Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Ý nghĩa của tư tưởng Tập Cận Bình

Bởi
 AdminTD
 -

Tác giả: Salvatore Babones
Dịch giả: Huỳnh Hoa
3-11-2017
Xem thêm bài của Phạm Viết Đào:


Ảnh: AFP
Vào cuối tháng Mười vừa qua đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức đại hội toàn quốc lần thứ 19. Đảng tổ chức những đại hội như thế này mỗi năm năm một lần, từ năm 1977, khi ông Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping), cha đẻ của thời kỳ cải cách Trung Quốc, lên nắm quyền tại đại hội đảng lần thứ 11. Ông Mao Trạch Đông (Mao Zedong) đã qua đời một năm trước đó, để lại một chính đảng đang rối loạn, một đất nước tan hoang sau cuộc Cách mạng Văn hóa. Ông Đặng bắt đầu lập lại trật tự, thiết chế hóa mối quan hệ giữa đảng và nhà nước và đưa Trung Quốc vào con đường cải cách, mở cửa.
Phải mất 20 năm thì “học thuyết Đặng Tiểu Bình” – đặt ra “những vấn đề căn bản liên quan tới công cuộc xây dựng, củng cố và phát triển chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc” – mới được tôn vinh trong cương lĩnh của đảng Cộng sản Trung Quốc tại đại hội toàn quốc lần thứ 15, tháng Chín năm 1977. Ông Đặng qua đời tháng Hai năm đó, đã không sống đủ lâu để chứng kiến ngày được suy tôn.
Đã cai trị Trung Quốc một cách hiệu quả suốt hai thập niên, ông Đặng không chút hoài nghi về vị trí của ông trong lịch sử. Nhưng trái lại, ông Mao đã cai trị Trung Quốc gần ba thập kỷ nhưng di sản của ông ta bị vứt bỏ chỉ trong chưa đầy mười hai tháng. Có lẽ đó là lý do tại sao chủ tịch đương nhiệm của Trung Quốc, chủ tịch ủy ban quân sự trung ương, tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình phải suy tính cẩn thận để loại trừ mọi rủi ro. Chỉ 5 năm sau khi lên nắm quyền cai trị, ông ta đã sắp xếp để “Tư tưởng Tập Cận Bình” được đưa vào và tôn vinh trong điều lệ của đảng.
Nghị quyết tóm tắt tư tưởng Tập Cận Bình, dưới tiêu đề rối rắm: “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội mang đặc điểm Trung Quốc cho kỷ nguyên mới” đã được 2.287 đại biểu tham dự đại hội đảng hoàn toàn nhất trí thông qua. Nghị quyết mở đầu bằng sự tán thành tất cả các chính sách của ông Tập từ trước đến nay, được tóm lược trong 14 điểm mà ông Tập trình bày trong diễn văn khai mạc đại hội. Nó kết thúc bằng lời hô hào những phần tử trung thành của đảng “hãy tư duy theo bức tranh toàn cảnh” trong khi kiên định đi theo “sự lãnh đạo của ủy ban trung ương với đồng chí Tập Cận Bình là hạt nhân cốt lõi”. Ở giữa là trái tim của chương trình này, một tuyên bố dài 131 từ về chương trình điều hành của ông Tập. Một triết lý cai trị ngắn gọn như vậy đáng được trích dẫn đầy đủ:
“Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ giữ vững quyền lãnh đạo tuyệt đối đối với Quân giải phóng nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân khác; thi hành đầy đủ tư tưởng Tập Cận Bình về tăng cường sức mạnh quân sự; tăng cường sự phát triển của Quân giải phóng nhân dân bằng cách nâng cao lòng trung thành chính trị của quân đội, thông qua cải cách và công nghệ và điều hành quân đội phù hợp với luật pháp; xây dựng lực lượng nhân dân tuân theo mệnh lệnh của đảng, có thể chiến đấu và chiến thắng, và duy trì lối hành xử tuyệt vời; bảo đảm rằng Quân giải phóng nhân dân sẽ hoàn thành sứ mệnh và nhiệm vụ trong thời đại mới; nuôi dưỡng ý thức mạnh mẽ về cộng đồng dân tộc Trung Quốc; giữ vững công lý trong khi theo đuổi các lợi ích chung; làm việc để xây dựng một cộng đồng chia sẻ tương lai cùng nhân loại; tuân theo nguyên tắc thực hiện tăng trưởng chung thông qua đàm phán và cộng tác; và theo đuổi Sáng kiến Vành đai và Con đường”.
Trong số 10 mệnh đề kể trên, 5 mệnh đề đầu tiên tập trung vào quân đội, 4 mệnh đề kế tiếp về xã hội và mệnh đề cuối cùng vào chính sách đối ngoại, có thể coi đây như là bản rút gọn những ưu tiên của ông Tập và có thể cũng là của đảng Cộng sản Trung Quốc nói chung. Thế giới nhìn vào bài diễn văn của ông Tập và hy vọng tìm thấy những dấu hiệu của chủ nghĩa quốc tế tự do, nhưng tư tưởng Tập Cận Bình lại là một chương trình không lay chuyển về phục hưng dân tộc được hậu thuẫn bởi sự gia tăng sức mạnh quân sự.
Đảng thứ nhất, Quân đội thứ nhì
Mặc dù nguyên tắc đầu tiên rõ ràng của tư tưởng Tập Cận Bình là “Đảng Trước Hết” (Party First), nhưng ông Tập lại được biết tới nhiều hơn nhờ Giấc mơ Trung Quốc (Chinese Dream) – giấc mơ xây dựng “một xã hội phồn vinh vừa phải” giữa một chương trình “phục hồi dân tộc” của ông. Đặt “Đảng Trước Hết” lên trước “Giấc mơ Trung Quốc” và bạn sẽ có một phiên bản chuyên chế của một ước mơ thịnh vượng có thể được gọi là “Nước Mỹ Trên Hết Với Đặc Điểm Trung Quốc”. Ông Tập có thể là lãnh tụ tối cao của một chế độ độc tài nhưng điều đó không có nghĩa là ông ta miễn nhiễm với những thủ đoạn chính trị. Và một khi tăng trưởng của Trung Quốc chậm lại, chủ nghĩa dân tộc là thứ sẵn sàng thay thế cho thành tích kinh tế trong việc duy trì niềm tin của dân chúng vào sự lãnh đạo của đảng Cộng sản.
Khi cần phải khơi dậy lòng nhiệt tình dân tộc chủ nghĩa thì từng đồng chi phí cho quân đội đều sẽ đáng giá. Ông Đặng đã sẵn sàng dùng xe tăng để áp đặt tầm nhìn của ông về tương lai Trung Quốc, khét tiếng nhất là vụ thảm sát Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989. Ông Tập cũng quan tâm như vậy trong việc giữ cho  Giải Phóng Quân Nhân dân (PLA) dưới quyền kiểm soát của đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng ngày nay PLA có nhiều khả năng sẽ tham chiến trên dãy núi Hy Mã Lạp Sơn hoặc ngoài Biển Đông hơn là trên các đường phố của thủ đô Bắc Kinh. Với ông Tập, PLA là công cụ hữu dụng trong việc nuôi dưỡng chủ nghĩa dân túy nặng mùi hiếu chiến nhiều hơn là để trực tiếp trấn áp đối lập.
