cứu đi tiên phong trong sinh học không còn tin vào thuyết tiến hóa của Darwin nữa. Họ xây dựng những lý thuyết mới, trong đó nêu lên vai trò thiết yếu của Nhà Tổ chức Siêu việt ─ người ban hành những nguyên lý tổ chức buộc vật chất trong vũ trụ phải tuân thủ sao cho chúng kết hợp lại với nhau theo một tổ chức xác định chính là sự sống.
Guitton kết luận: “Cuộc phiêu lưu của sự sống đã được một nguyên lý tổ chức sắp xếp” (trang 140). Có nghĩa là ông bác bỏ khái niệm sự sống hình thành ngẫu nhiên hoặc tự phát, và hơn thế nữa, chỉ ra vai trò không thể thiếu của Nhà Thiết kế, tác giả của “nguyên lý tổ chức” đó.
Đáp lại ý kiến của Guitton, nhà vật lý Grichka Bogdanov nhắc đến một hiện tượng đáng kinh ngạc của sự sống do Ilya Prigorine, nhà hóa học đoạt Giải Nobel năm 1977, khám phá ra. Đó là hiện tượng các phân tử sống có khả năng giao tiếp với nhau như thế nào. Đây, hãy nghe chính Prigorine nói:
“Điều gây kinh ngạc là một phân tử BIẾT các phân tử khác làm gì đồng thời với nó ở những khoảng cách rất lớn. Những thí nghiệm của chúng tôi cho thấy các phân tử giao tiếp với nhau như thế nào. Tất cả mọi người đều chấp nhận thuộc tính ấy trong những hệ sống, nhưng chính thuộc tình ấy lại ít được chờ đợi nhất trong các hệ không sống” (trang 142).
Chữ “BIẾT” trong câu nói trên đã được tôi, PVHg, viết to để nhấn mạnh, bởi đây là hiện tượng quá kỳ lạ, kỳ lạ đến mức khó tin, nhưng buộc phải tin, vì đó là một kết quả thực nghiệm có thể nhìn thấy tận mắt. Sự thật này làm tôi liên tưởng ngay đến một tư tưởng rất quan trọng của Phật giáo mà Đức Đạt Lai Lạt Ma trình bày trong cuốn sách của ngài: “Vũ trụ trong một nguyên tử”, do Công ty Truyền thông Nhã Nam và NXB Thế giới vừa xuất bản tại Việt Nam năm 2016. Trong cuốn này, Đức Đạt Lai Lạt Ma khẳng định rằng ranh giới phân biệt sự sống với cái không sống là ở Ý THỨC chứ không phải ở cấp độ phức tạp của cấu tạo vật chất ─ cái gì có ý thức thì cái đó là một thực thể sống; cái gì không có ý thức thì cái đó là cái không sống, bất kể cấu tạo vật chất ra sao. Nếu thừa nhận quan điểm này thì lập tức suy ra rằng thuyết tiến hóa hoàn toàn bất lực trước việc giải thích nguồn gốc và bản chất sự sống, bởi nó hoàn toàn bất lực trước khái niệm ý thức. Toàn bộ học thuyết Darwin tảng lờ vấn đề ý thức, vì mọi cơ chế tiến hóa mà nó nêu lên đều là những cơ chế vật chất thuần túy.
Trở lại với hiện tượng các phân tử của sự sống BIẾT lẫn nhau, nếu khái niệm BIẾT ở đây được ví như “trí thông minh” của một phân tử thì, theo Ilya Prigorine, “trí thông minh” của phân tử cũng là ranh giới để phân biệt sự sống với cái không sống!
Vậy “trí thông minh” của phân tử sống từ đâu mà ra? Nếu không thừa nhận một lực lượng bí ẩn nào đó đã cung cấp “trí thông minh” ấy cho phân tử sống thì làm thế nào để giải thích hiện tượng này? Nhà vật lý Bogdanov cho rằng đó là “lối ứng xử thông minh lạ thường” (trang 142) của các phân tử sống mà khoa học không thể giải thích được ─ khoa học dựa trên logic thuần túy vật chất trở nên quá nghèo nàn để có thể hiểu được bản chất sự sống.