Vì thế mặc dù ông Tập rất cẩn thận công khai nhấn mạnh ưu tiên hàng đầu của quyền lực chính trị so với quân sự, ở Trung Quốc ngày nay đó là chuyện hiển nhiên. PLA không còn đặt ra mối đe dọa trước mắt đối với người dân Trung Quốc; các máy bay và hàng không mẫu hạm của nó chủ yếu dùng để uy hiếp các nước láng giềng hơn là uy hiếp quần chúng dân sự. Và tất cả các chỉ dấu đều cho thấy, chủ nghĩa quân phiệt mạnh được ủng hộ ở Trung Quốc ngang với ở Hoa Kỳ, nếu không nói là hơn. Như vậy, yếu tố quan trọng đầu tiên của tư tưởng Tập Cận Bình là sự chuyển hóa quân đội PLA từ một lực lượng dự phòng để trấn áp nội bộ thành một lực lượng chiến đấu có khả năng thực thi sức mạnh của Trung Quốc trên thế giới.
Dân tộc, Vành đai và Con đường
Phần thứ hai của tư tưởng Tập Cận Bình là cộng đồng, cả nội bộ và bên ngoài. Cộng đồng nội bộ là cộng đồng của “dân tộc Trung Hoa”, là một quan niệm tương đối mới mẻ trong chính trị Trung Quốc. Nước Trung Hoa Dân quốc cũ, trước khi chính phủ của nó phải lưu vong ra đảo Đài Loan, thường cổ xúy một học thuyết về cái gọi là năm dân tộc của Trung Quốc: Hán (Trung Hoa), Mãn, Mông, Hồi và (Tây) Tạng. Từ khi thành lập năm 1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận một quần thể các dân tộc thiểu số, nói theo sự tuyên truyền chính thức của Liên xô về việc xây dựng quốc gia như là một liên minh nhiều dân tộc. Tư tưởng Tập Cận Bình đã bỏ tất cả những thứ đó lại đằng sau.
Trong nước Trung Quốc của Tập chỉ có một dân tộc – dân tộc Trung Hoa. Được xây dựng vững chắc chung quanh bản sắc của người Hán chiếm đa số, chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc đang được củng cố (với sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính quyền) chung quanh một ngôn ngữ tiêu chuẩn là tiếng Quan thoại (Mandarin) và một niềm an ủi tinh thần là Khổng giáo phiên bản thế kỷ 21. Bên ngoài Trung Quốc, hai sáng kiến này được kết hợp ở các viện Khổng tử gây nhiều tranh cãi – các trung tâm ngôn ngữ và văn hóa do chính phủ Trung Quốc tài trợ đã được lồng ghép vào khoảng 500 trường đại học khắp thế giới. Những gì mà viện Khổng tử cố gắng đạt được ở nước ngoài thì truyền thông do nhà nước kiểm soát và giáo trình học tập đang quảng bá không ngừng nghỉ ở trong nước: hình ảnh Trung Quốc như là một quốc gia-dân tộc thống nhất, không chỉ bắt buộc sự tuân phục mà còn xứng đáng với lòng trung thành của các công dân.
Trong khi triều đại quân chủ cuối cùng và ngay cả nước Trung Hoa cộng hòa thuở ban đầu đều tự nhìn mình như là một cộng đồng các dân tộc thì nước Trung Quốc của thế kỷ hiện đại lại quay về với ý tưởng cổ xưa xem Trung Quốc như là nhà nước trung tâm của cả thế giới Âu-Á, của “thiên hạ” (tianxia). Bản thân từ Trung Quốc trong tiếng Hoa, Zhongguo, có nghĩa đen là nhà nước trung tâm (hoặc thi vị hơn, vương quốc ở chính giữa), và trước khi Trung Quốc hội nhập vào thế giới-kinh tế mà châu Âu là trung tâm – thì Trung Quốc quả là nhà nước trung tâm của chính nó, là một thế giới khá riêng biệt. Sáng kiến ngoại giao mang dấu ấn riêng của Tập Cận Bình, chương trình Nhất lộ, Nhất đới (một vành đai, một con đường) nhằm phát triển cơ sở hạ tầng Á-Âu, rõ ràng được thiết kế để đưa Trung Quốc quay trở lại vị trí trung tâm chính trị và kinh tế của cả châu lục.
Năm 2022 – kỷ niệm bách niên
Năm 2022 Trung Quốc sẽ kỷ niệm 100 năm ngày thành lập đảng Cộng sản. Lễ kỷ niệm cột mốc 100 năm này dự kiến sẽ được chào mừng cùng với việc tổ chức đại hội toàn quốc lần thứ 20 của đảng, và ông Tập sẽ đặt ra nghị trình. Không ai biết được liệu ông Tập có kéo dài sự cai trị của mình ra sau năm 2022 hay không và ở mức độ nào, nhưng hầu như chắc chắn rằng ông sẽ dùng sự kiện 100 năm đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2022 như một cơ hội để in dấu sự hiểu biết của ông về bản sắc dân tộc Trung Quốc vào trái tim của đồng bào ông, vào trí óc của cả thế giới.
Thoạt nhìn qua, tư tưởng Tập Cận Bình có vẻ giống như một khẩu hiệu vô nghĩa nhưng xem xét sâu hơn nó bộc lộ một chương trình thống nhất, mà nói theo ngôn ngữ của ông Tập, về “sự phục hồi dân tộc”. Người Pháp có thể nhìn về Cách mạng Pháp, người Đức nhìn về sự kiện Mùa xuân của các dân tộc năm 1848, người Nhật về cuộc Canh tân Minh Trị và người Ý nhìn về Risorgimento[*] để hiểu biết rõ hơn về dự án của ông Tập. Tư tưởng Tập Cận Bình không gì khác hơn là một chương trình tái sinh một nhà nước-dân tộc Trung Hoa thời hậu cộng sản (dù không phải là thời hậu độc đảng).
Tên gọi đầy đủ của chương trình này, “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc điểm Trung Quốc cho một kỷ nguyên mới” tiết lộ điểm then chốt. Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc đã từng là trụ cột trong tuyên truyền của đảng Cộng sản kể từ thời ông Đặng. Thời đại mới, thời đại ông Tập, vẫn đang được hình thành. Công cuộc chuyển hóa kép cần thiết để báo hiệu cho nó – chuyển hóa quân đội PLA và chuyển hóa cả dân tộc Trung Hoa – vẫn đang được thực thi. Hãy tìm cực điểm trong dự án chính trị của ông Tập, sự sinh thành một nhà nước-dân tộc Trung Quốc mới, ở lễ kỷ niệm 100 năm đảng Cộng sản vào năm 2022. Cho đến lúc đó, chúng ta chỉ có thể ước đoán tương lai sẽ như thế nào. Có lẽ chính ông Tập cũng không biết, nhưng chắc chắn ông ta sẽ có câu trả lời sau 5 năm nữa.
Salvatore Babones là Phó giáo sư Xã hội học và Chính sách Xã hội, Đại học Sydney, Australia – tác giả sách “Thiên hạ kiểu Mỹ: tiền Trung Quốc, sức mạnh Mỹ và điểm tận cùng của Lịch sử”.

Chu Mộng Long - Nhìn nhận khách quan Cách mạng Tháng Mười Nga.

Tham luận ngắn kỉ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga.


Bài viết nhìn nhận khách quan trên quan điểm lịch sử. Quan điểm lịch sử hiển nhiên phải dựa vào thành bại của lịch sử, kiểm chứng lý luận bằng thực tiễn.

Đây là cuộc cách mạng dựa trên nền tảng một lý thuyết đồ sộ là chủ nghĩa Marx chứ không là cuộc cách mạng tự phát, mặc dù giai cấp nông dân, kể cả công nhân, đi theo cách mạng không thể hiểu lý thuyết ấy là gì.

Không thể phủ nhận Cách mạng Tháng Mười Nga là cơn địa chấn lịch sử làm thay đổi cuộc sống và nhận thức của cả nhân loại. Tôi nói gọn hai tác động sâu sắc của nó như sau:

1) Khi người cộng sản giành thắng lợi bằng bạo lực và tuyên bố sự giãy chết tất yếu của chủ nghĩa tư bản, chính những cuộc cách mạng đó đã buộc chủ nghĩa tư bản phải nhìn ra sự man rợ của nó, từ đó nhận thức và điều chỉnh vì sự sống còn của nó. Kết quả, chủ nghĩa tư bản khôn ngoan hơn người cộng sản nhầm tưởng. Nó không giãy chết trong thứ dục vọng vơ vét tài nguyên và bóc lột người một cách man rợ nữa. Nó nhanh chóng "tự chuyển hóa" từ chủ nghĩa tư bản hoang dã thành chủ nghĩa tư bản văn minh. Nó biết mang lợi ích tư bản chia sẻ cho phúc lợi xã hội, biến người lao động từ vô sản thành một phần máu thịt tư bản. Người lao động có nhà cửa, ruộng đất và có cổ phần trong các nhà máy, xí nghiệp tư bản; và như vậy, chủ nghĩa tư bản tự tạo ra cơ chế nếu người lao động chống tư bản là tự tước đoạt miếng cơm manh áo của chính mình.

Đó là lý do nhà nước tư bản từ độc tài chuyển sang nhà nước dân chủ đa nguyên để kiểm soát dục vọng tư bản. Chủ nghĩa tư bản không bao giờ tin có chủ nghĩa cộng sản mà chỉ có TƯ HỮU CÔNG BẰNG thông qua sự cạnh tranh lành mạnh nhờ sự trọng tài của nhà nước đa nguyên.

2) Cũng bắt đầu từ khi giành thắng lợi bằng bạo lực, người cộng sản rơi vào “kiêu ngạo cộng sản” (Lenin), tự cho mình là “đỉnh cao trí tuệ”, “vô địch muôn năm” nên kiên quyết chống lại “chủ nghĩa xét lại” và dùng bạo lực trấn áp mọi tiếng nói khác, dù trải qua rất nhiều sai lầm bằng máu. Kết quả, lý thuyết làm chỗ dựa cho chủ nghĩa cộng sản chỉ còn là các tín điều tôn giáo kiểu mới: tôn thờ thần tượng dẫn đến tôn thờ quyền lực, xem người lao động chỉ là những con chiên ngoan đạo phục tùng tuyệt đối quyền lực. Khi trở thành con chiên ngoan đạo phục tùng tuyệt đối quyền lực, người vô sản mãi mãi vô sản vì cái lý tưởng công hữu viển vông; ngược lại, kẻ có quyền lực trở thành những ông chủ tư bản sở hữu toàn diện từ vật chất đến tinh thần, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng. Phép phủ định biện chứng cực kỳ phản động của Hegel về một nhà nước pháp quyền mà Marx phê phán triệt để lại là cái bẫy cho người cộng sản chui vào và tận dụng triệt để hòng đảm bảo tư cách Thượng Đế cho những ông vua độc tài kiểu mới.

Nói nôm na, khi "tước đoạt kẻ đã tước đoạt mình", giai cấp vô sản vẫn trắng tay vì nó phải cúc cung tận tụy phục vụ các Thượng Đế đang thống trị trên trần thế cho đến khi nó không còn sức để phục vụ nữa.

Sự sụp đổ của nhà nước xô viết là tất yếu khách quan, bởi cái bẫy phủ định biện chứng đó không chỉ siết cổ người lao động trong tình cảnh túng quẫn: thiếu lương thực, thiếu sự khai phóng tinh thần, mà nó còn siết cổ chính những ông chủ đang điều hành cái nhà nước độc tài nhân danh CÔNG HỮU HÓA kia. Khi người lao động không còn cái ăn và sáng tạo thì các Thượng Đế của họ cũng phải rời khỏi trần thế để về đúng chỗ là Thiên đường Công hữu ở trên trời.

Xu thế tất yếu của loài người là vươn đến kiến tạo một thế giới văn minh ngay tại cuộc sống trần thế, ở đó người lao động có mọi quyền được hưởng: quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Bất cứ nhà nước nào tước đoạt những quyền tối thiểu đó ắt sụp đổ. Nhưng nghiệt ngã thay, trong lúc đam mê quyền lực và đam mê làm giàu, kẻ có quyền không bao giờ nghĩ đến bài học xương máu đó, ngoài hô to khẩu hiệu tự sướng: muôn năm!

Chu Mộng Long 

----------------

P/S: Nội dung này tôi từng phát biểu công khai tại buổi thảo luận khi học lớp Trung cấp chính trị. Hiệu trưởng Trường Đảng xin ghi âm để tham khảo và khuyến khích viết thành bài đăng trên Tạp chí Cộng sản.

(FB Chu Mộng Long)