Đến lượt Guitton, ông cho rằng hiện tượng đó nói lên rằng vũ trụ có một định hướng, và “cái hướng sâu xa ấy nằm ở bên trong bản thân nó, dưới hình thức một nguyên nhân siêu việt” (trang 142).
Nguyên nhân siêu việt là cái gì, nếu không phải là Nhà Tổ chức Vĩ đại như đã nói ở trên, hay Nhà Thiết kế Vĩ đại, Nhà Lập trình Vĩ đại, Đấng Sáng tạo, Thượng đế, Chúa,…?
Các nhà khoa học thời này rất đáng thương. Họ phủ nhận Thượng đế nhưng chính khoa học đưa họ đến chỗ buộc lòng phải thừa nhận vai trò nhất thiết phải có của Đấng Sáng tạo để giải thích những hiện tượng vượt khỏi tầm với của khoa học. Trong tình huống lưỡng nan như thế, họ né tránh việc sử dụng những từ ngữ quen thuộc như Thượng đế, Chúa, Đấng Sáng tạo,… Họ phải tạo ra những tên gọi mới, thuật ngữ mới, có lẽ vì họ quá nhạy cảm với sự chống đối từ phía các nhà khoa học vô thần. Những từ ngữ mới đó giúp họ tránh được việc đối đầu mất thì giờ với những cái đầu khoa học thô thiển trình độ thấp. Nhưng rốt cuộc họ vẫn phải quay lại điểm ban đầu, rằng Thượng Đế sáng tạo ra tất cả! Đó là điều cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC nói một cách tế nhị với chúng ta.
Và đúng như tôi đã từng trình bày trong nhiều bài viết phê phán thuyết tiến hóa rằng toán học xác suất bác bỏ mọi cơ may để sự sống có thể hình thành ngẫu nhiên từ vật chất không sống, nhà vật lý G. Bogdanov cũng nhấn mạnh:
“Không một thao tác nào đã nhắc tới trên đây có thể được thực hiện ngẫu nhiên cả. Hãy lấy một trong nhiều ví dụ: để cho việc ghép các nucleotid “ngẫu nhiên” dẫn tới chỗ tạo ra ARN dùng được, Tự Nhiên cần phải mò mẫm thử đi thử lại nhiều lần, ít ra trong 10^15 năm, tức là một trăm nghìn lần nhiều hơn toàn bộ tuổi của vũ trụ chúng ta. Một ví dụ khác: nếu đại dương nguyên thủy đã đẻ ra tất cả các biến thể (tức là các đồng phân) có thể được tạo ra theo lối “ngẫu nhiên” từ chỉ một phân tử chứa đựng vài trăm nguyên tử, thì điều đó phải đưa chúng ta tới chỗ tạo dựng được hơn 10^80 đồng phân có thể có. Thế nhưng, cả vũ trụ có lẽ hiện chỉ có dưới 10^80 đồng phân”. (trang 145)
Đọc những phân tích nói trên, tôi muốn chuyển một thông điệp đến ngài George Wald, tác giả câu nói bất hủ “Thời gian tự nó sẽ tạo ra các phép lạ”, và ông Richard Dawkins, cái loa lớn tiếng nhất của thuyết tiến hóa hiện nay, rằng “Thưa các ông, các ông có hiểu những phân tích của G. Bogdanov ở trên không? Nếu không hiểu thì làm sao các ông có thể thấy được tính chất hoang đường của thuyết tiến hóa? Ngược lại, nếu hiểu thì các ông còn ôm lấy cái thuyết tiến hóa dựa trên may rủi như cờ bạc làm gì nữa?”.