Cách mạng tháng 10 không ảnh hưởng nhiều lên Cách mạng Việt Nam

Kính Hòa RFA

clip_image002
Những người Bolshevik có vũ trang trong Cách mạng tháng 10 Nga. Ảnh chụp tháng 11 năm 1917. AFP
Đầu tháng 11 tới đây, đánh dấu 100 năm kỷ niệm ngày những người cộng sản Nga thực hiện thành công cuộc cách mạng cộng sản thường được gọi là Cách mạng tháng Mười (tính theo lịch Nga cũ).
Cuộc cách mạng này có ảnh hưởng thế nào đến cuộc cách mạng cộng sản tại Việt Nam?
Sau đây là nhận xét của nhà văn Vũ Thư Hiên về ảnh hưởng này.
Nhà văn Vũ Thư Hiên, năm nay 84 tuổi, cũng là một dịch giả của một số tác phẩm từ tiếng Nga sang tiếng Việt, từng học ở Liên Xô cũ. Ông sống lưu vong ở Pháp từ năm 1995 đến nay. Trong những tác phẩm của ông, nổi tiếng nhất là Đêm giữa ban ngày, thuật lại những uẩn khúc chính trị liên quan đến những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam.
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Tôi nghe đến Cách mạng tháng 10 Nga là từ những người cộng sản thế hệ của cha tôi. Lúc đó người ta chỉ nghĩ rằng nước Nga là một nước quân chủ, phong kiến, có xảy ra một cuộc cách mạng, và cuộc cách mạng ấy thành công. Họ biết rất lơ mơ về những gì xảy ra ở nước Nga, nhưng người ta coi đó như là một tấm gương, để thoát khỏi triều đình phong kiến, cũng như thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp, bằng một cuộc đấu tranh như đã xảy ra ở nước Nga vào năm 1917. Lúc đấy tôi còn rất nhỏ, chỉ hiểu đến thế thôi, và tôi nghĩ rằng những người cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ cũng hiểu rất lơ mơ về Cách mạng tháng 10/1917. Đối với họ đó như là một tấm gương ở xa, chứ không hiểu biết nhiều về nó.
Tôi nghĩ là ở Việt Nam, căn cứ vào hoạt động của các tổ chức cách mạng, thì Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc ảnh hưởng lớn hơn Cách mạng tháng 10 Nga nhiều, trừ đảng cộng sản, họ luôn nói đến Cách mạng tháng 10.
Nhà văn Vũ Thư Hiên
Kính Hòa: Năm nay là năm thứ 100 từ ngày xảy ra cuộc cách mạng đó. Ông đánh giá ảnh hưởng của nó như thế nào đến dòng chảy của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ 20?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Tôi cho rằng nó đã gây ra một cơn bão trên thế giới, và lúc đó thì ở Trung Quốc, Việt Nam, và những nước khác đều bị ảnh hưởng, ảnh hưởng nhiều hay ít là tùy theo tình hình từng nước. Nhưng ở Việt Nam, theo tôi ảnh hưởng là không lớn, bởi vì nước Việt Nam là một nước nhỏ, và ảnh hưởng của Trung Quốc thì lớn hơn. Tôi nghĩ là ở Việt Nam, căn cứ vào hoạt động của các tổ chức cách mạng, thì Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc ảnh hưởng lớn hơn Cách mạng tháng 10 Nga nhiều, trừ đảng cộng sản, họ luôn nói đến Cách mạng tháng 10. Nhưng sự hiểu biết rằng nó diễn biến như thế nào, rồi những cuộc đấu tranh của Chính phủ tư sản Kerensky thì mãi về sau này, người ta đọc thì mới biết, chứ còn khi đó thì người ta chỉ biết lơ mơ thôi.
Kính Hòa: Khi Đảng Cộng sản Việt Nam giành được quyền lực trên đấu trường chính trị Việt Nam, thì kể từ đó đã đi theo quĩ đạo của Cách mạng tháng 10 Nga?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Tôi cho là họ chẳng theo cái quĩ đạo nào cả, bởi vì họ có biết cái gì đâu. Cho nên trong cuộc đấu tranh lúc bấy giờ chỉ có một mục tiêu rất rõ ràng là thoát khỏi ách nô lệ. Và chính cái động cơ đấu tranh để giành lại nền độc lập, không còn nô lệ nữa, sự thoát khỏi thân phận nô lệ của mỗi người dân Việt Nam mới là cái động lực chính cho cuộc đấu tranh chứ không phải do ảnh hưởng từ bên ngoài.
Trung Quốc họ bị ảnh hưởng Cách mạng tháng 10 Nga vì họ có chung biên giới với Liên Xô, còn Việt Nam tôi không thấy có ảnh hưởng gì lớn. Một số người đã đi học ở Trường Đại học Phương Đông về như là ông Nguyễn Khánh Toàn, ông Bùi Công Trừng, Dương Bạch Mai, cũng đều không có cái tác động mạnh mẽ bằng những người mà bây giờ ta gọi là chủ nghĩa quốc gia, có nghĩa là nói đến chống Pháp thì mọi người nghe, chứ còn nói chuyện bên Nga nó như thế nào thì rất là mơ hồ. Nó là bức tranh đẹp, nhưng bức tranh ấy không đủ quyến rũ bằng cái bức tranh của một cuộc vùng dậy chống lại chế độ thực dân.
Kính Hòa: Thưa ông dù sao thì kể từ năm 1954, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có những quan hệ rất là khăng khít với nước Nga Xô Viết.
Nhà văn Vũ Thư Hiên: À, từ năm 1954 trở đi thì phải nói là cái ảnh hưởng của Liên Xô là rất mạnh mẽ. Người ta đua nhau học tiếng Nga, rồi lần lượt có một số đoàn học sinh được cử đi học bên Nga. Những người đầu tiên theo tôi biết là đi qua Trung Quốc rồi đến Liên Xô học từ những năm 1952, 1953.
Tôi cho rằng cái ảnh hưởng của văn học Nga đến văn học Việt Nam không nhiều lắm đâu.
Nhà văn Vũ Thư Hiên
Từ 1954, không kể những viện trợ quân sự của Liên Xô, chuyện bình thường giữa các nước xã hội chủ nghĩa với nhau, còn có rất nhiều những chuyên gia Liên Xô sang. Phải nói là người ta nhìn những chuyên gia Liên Xô bằng con mắt tin cậy. Có thể là tôi nhận xét không đúng lắm khi so sánh chuyên gia Liên Xô với chuyên gia Trung Quốc thì có cái sự kính trọng người phương Tây, những người da trắng Liên Xô hơn là chuyên gia Trung Quốc.
Kính Hòa: Là dịch giả của một tác phẩm văn học Xô Viết nổi tiếng là Bông Hồng Vàng của Paustovsky, ông nhận xét thế nào về ảnh hưởng của văn hóa Nga lên Việt Nam lúc đó và về sau này?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Tôi cho rằng cái ảnh hưởng của văn học Nga đến văn học Việt Nam không nhiều lắm đâu. Cái cuốn Bông Hồng Vàng là phát súng đánh vào thành trì của lối viết tuyên truyền chứ không phải lối viết văn học. Cái văn học tuyên truyền là người tốt việc tốt, làm có mục đích, cổ động nhiều hơn là một văn học đích thực.
Cái lối viết văn của Paustovsky không những có một ảnh hưởng mạnh mẽ ngay ở Nga, mà nó còn tạo ra một dòng văn học lãng mạn sống trong lòng xã hội chủ nghĩa vốn không thích nó.
Ảnh hưởng của Paustovsky đối với Việt Nam là mạnh mẽ, đặc biệt đối với các nhà văn sau này như Dương Thu Hương, Đỗ Chu. Hàng loạt nhà văn cảm thấy được mình, tháo cái vòng kim cô người tốt việc tốt, họ có thể viết lãng mạn hơn, đi xa khỏi thực tế đời sống để ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, của tình yêu.
Có rất nhiều những cuốn sách của nước Nga, chứ không phải Liên Xô, như là Lev Tolstoy, Gogol, đi theo cái ảnh hưởng của Liên Xô vào Việt Nam, nhờ đó mà chúng ta mở rộng tầm mắt đối với cái nền văn học không phải là văn học Xô Viết.
V.T.H. – K.H.

Cách Mạng Tháng Mười Tại Nga

Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA

2017-10-10
clip_image001
clip_image002
Người biểu tình ở Moscow vào năm 1917. Courtesy AFP
Đầu năm nay, Chính quyền Liên bang Nga không rầm rộ tổ chức lể kỷ niệm ngày tiêu vong của Đế quốc Nga với việc Hoàng đế Nicolai Đệ Nhị thoái vị trong cái gọi là “Cách mạng Tháng Hai”. Tới cuối năm, họ cũng khá kín đáo với việc Liên bang Xô viết ra đời với cuộc “Cách Mạng Tháng 10”. Thật ra, cuộc cách mạng này dẫn tới nhiều thảm họa trên thế giới và cần được đánh giá lại. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu việc đó.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, cách nay 100 năm, nước Nga có hai biến cố lịch sử khi chế độ Sa hoàng sụp đổ vào Tháng Hai rồi chế độ cộng sản ra đời vào Tháng 10 năm 1917. Ngày nay, dường như người dân Liên bang Nga còn phân vân về hai biến cố gọi là cách mạng trong khi Chính quyền cũng có vẻ kín tiếng về chuyện đó, ông giải thích thế nào về việc này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi xin đề nghị cách nhìn khác với một giác độ mở rộng hầu chúng ta có thể rút tỉa được nhiều bài học cho tương lai sau khi nhớ tới hai chuyện. Thứ nhất là chế độ cộng sản ra đời tại Liên bang Xô viết được các sử gia đánh giá là một tai họa cho nhân loại vì khiến hơn trăm triệu người thiệt mạng trên thế giới. Thứ hai là Tổng thống Vladimir Putin của Liên bang Nga từng đánh giá rằng việc Liên Xô tan rã năm 1991 là một thảm họa. Vì họ khó dung hòa hai điều trái ngược ấy nên chúng ta hiểu ra sự phân vân của người Nga, phần tôi thì xin được nhìn lại sự thể trong một viễn ảnh dài.
- Trăm năm trước, một số trí thức tiến hành một cuộc cách mạng với niềm xác tín nhuốm mùi tôn giáo là từ nay nhân loại sẽ sống thịnh vượng, bình đẳng và tự do hạnh phúc. Họ lập ra chế độ cộng sản đầu tiên trên địa cầu, gieo rắc tai ương cho thế giới khiến cả trăm triệu người chết rồi tự sụp đổ chỉ sau có 74 năm cầm quyền, từ 1917 tới năm 1991 là khi Liên Xô tan rã. Vì sao lại có hiện tượng lạ lùng này?
Họ lập ra chế độ cộng sản đầu tiên trên địa cầu, gieo rắc tai ương cho thế giới khiến cả trăm triệu người chết rồi tự sụp đổ chỉ sau có 74 năm cầm quyền, từ 1917 tới năm 1991 là khi Liên Xô tan rã.
Nguyễn Xuân Nghĩa
Nguyên Lam: Quả nhiên là vì sao lại có hiện tượng lạ lùng đó, và vì sao ông lại nói tới một số trí thức?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Như mọi khi, tôi xin nói về bối cảnh sâu xa đã. Chúng ta phải trở ngược về thời gọi là Minh Triết, Enlightenment hay Siècle des Lumières của Âu Châu mà nổi bật nhất là tại Pháp từ quãng 1715 tới 1789, là khi có cuộc Cách mạng Pháp. Khi ấy, giới trí thức ưu tú của nhiều lãnh vực cứ tin vào lý trí và khoa học mà cho là nhân loại có sự tiến hóa tất yếu đến một kỷ nguyên thái hòa và bình đẳng. Ai thúc đẩy sự tiến hóa ấy nếu không là giới trí thức, với khí giới hay khí cụ là lý trí? “Chủ nghĩa duy lý” xuất phát từ đó.
- Khi còn trẻ, tôi cũng tin vậy và coi triết gia Jean Jacques Rousseau người Thụy Sĩ nổi tiếng tại Pháp là thần tượng. Sau này, trưởng thành hơn thì mới thấy là từ Rousseau bên cánh tả sẽ xuất hiện Maximilien Robespierre là trí thức cha đẻ của khủng bố thời Cách mạng Pháp từ những năm 1793. Nhưng Robespierre chưa thấm gì so với các trí thức hậu duệ sau này, mà chói lọi nhất Vladimir Lenin. Chuyện này hơi rắc rối nên tôi xin đi chầm chậm!
Nguyên Lam: Thính giả của chúng ta không ngờ là từ việc kỷ niệm trăm năm chủ nghĩa cộng sản mình phải trở ngược lên thế kỷ 18 tại Âu Châu. Xin đề nghị ông  giải thích cho…
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Chúng ta đừng quên rằng sau khi tin vào Thượng Đế hay Tôn Giáo, giới trí thức tiến bộ nhất Âu Châu tin vào lý trí và khoa học, đấy là thời kỳ Minh Triết. Họ gặp hai mâu thuẫn mà khi đó chưa biết. Vài trăm năm sau thì ta mới biết. Thứ nhất, nếu nhân loại tất nhiên tiến hóa theo một hướng nhất định thì vì sao còn cần sự hướng dẫn hay thúc đẩy của trí thức? Câu trả lời là họ mắc bệnh tự sùng bái và phát minh ra chữ “phản động” để đả kích các tư tưởng khác là đi ngược quy luật tiến hóa. Mâu thuẫn thứ hai là vì bệnh tự mê đó, giới trí thức tự xưng tiến bộ cần sửa sự tiến hóa duy lý ấy khi nó tiến theo kiểu gọi là chệch hướng! Tức là họ đi tìm và tạo ra một sự hợp lý khác, bất chấp thực tế vốn dĩ phức tạp hơn các khái niệm trừu tượng của họ. Cho nên, đầu nguồn của tội ác cộng sản là sự chủ quan kênh kiệu của một số trí thức! Nghe cái này thì ai cũng ngỡ ngàng nên tôi mới cần giải thích chầm chậm!
Nguyên Lam: Nếu vậy, xin ông đi từ thời Minh Triết và giới trí thức của thế kỷ 18, 19 cho tới chế độ cộng sản…