Không ngờ những suy nghĩ đó hoàn toàn khớp với những gì Jean Guitton nói tiếp sau đó:
“Do đó, khi quan sát tính phức tạp đáng kinh ngạc của sự sống, tôi đi tới kết luận rằng bản thân vũ trụ thật “thông minh”: một trí tuệ siêu việt tồn tại trên bình diện hiện thực (tồn tại ở khoảnh khắc ban đầu mà chúng ta gọi là Sáng Tạo) đã ra lệnh cho vật chất đẻ ra sự sống” (trang 145).
Đến đây thì chúng ta thấy rõ ràng rằng các nhà khoa học trong cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC không còn úp mở gì nữa, mà khẳng định rằng Đấng Sáng Tạo là tác giả của sự sống!
Mô hình phục dựng bộ xương người Ecuador tại công viên Jungfrau Park, Thụy Sĩ. (Ảnh: Internet)
Nhiều bộ xương khổng lồ với chiều cao lên đến 7 mét đã được khai quật ở một di chỉ ở Ecuador, và được bảo quản bởi một linh mục tên Carlos Vaca.
Ecuador là một địa điểm với rất nhiều phát hiện kì lạ. Người ta đã khai quật được một lượng lớn những bộ xương giống người, nhưng có kích thước khổng lồ ở nhiều khu vực của Ecuador. Rất nhiều những bộ xương và mảnh xương này hiện được cất giấu trong các bộ sưu tập cá nhân trên khắp thế giới, và che giấu khỏi tầm mắt công chúng.
Cha Carlos Miguel Vaca là một trong số những người canh gác gìn giữ những “Bộ xương khổng lồ” như vậy. Ông từng phụ trách bảo tồn các bộ xương khổng lồ được khai quật tại một di chỉ ở Ecuador gọi là “Changaiminas”, dịch nghĩa là “nghĩa trang của các vị Thần.”
Trong ảnh là mô hình phục dựng tại công viên Jungfrau Parkở Thụy Sĩ của bộ xương người khổng lồ được tìm thấy ở Ecuador vào thập niên 60. Bấm vào ảnh để phóng to. (Ảnh: Internet)Cha Carlos Miguel Vaca Alvarado là linh mục của giáo xứ Changaimina, Ecuador. Bên cạnh vai trò linh mục, ông còn là một nhà khảo cổ, người đã phát hiện một di tích khảo cổ chứa các bộ xương khổng lồ vào năm 1965. Các bộ xương này sau đó được trưng bày tại bảo tàng mang tên “Museo del Padre Vaca” của ông, bên cạnh vô số hiện vật được phát hiện trong vùng
Mô hình phục dựng bộ xương người Ecuador tại công viênJungfrau Park, Thụy Sĩ. (Ảnh: Internet)
Bộ sưu tập bao gồm nhiều mảnh xương của người khổng lồ có chiều cao lên đến 7 mét từng sinh sống tại Ecuador và các khu vực khác của Châu Mỹ từ hàng ngàn năm trước.
Một số mảnh xương có thể đã được chuyển đến Viện Bảo tàng và Nghiên cứu Smithsonian ở Mỹ để phân tích thêm.Các báo cáo về bộ những bộ xương và khu vực liên quan đã được phát sóng trên truyền hình Ecuado, chỉ đạo bởi đạo diễn nổi tiếng Alfonso Espinosa De Los Monteros.
Sau khi Cha Vaca qua đời, những hiện vật trong bảo tàng của ông đã bị cướp phá.
Theo ý kiến của vị đại diện Hiệp hội Kinh doanh Vàng Việt Nam (đề nghị dấu tên), muốn đề án huy động vàng trong dân hiệu quả trước hết phải giải thích cho người dân hiểu hết nghi ngại của họ, đồng thời xác định rõ đối tượng vàng mà Nhà nước nên huy động cho nền kinh tế.
Vốn Nhà nước đã thất thoát, quản lý vàng của dân ra sao?