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tiêu biểu cho đám trí thức kiêu mạn là Karl Marx của Đức. Ông tưởng nhân loại sẽ tiến hóa tới chốn thiện mỹ, mọi người sẽ hết bị khan hiếm về kinh tế mà sống thịnh vượng và bình đẳng trong một xã hội hết còn giai cấp sau một cuộc cách mạng từ hình thái này lên hình thái khác. Ông tin vào một số lý luận nhiều mâu thuẫn và mường tượng ra một thời kỳ quá độ, chuyển tiếp, khi giai cấp vô sản tất yếu lập ra nền chuyên chính. Chuyện ấy không tự động xảy ra và không xảy ra tại Đức là xứ tiên tiến nhất Âu Châu thời ấy. Nó xảy ra bên Nga nhờ một trí thức khác là Lenin, được quân Đức đưa về Nga để làm suy yếu Đế quốc Nga giữa Đệ nhất Thế chiến và Lenin thành cha đẻ của Liên Xô và chế độ cộng sản.
- Có thời gian nhìn lại thì Marx là trí thức tiên báo điều không tưởng rằng sự tiến hóa tất yếu của nhân loại theo duy vật sử quan hàm hồ. Lenin mới là loại trí thức siêu hạng của tội ác vì tiến xa hơn Marx khi chủ trương là không để xã hội vận hành tự nhiên từ chế độ này qua chế độ khác một cách tiệm tiến mà đề cao việc xây dựng một đảng cộng sản gồm những tay cách mạng chuyên nghiệp để cướp chính quyền và tiêu diệt mọi giải pháp cải lương. Không sống trong tháp ngà như Marx, Lenin đi vào hành động và viết lý luận cho hành động, kể cả và nhất là hành động khủng bố lẫn lối suy nghĩ là đảng cộng sản phải giữ độc quyền chân lý từ tư tưởng ở trên tới lập trường chính trị và tổ chức kinh tế ở dưới. Nhưng đến phần tổ chức kinh tế thì Lenin lại hoang tưởng về khả năng giải quyết nạn khan hiếm khi cho rằng việc quản lý kinh tế cũng đơn giản như việc phát thơ!
Nguyên Lam: Thưa ông, phải chăng từ Karl Marx tới Vladimir Lenin thì hai nhà trí thức ấy đã củng cố ách độc tài và dẫn tới những tai họa của chế độ cộng sản?
Họ không lập ra nền chuyên chính vô sản như Marx mơ tưởng mà đặt ách chuyên chính lên đầu giai cấp vô sản và diệt hết mọi đối thủ ngay trong đảng.
Nguyễn Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa – Có lẽ sau giới trí thức ta cần nhìn thấy sự xuất hiện của các tay bá đạo trong bộ máy cộng sản. Lenin tiến xa hơn Marx mà khi tiêu diệt mọi giải pháp tư tưởng hay chính trị khác. Vì vậy, khi phe BônSơVích của ông nắm chính quyền là phe MenSơVích vào tù và sau này, phe Đệ Tam của Cộng sản đã thủ tiêu phe Đệ Tứ cũng của Cộng sản. Đó là chuyện bên trong. Chuyện bên ngoài là chế độ cộng sản thành hình tại Nga là nhờ Thế chiến I từ 1914 tới 1918. Trong cuộc chiến giữa Nga và Đức, Lenin được quân Đức đưa về Petrograd của Nga, nay là St. Petersburg, để loại Đế quốc Nga khỏi vòng chiến. Nương theo cuộc cách mạng tư sản chống chế độ Sa hoàng vào Tháng Hai 1917, khi Đế quốc Nga đang kiệt quệ, hạt nhân cộng sản của Lenin cướp chính quyền trong cái gọi là “Cách Mạng Tháng Mười” và mở ra mấy năm nội chiến khiến dân Nga chết mấy triệu người. Cách mạng đó không đi theo quy trình tất yếu như Marx tiên đoán mà là hành động chuyên nghiệp với phương pháp khủng bố. Cái ác từ đầu nguồn chính là Lenin. Sau đó mới là công trình của Josef Stalin, Mao Trạch Đông hay các tên đồ tể khác của cộng sản…
Nguyên Lam: Như vậy, phải chăng lý tưởng ban đầu của chủ nghĩa cộng sản là xây dựng một chế độ hết còn bóc lột và người người đều có thể làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu như họ nói lại kết thúc với tàn sát và bóc lột? Thưa ông, phải chăng vì vậy mà cả trăm triệu người đã chết vì khủng bố, đấu tố và chiến tranh?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Chúng ta nên nhớ cộng sản xuất hiện từ các trí thức duy ý chí như Marx, Lenin hay Trotsky, là tay trí thức đã thành lập Hồng quân Liên Xô rồi bị Stalin ám sát. Từ đám trí thức có chủ trương nắm quyền tuyệt đối về sau mới có bọn bá đạo lên ngôi bạo chúa như Stalin tại Nga hay Mao ở bên Tầu. Đám côn đồ ấy chả quan tâm đến giai cấp hay bóc lột mà chỉ lo cho quyền lực tối cao như mục tiêu hơn là phương tiện. Họ không lập ra nền chuyên chính vô sản như Marx mơ tưởng mà đặt ách chuyên chính lên đầu giai cấp vô sản và diệt hết mọi đối thủ ngay trong đảng. Đấy là hậu quả từ sáng kiến “dân chủ tập trung” của Lenin. Từ trong ra ngoài thì người cộng sản luôn luôn phát huy tinh thần phản chiến hay ngụy hòa tại các nước khác để giải giới họ mà vẫn gieo mầm cộng sản và tạo ra chiến tranh ở nhiều nơi khiến trăm triệu người chết. Một nơi đó chính là Việt Nam với hạt nhân là Hồ Chí Minh.
Nguyên Lam: Chúng ta sẽ còn nhiều cơ hội trở lại đề tài kỳ lạ này. Vì thời lượng có hạn, xin ông nêu ra vài kết luận cho chương trình hôm nay
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi xin có vài kết luận nhỏ. Thứ nhất, “ta nên hoài nghi các tư tưởng cao đẹp mà biện minh cho bọn sát nhân”. Thứ hai, “giới trí thức Âu Châu truyền bá tư tưởng cao đẹp ấy mà chẳng biết là sẽ nặn ra một lũ đồ tể”. Thứ ba, sở dĩ như vậy là “trí thức cho bạo quyền tiêu diệt bất cứ ai đi chệch hướng của họ”. Thứ tư và để minh diễn nghịch lý này, ta thấy “các lãnh tụ cộng sản Á Châu đều sính làm thơ, khi đó các nhà thơ đều có thể bị đấu tố nếu không chịu làm văn nô nằm dưới sự lãnh đạo của đảng”. Sau cùng, “qua thế kỷ 21, các bạo chúa đều hết tư tưởng mới, nhưng ta vẫn nên cẩn thận với khả năng của loại trí thức tự xưng tiến bộ như trí thức của thế kỷ 19!”
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích kỳ này.
N.X.N. – N.L.