Theo vị đại diện Hiệp hội vàng kể trên, vấn đề cơ bản nhất hiện nay là người dân không tin là Nhà nước sử dụng vàng của họ có trả lại được cho họ hay không bởi họ đã nhìn thấy tiền vốn nhà nước bị thất thoát, bị tham nhũng làm phương hại đến hiệu quả đầu tư ở các dự án. Những thất bại đó đã gây tổn thất lớn cho nền kinh tế dẫn đến khi đề cập đến gửi vàng cho Nhà nước, ai cũng có tâm lý e ngại.
Đề án huy động vàng trong dân tiếp tục được đưa ra nhưng những có nhiều vấn đề mà dư luận vẫn băn khoăn về tính hiệu quả và thực tiễn
"Ở góc độ vĩ mô, nếu triển khai và huy động được vàng trong dân thì trước hết phải minh bạch các dự án đầu tư hay minh bạch trong việc sử dụng vốn từ vàng của dân để chí ít cũng cho người dân tin tưởng, hưởng ứng", đại diện Hiệp hội vàng cho biết.
Đại diện của Hiệp hội vàng kiến nghị: "Việc huy động vàng là vấn đề rất lớn, Việt Nam chưa làm nhưng quốc tế đã làm rồi, theo quan điểm của Hiệp hội nên học Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc mời các chuyên gia hàng đầu có kinh nghiệm của Hội đồng vàng thế giới đến giúp".
Về các số liệu để tính toán hiệu quả của đề án huy động vàng, chúng ta phải điều tra cụ thể, vì đây là số liệu liên quan đến đầu vào là chuyển đổi loại vàng nào? Ví dụ như vàng miếng SJC 99.99 hay vàng nhẫn tròn trơn 99.9% mà hiện nay nhiều DN đang kinh doanh, mua bán với dân hay vàng trang sức 75% trở lên?
"Có thực tế hiện các nhà vàng lớn ở Hà Nội, TPHCM và các thành phố lớn đang mua bán vàng nguyên liệu nhập khẩu 99.99% không chính thống số lượng rất nhiều và số lượng người dân có loại vàng này cũng không ít vì giá vàng thỏi nguyên liệu 1kg loại 99.99% này chênh lệch so với giá vàng quốc tế rất ít, mà việc nhập lậu không kiểm soát được", vị chuyên gia nói.
Vì vậy, theo Hiệp hội vàng, để có bài toán chính xác thì phải đánh giá đúng các loại vàng trong dân là những loại gì và liệu loại nào là khi nhận vàng của dân chúng ta kiểm tra, kiểm soát được chất lượng để đánh giá đúng giá trị của nó không thiệt cho người dân mà cũng không bị rủi ro cho Nhà nước.
Vàng là nơi trú ngụ, rất khó hút ra
Đánh giá đề án huy động vàng trong dân lần thứ 2 được đưa ra, TS Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển, Bộ KH&ĐT tỏ ra khá hoài nghi.
"Dù mục đích của chủ trương này đưa ra trong bối cảnh nguồn lực đầu tư cho đất nước đang cấp bách. Tuy nhiên, nếu không làm rõ được hiệu quả kinh doanh vốn của người dân. Tôi không hy vọng vào việc Nhà nước có thể huy động được vàng của dân để làm động lực phát triển kinh tế".
Ông Hồ nói thêm: Vì huy động vàng chính là một công cụ hành chính, ở đó người dân tự nguyên thì làm được nhưng Nhà nước áp đặt mệnh lệnh hành chính thì sẽ không huy động được.
“Thay vì Nhà nước huy động vàng trong dân để sản xuất, sao không có cách thức để cho dân không muốn giữ vàng nữa, bởi nó không có lãi, phải thay vì đầu tư vào vàng, bằng việc bán vàng để gửi tiết kiệm. Gửi vàng giá cao người ta mới gửi, người ta sẽ không bỏ vàng ra mua trái phiếu của Chính phủ”, TS Hồ nói.
Đồng quan điểm với TS Hồ, Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Phát triển, Đại học Fulbright Việt Nam nói: "Tôi phản đối hoàn toàn bởi không có cách nào để Nhà nước đứng ra huy động vàng của dân, bởi lẽ một khi người dân đã mua vàng và cất trữ, tôi mua vàng là tôi bảo vệ giá trị, tôi chịu hy sinh để bảo vệ nguồn lực nằm không ở đó".
"Về nguyên lý kinh tế, chúng ta không thể lấy nó ra lại được, lại vừa sử dụng nguồn huy động đó vào phát triển vừa có cam kết bảo vệ giá trị của nó được", chuyên gia Thành nói.
Là đơn vị được tham gia vào đề án trên, ông Nguyễn Tất Thái, Quyền Trưởng ban, Ban Giám sát các Tập đoàn Tài chính, Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia nói: Theo kế hoạch đề án sẽ đưa ra các Hội đồng, sau đó đưa ra Tổ tư vấn của Thủ tướng để báo cáo trước khi đệ trình Chính phủ. Hiện nay, chúng tôi cũng đang tổng hợp các ý kiến thôi, chưa trình Chính phủ.
Ông Thái chia sẻ, ngay cả Hội đồng tư vấn cũng mới họp hôm 1/7, Ngân hàng Nhà nước là đầu mối cũng chỉ tổng hợp ý kiến sơ bộ chứ chưa có động thái làm sâu hơn. "Có nhiều nước đã huy động được vàng, nhiều người lo sợ huy động sẽ nảy sinh ra vàng hóa, nhưng hiểu thế nào là vàng hóa, phải làm rõ cái đó. Vàng có cách tiếp cận khác nhau, nếu vàng đầu tư thì nó là tiền, còn là tài sản tích trữ như nữ trang thì không tham gia vào phương tiện thanh toán", ông Thái nói.
Mấy hôm nay cả nước đang xôn xao nể phục về tài làm kinh tế của em, nhiều người muốn lên Yên Bái để học tập, có người lại muốn xuất bản cả sách về cách làm giàu nữa. Vì một người từ buôn chổi đót, chè khô, lá chít mà vươn lên làm giàu... Những cách làm giàu để có tiền xây biệt phủ em đã kể với báo chí và đoàn thanh tra rồi, nhưng anh nghĩ rằng mấy cái em kể người ta khó tin, khó thuyết phục vì chẳng có chứng từ hóa đơn nào cả, thành thử cũng có người bán tín, bán nghi. Nhưng có lẽ em quên không kể đến một nghề tay trái mà em khá thành công, có cả bằng chứng thuyết phục , đó là ĐÁNH BẠC.
Em đánh nhiều lần, nhiều chỗ, nhiều năm đánh với đám khai thác khoáng sản cũng có, đánh với các đại gia bất động sản cũng có và quan chức cũng có và em lượm của người ta cũng nhiều.
Bằng chứng mà em dẫn ra cho mọi người thấy là vụ đánh bạc đêm 20/10/2005 có em (Phạm Sỹ Quý) cùng với Ngô Thành Long, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái, Nghiêm Trọng Tân, cán bộ Viên Kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái và 4 đối tượng khác. Em tranh thủ sang Công an Yên Bái có lẽ còn hồ sơ đấy, nếu mất rồi thì anh cung cấp cho em mấy bài báo đã từng đăng.
Cái hay, là vụ đánh bạc ấy bị bắt như thế mà không ai bị làm sao cả mà còn được thăng tiến. Ngày ấy anh còn nhớ chị Phạm Thị Thanh Trà của em đang làm Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy- Tưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Yên Bái. Em (Phạm Sỹ Quý) còn là Phó văn phòng quản lý đất đai thuộc Sở Địa chính tỉnh Yên Bái. Không biết chị Trà giỏi, hay em giỏi mà từ đó cả chị cả em đều lên ào ào.
Dưới đây, anh đăng kèm mấy bài báo để em có tài liệu mà khoe với đoàn kiểm tra biết thành tích đánh bạc và khả năng vượt rào trên con đường quan lộ của em thế nào nhé.
Chào em, chúc em tiếp tục thăng.. thăng đường.