100 năm Cách mạng Tháng Mười (7/11/1917–7/11/2017) – Những gì mắt thấy tai nghe

Lê Phú Khải

Truyền thông Việt Nam đang đồng loạt đăng những bài viết ca ngợi Cách mạng Tháng 10 Nga. Dự kiến Hà Nội sẽ chủ trì lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng 10 với số khách mời 3500 người, lễ kỷ niệm được trực tiếp truyền hình và phát thanh trên cả nước VN. Hưởng ứng sự rầm rộ đó, Bauxite Việt Nam xin đăng lại một bài viết cũ của nhà báo Lê Phú Khải đã đăng trên trang này hồi tháng 4/2017, cùng với vài dòng cảm nghĩ bổ sung của ông. 
Bauxite Việt Nam
Hiện nay người ta đang kỷ niệm rầm rộ 100 năm Cách mạng Tháng 10, đó chẳng qua là sự đánh tráo lịch sử để duy trì chế độ độc đảng. Là người có mặt tại Liên Xô những ngày chế độ Xô Viết hấp hối, tôi đã nghe tận tai, nhìn tận mắt những gì xảy ra ở Liên Xô trong năm 1991. Các bạn trong Ban tiếng Việt Đài phát thanh đối ngoại Mátxcơva nói tiếng Việt rất thạo đã tâm sự với tôi về tình cảnh hấp hối của nước Nga. Nếu Cách mạng Tháng 10 Nga không phải là một ngẫu nhiên lịch sử thì sự sụp đổ của Liên Xô cũng không phải là ngẫu nhiên của lịch sử. Bài viết này lý giải điều đó.
Lê Phú Khải
I. Những gì mắt thấy tai nghe
May mắn cho người viết là được có mặt ở Liên Xô đầu năm 1991 trong một chuyến đi “công tác” được chứng kiến tận mắt, nghe tận tai, do các bạn Nga trong ban Tiếng Việt của Đài Phát thanh đối ngoại Liên Xô nói tiếng Việt rất thạo, nói về tình hình Liên Xô lúc đó. Tức tình hình Liên Xô lúc gay cấn nhất và chỉ vài tháng sau, Liên Xô tan rã. Sở dĩ tôi đặt chữ “công tác” trong dấu nháy (“ ”) vì thực chất là đi chơi, nói đi công tác để cho oai mà thôi (!). Hai nước với danh nghĩa trao đổi phóng viên, hàng năm có những cuộc giao lưu, lúc vui vẻ thì người ta đi hết rồi, nay mới đến lượt tôi, kẻ thường trú tận mãi đồng bằng Sông Cửu Long xa xôi.
Từ TP.HCM, tôi ra Hà Nội và nằm chờ máy bay để đi Matxcơva. Gia đình, bạn bè trong giới báo chí văn nghệ, ai cũng ái ngại cho tôi. Vì lúc đó Liên Xô rất khổ, cái gì cũng thiếu thốn, còn thiếu thốn và “nghèo” hơn cả Việt Nam lúc đó! Có bạn thật thà hỏi tôi: Nghe nói ông ở trong ấy, viết lách cũng được, bài gửi ra, Đài phát thanh liên tục, báo Nhân dân đăng liên tục, vậy mà sao người ta lại kỷ luật đày ông đi Liên Xô lúc này?! Trước lúc bay, tôi lên Bộ Thủy sản gặp Bộ trưởng Nguyễn Tấn Trịnh. Ông Trịnh cho tôi 10 chai Lúa mới, 10 cây thuốc lá Vinataba để làm quà cho các bạn trong Ban Tiếng Việt Đài Mátxcơva. Ông Trịnh còn viết cho tôi một lá thư bằng tiếng Nga gửi cho Bộ trưởng Bộ Nghề cá Liên Xô đề phòng có khó khăn gì thì tôi gặp Bộ trưởng Nghề cá Liên Xô nhờ giúp đỡ. Sở dĩ có sự ưu ái này vì tôi tuy không ở trong ngành thủy sản nhưng được Bộ trao nhiều bằng khen và sau này còn trao “Huy chương vì sự nghiệp phát triển nghề cá”. Lúc đó ở Liên Xô Goocbachôp đang cấm rượu nên ông Bộ trưởng tặng “Lúa mới” Việt Nam là tâm lý lắm!
Vợ tôi mua cho tôi son phấn, bút kẻ lông mày… để tặng Irina, nữ Trưởng ban Việt ngữ đài Mátxcơva. Cô em dâu họ mua hộ tôi 10 cái đồng hồ điện tử để “bán lấy tiền tiêu vặt”! Riêng tôi mua hai bình hoa sơn mài Việt Nam và 10 cây viết “bic” Mỹ tặng Ban Việt ngữ đài Mát. Cái vali đi “công tác” của tôi nặng như cái cùm! Chỉ nhìn vào những thứ mà tôi mang đi Liên Xô, cũng đã nói lên sự khan hiếm hàng hóa ở Liên Xô lúc đó.
Mátxcơva tháng 3-1991, đi trên đường phố, lên xe buýt, xuống tàu điện ngầm thấy một không khí rất trầm uất. Người Nga nào mặt mũi cũng đăm chiêu, hình như trong đầu họ chứa chấp nung nấu, dồn nén một cái gì ghê gớm lắm. Không ai nói với ai một câu nào, không thấy một nụ cười nào trừ những nụ hôn say đắm của những cặp trai gái siết chặt lấy nhau dưới ga tàu điện ngầm! Không khí xã hội oi bức như đêm trước của một ngày giông bão lớn hôm sau. Nhìn những bà già buồn bã xếp hàng mua dưa chuột muối, những người đàn ông Nga to lớn xếp hàng rồng rắn để mua những cái pin nhỏ bé cho chiếc đồng hồ điện tử đeo tay của mình. Tôi không khỏi ngậm ngùi cho số phận của nhân dân Xô Viết. Chính những bà cụ già kia là mẹ của những chiến sĩ Hồng quân đã hy sinh trong chiến tranh giữ nước vĩ đại. Chính những người công dân Nga to lớn đang xếp hàng mua pin cho chiếc đồng hồ điện tử của mình là những người đã bay lên vũ trụ đầu tiên trong lịch sử con người. Tôi hỏi một bạn trong ban Việt ngữ đài Mátxcơva thì được đồng nghiệp của tôi trả lời (bằng tiếng Việt): “Thời Brêgiơnep thì cái gì chúng tôi cũng có, nhưng chẳng bằng ai. Còn bây giờ cải tổ thì chẳng có cái gì cả!”.
Tôi muốn dừng ở đây để nói về cái vế “cái gì cũng có nhưng chẳng bằng ai”! Đúng là như thế. Tôi nhờ một đồng nghiệp là phóng viên nhiếp ảnh, và khó khăn lắm, anh mới mua hộ tôi một cái máy ảnh nhãn hiệu Zenit nổi tiếng của Liên Xô còn tương đối mới để làm kỷ niệm cho chuyến đi. Nhưng cái máy ảnh này không có đèn flash. Muốn chụp có đèn phải gắn cái đèn vào máy, và cái đèn flash đó, lại có dây điện để mỗi khi muốn chụp có đèn thì dùng dây cắm vào ổ điện. Mỗi khi di chuyển, phải rút ổ cắm ra, rồi lại cắm vào ổ khác mới chụp có đèn được! Làm được vệ tinh, vũ khí hạt nhân… nhưng hàng tiêu dùng cho nhân dân thì tồi tệ đến thế. Cái đồng hồ điện tử bấy giờ ở Hà Nội trẻ em đi học cũng có để đeo tay. Thế mà ở Mátxcơva lúc đó là thứ thời thượng với đàn ông Nga. Vì thế mới có cảnh xếp hàng rồng rắn để mua pin cho đồng hồ điện tử!!! Lúc đi, cái vali của Trần Kiên trưởng đoàn của tôi đã ắp những quần lót phụ nữ hàng Thái Lan. Ông Trưởng đoàn của tôi có vợ đang lao động làm thuê bên Nga nên ông đem sang cho vợ bán. Vì thế, khi Ban Tiếng Việt đài Mát mời tôi và Trần Kiên phát biểu cảm tưởng trên đài, tôi đã nói: Khi đi từ Hà Nội sang Mát, tôi thấy mọi người đều đem quần áo lót phụ nữ sang Liên Xô để bán. Điều đó chứng tỏ rằng, Liên Xô chỉ vĩ đại ở tầm vĩ mô, nhưng phần vi mô thì cái quần lót phụ nữ lại thiếu!!! (Qua tấm kính phòng thu âm, tôi thấy các bạn Nga đều gật gù tán đồng). Nhưng khi tôi nói tiếp: Tôi tin là công cuộc cải tổ ở Liên Xô hiện nay sẽ khôi phục những nguyên tắc Lêninnít của chủ nghĩa xã hội… (nói đến đấy, tôi thấy mọi người bên ngoài đều lắc đầu, xua tay)!!!