Tái bút: Hai ba hôm nay, thằng bạn của em có cái nick facebook là "Chính đạo" hay "chó đạo" gì đó anh nhớ không rõ, nó chê anh chẳng biết gì về em (Phạm Sỹ Quý) chẳng có tài liệu gì mà cứ ngồi một chỗ gõ bàn phím. Anh bực mình lục lọi ra molotj trời tài liệu Yên Bái luôn em ạ. Em cám ơn nó giúp anh nhé. Em cũng đừng quên cám ơn các anh Công an Yên Bái em nhé. Khi bắt thì rùm beng, rồi bảo đang tiếp tục điều tra..... đến giờ điều tra chưa xong luôn.
Nguyễn Huy Toàn
(FB Nguyễn Huy Toàn)
Cục trưởng
Chống tham nhũng: Cần hình sự hóa tài sản không rõ nguồn gốc
TP - Tới đây khi sửa
luật cần đề nghị phải hình sự hoá các tài sản bất hợp pháp, không giải trình rõ
nguồn gốc.
Theo Cục trưởng Cục
Chống tham nhũng (Thanh tra Chính phủ) Phạm Trọng Đạt, theo quy định, khi có
dấu hiệu kê khai bất hợp lý, tài sản tăng bất thường mới có căn cứ để xem
xét. Hoặc khi có đơn tố cáo về tài sản, có vấn đề gì trong việc bổ nhiệm,
đề bạt cán bộ mà cần xác minh, thẩm định để đánh giá cán bộ thì mới có căn cứ
để kiểm tra. Còn hầu hết việc kê khai tài sản đều do tự nguyện, tự giác, cho
nên không thể kiểm tra hết được.
Lâu nay, mỗi khi tài
sản của ai đó tăng, giảm bất thường mới yêu cầu phải giải trình nguồn gốc. Tuy
nhiên, dù vì lý do gì thì cũng phải giải trình rõ ràng, có căn cứ, và phải hợp
lý. Cán bộ, lãnh đạo có 10 tỷ đồng mà lại bảo do đi nuôi lợn, nuôi gà, lấy đâu
mà lắm thế? Cứ giải thích cho xong, giải thích bất hợp lý thì không ai chấp nhận
được.
Tới đây khi sửa luật,
chúng tôi đề nghị những diện cán bộ trước khi được bổ nhiệm bắt buộc phải xác
minh tài sản, coi đó là điều kiện để đề bạt, không để như trước kia nữa. Phải
xem xét cán bộ theo hướng nếu không trung thực trong kê khai tài sản thì không
đủ điều kiện để bổ nhiệm, đề bạt. Việc sửa đổi Luật Phòng chống tham nhũng đang
theo hướng tăng cường kiểm soát, quản lý đối tượng cần kê khai.
Cũng có nhiều ý kiến
đề xuất cần mở rộng đối tượng kê khai là vợ con, người thân của cán bộ công
chức, nhưng cũng lại có người nói rằng, mở rộng quá sẽ không quản lý được, nên
cần xem xét kỹ. Tôi cho rằng, phải quy định cả đối tượng người thân cán bộ cũng
phải kê khai tài sản, bởi thực tế đang có chuyện chuyển tài sản cho người thân.
Mặt khác, khi có tình
trạng kê khai tài sản không hợp lý, kê khai sai, ta vẫn chưa có hướng xử lý
triệt để. Chúng ta mới chỉ xử lý được về con người thôi, còn về tài sản rất khó
khăn trong xử lý, vì chưa có cơ chế pháp luật. Ở nước ngoài, với những tài sản
bất hợp lý, giải thích không rõ nguồn gốc sẽ bị tịch thu ngay, nhưng chúng ta
chưa làm được như thế.
Tới đây khi sửa luật
cần đề nghị phải hình sự hoá các tài sản bất hợp pháp, không giải trình rõ
nguồn gốc. Chưa làm được cái đó thì chưa thể kê khai chính xác được. Tuy nhiên,
đây là cái khó, cần phải nghiên cứu kỹ để chỉnh sửa.
THÀNH NAM (GHI)
10 ngày ‘điểm danh’ 3 cán bộ cấp cao giấu tài sản khủng
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều vụ lùm xùm về tài sản khủng có dấu hiệu bất thường của các quan chức được dư luận, báo chí phanh phui. Trong đó ba nhân vật được nhắc đến nhiều nhất là Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Yên Bái Phạm Sỹ Quý, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa và Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Phan Thị Mỹ Thanh.
Ngày 27-6, đoàn công tác của Thanh tra Chính phủ đã công bố quyết định thanh tra đột xuất các vấn đề liên quan đến nguồn gốc khối tài sản khủng của ông Quý. Trong đó, đồ sộ nhất là khu biệt phủ 13.000 m2 được chuyển đổi từ đất rừng thành đất ở bằng sáu văn bản được ký trong một ngày của các cơ quan chức năng tỉnh Yên Bái.
Giải thích về tiền xây biệt phủ, ông Quý nói đã vay 20 tỉ đồng từ anh em và ngân hàng. Thế nhưng ngay trong bản khai tài sản cán bộ năm 2016, ông tự xác định bản thân không có các khoản nợ từ 50 triệu đồng trở lên. Một tài sản khác cũng được đánh dấu hỏi là căn chung cư cao cấp Mandarin Garden rộng 130 m2 (Cầu Giấy, Hà Nội) mà ông Quý khai trị giá 2,5 tỉ đồng, trong khi giá thị trường thực tế cao hơn rất nhiều lần.
Trường hợp Thứ trưởng Kim Thoa, trong ngày 3-7, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã công bố kết luận: Trong thời gian dài, bà Thoa nhiều lần kê khai tài sản, thu nhập không đúng, không đầy đủ theo quy định. Ngoài ra, bà Thoa còn có các sai phạm khác như vi phạm trình tự, thủ tục trong việc cổ phần hóa doanh nghiệp; mua cổ phần vượt mức quy định… Ủy ban sẽ làm báo cáo gửi Ban Bí thư để xem xét, quyết định hình thức kỷ luật đối với bà Thoa.
Gia đình bà Thoa giữ vai trò không nhỏ tại Công ty Bóng đèn Điện Quang khi sở hữu cổ phần có giá trị lên đến 718 tỉ đồng. Riêng thứ trưởng nắm gần 1,7 triệu cổ phiếu, có giá trị ước tính trên 100 tỉ đồng.
Điều đáng nói là mặc dù sở hữu lượng lớn cổ phần tại Công ty Điện Quang - và bản thân cho là hằng năm đều có kê khai tài sản - nhưng bà Thoa vẫn được Bộ phân công quản lý chính lĩnh vực có liên quan là ngành công nghiệp nhẹ. Nhiều câu hỏi được đặt ra: Tài sản, cổ phần từ đâu mà có, minh bạch hay không, có hay không việc lợi dụng chức vụ, vi phạm quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật Phòng, chống tham nhũng?
Tương tự là trường hợp của Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Phan Thị Mỹ Thanh. Bà Thanh đã ký các văn bản chấp thuận cho Công ty Cường Hưng của chồng đầu tư nhiều dự án. Sai phạm của bà Thanh đều liên quan đến lợi ích của các doanh nghiệp do chồng bà nắm cổ phần chính và điều hành. Một số dự án Công ty Cường Hưng được chống lưng thực hiện là khu mỏ đá đứng tên HTX An Phát (diện tích gần 100 ha); đường chuyên dụng vận chuyển vật liệu xây dựng dài 7 km, vốn đầu tư khoảng 200 tỉ đồng; khu dân cư thương mại Phước Tân (diện tích 91,7 ha); khu bến thủy tại khu vực dự án khu dân cư Phước Tân.
Bà Thanh được xác định đã vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm khi kê khai tài sản, thu nhập không đầy đủ, không đúng quy định và bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương ra quyết định kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo. Những sai phạm của Công ty Cường Hưng cũng được Thanh tra Chính phủ thanh tra để có kết luận cuối cùng.