Thì ra chính các bạn Nga, đã không tin gì công cuộc cải tổ sẽ đi đến đích. Có bạn còn hỏi tôi: Anh có biết vì sao Lênin là người nói đến dân chủ nhiều nhất ở Liên Xô không? Còn chưa biết trả lời thế nào, thì anh bạn đó đã nói: Vì có người thứ hai nói đến dân chủ thì đã bị ông ta đập đầu chết rồi! Chính người Nga đã chán ghét lãnh tụ của họ đến thế cơ mà! Thời gian ở Đài Mát, tôi còn được nghe rất nhiều giai thoại về chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, có thể thu gom để viết thành một cuốn sách “Tiếu lâm thời cộng sản”!
Tôi học thuộc mấy câu tiếng Nga. Lên xe buýt, tôi đứng ở đầu xe nói lớn: Tôi là nhà báo Việt Nam, xin hỏi các bạn: Goocbachôp? Cả xe đều lắc đầu, xua tay. Tôi lại hỏi: Enxin? Mọi người gật đầu tán thưởng. Lúc đó nhân dân đã chán Goocbachôp vì đời sống quá khó khăn và lại trông đợi vào Enxin.
Ở các cuộc biểu tình, người ta trưng biểu ngữ: Enxin là nước Nga!
Sắp đến ngày về Irina hỏi tôi: thế anh Phú Khải không định tìm hiểu cái gì à? Sở dĩ Irina hỏi thế vì ngày làm việc đầu tiên, Irina hỏi về các yêu cầu tìm hiểu của đoàn. Trưởng đoàn Trần Kiên nói một thôi. Irina ghi chép đầy đủ. Đến lượt tôi, tôi trả lời: Chẳng tìm hiểu cái gì cả! Irina hỏi tại sao? Tôi nói: Đi máy bay của hãng Liên Xô Aeroflôt thấy các cô tiếp viên đẹp như sao trên trời, sang đây thấy nhà cao cửa rộng, ga tàu điện ngầm như cung điện… là tìm hiểu rồi chứ còn gì nữa! Mọi người đã cười vui vẻ! Nhưng lúc này thấy Irina thật tình, tôi mới nói: Có định tìm hiểu, nhưng khó lắm! Chị tiếp lời: Thì anh Phú Khải cứ nói đi. Tôi trình bày rằng, muốn gặp một trí thức hàng đầu ở Mátxcơva để tìm hiểu về công cuộc cải tổ đang diễn ra đầy kịch tính ở Liên Xô, mà người phiên dịch phải là Irina! Tôi không ngờ chị cười và nói ngay: Dễ thôi, đi ngay bây giờ! Lên đến xe rồi, Irina bảo: Em đưa anh đi gặp viện sĩ, giáo sư X, người đang là Trưởng ban cải cách Hiến pháp Liên Xô. Đến lúc này thì tôi hoàn toàn bị Irina thuyết phục. Đúng như người ta đã ca ngợi chị là người xông xáo, là một nhà báo toàn năng, một nhà “Việt Nam học”, chị vừa là Trưởng ban Việt ngữ, vừa là nhà phát thanh viên Tiếng Việt số 1 của Ban Việt Ngữ. Cặp đôi phát thanh viên Trần Phương giọng Nam bộ, Irina giọng Hà Nội đã thu hút được người nghe đài đối ngoại Mátxcơva. Bà con nghe đài ở Chợ Lớn TP.HCM đã mê giọng phát thanh viên Irina và Trần Phương nên đã mời Irina sang TP.HCM đến 17 lần. Ở Ban Việt Ngữ đài Mát có hai nữ là Irina và Tanhia. Tanhia bố người Nga, mẹ người Việt dân Bến Tre. Bố Tanhia đi lính lê dương Pháp, chạy sang hàng ngũ Việt Nam và lấy vợ Bến Tre. Đến khi Tanhia hơn 10 tuổi mới theo cha về Nga, nhưng Tanhia nói tiếng Việt và hiểu tiếng Việt kém Irina xa. Ngồi trên xe, tôi mừng thầm là chuyến đi này đã đạt mục đích ở ngày cuối cùng. Duy có cái tên ngài viện sĩ dài như cầu Long Biên thì tôi không thể nhớ nổi! Tôi chào ông viện sĩ có vẻ bề ngoài rất quắc thước này bằng tiếng Pháp. Ông đứng hẳn dậy bắt tay tôi và lại ngồi xuống cái ghế bành bề thế. Irina giới thiệu tôi với ngài, tôi không hiểu nàng đã nói những gì mà lâu đến thế (!). Sau đó giục tôi: Anh hỏi đi. Tôi hỏi: Thưa ông viện sĩ, chúng tôi thường đọc sách và thấy Lênin nói, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô gấp triệu lần nền dân chủ ở các nước tư bản. Vậy bây giờ Liên Xô cải cách hiến pháp là dựa trên nguyên tắc, nguyên lý nào? Irina dịch và ngài viện sĩ trả lời qua lời dịch của chị: Chúng tôi đang nghiên cứu Montesquieu! Tôi nghe xong câu ấy thì đứng lên, cúi đầu rất thấp để cám ơn và chào ngài viện sĩ đáng kính này và nói với Irina: Thôi, thế là đã rõ. Chúng ta về thôi.
Ra đến cửa, tôi bảo với Irina: Vậy là quay lại thế kỷ 18 để thực hiện tam quyền phân lập. Chúng ta đã đi lộn đường mất hai thế kỷ rồi! Irina không nói gì cả. Lúc vào thang máy tôi nói: Việt Nam đi theo Liên Xô nên mới khổ thế này. Irina than: Thì nước Nga chúng em cũng đang rên xiết chứ sung sướng gì! Tôi lại bất ngờ vì từ “rên xiết” của chị. Đến một cô gái Hà Nội chính cống cũng không chọn được từ “rên xiết” chỉ cái tình cảnh nước Nga lúc này! Nhưng Irina lại đưa tôi đi tiếp, vì theo chị, còn nhiều thời gian. Đến một ngôi nhà cao tầng trong một khu phố không lấy gì là sang trọng, chị bảo tôi: Em đưa anh đi gặp Tổng bí thư của một đảng đối lập, tầng lầu mà chúng ta sắp lên là chính Đảng Cộng sản thuê cho đảng đối lập này làm trụ sở. Vậy là tôi lại hiểu thêm một “kênh” chính trị nữa ở Liên Xô lúc đó. Tổng bí thư đảng đối lập là một người đàn ông trung niên tầm thước, gương mặt hiền hòa nhưng có đôi mắt rất sáng. Trong cuộc trao đổi với ông, tôi nhớ hai câu nói đầy ấn tượng của chính trị gia tuổi trung niên này. Câu thứ nhất nói về Liên Xô: Liên Xô chúng tôi là một cái chiến hạm mắc cạn còn Việt Nam là một chiếc thuyền thúng không biết trôi dạt về đâu (!). Câu thứ hai nói về xã hội Xô Viết: Thằng Ivan nó không có gì cả thì nó không thể nên người được. Nó phải có gia sản thì mới nên người. (Ivan là cách nói tượng trưng chỉ người đàn ông Nga, như người Việt nói: anh Ất, anh Giáp – LPK). Khi chỉ còn tôi và Irina trong thang máy, chị lấy tay gỡ cái huy hiệu biểu tượng của đảng đối lập mà ông Tổng bí thư vừa gắn lên ngực áo tôi để làm kỷ niệm, vừa gỡ vừa nói: Em tịch thu của anh cái huy hiệu này!
Về đến Đài, để ăn mừng thắng lợi của buổi sáng, tôi lấy từ túi xách ra chai “Lúa mới”, khao các bạn Nga. “Lúa mới” Việt Nam tại Nga rất được ưa thích. Một lần vợ trưởng đoàn Trần Kiên đưa đến một bạn hàng của chị là một người đàn ông Nga. Tôi cũng mời anh ta một ly cối “Lúa mới”. Anh ta làm một hơi hết sạch, chùi ria mép, rồi ba hoa: “Nước Nga của chúng tao bao giờ cũng là một cái làng lớn đầy hủ tục (!)”. Người Nga thật thà như một tảng đá, không che giấu cái sức ỳ của chính mình!!!
Khi chúng tôi rời Liên Xô về Hà Nội, “kết thúc tốt đẹp chuyến công tác” thì các nước cộng hòa vùng Bantích đang biểu tình đòi ly khai khỏi Liên bang Xô Viết.
Không tiễn chúng tôi được, Irina gửi cho tôi một lá thư ngắn. Tôi không ngờ chữ của chị đẹp như thế (xem bút tích của Irina).
clip_image001
Tác giả trên cầu Mátxcơva (1991)
clip_image002
Tác giả với các bạn Nga (1991)
clip_image003
Biểu tình ở Mátxcơva với biểu ngữ “Enxin là nước Nga” (Ảnh LPK)
clip_image004
Irina (phải) và Tanhia (1991) (Ảnh LPK)
clip_image005
Bút tích của Irina (1991)
Về đến Hà Nội, gặp tù nhân vụ án Xét lại năm xưa Nguyễn Kiến Giang, ông khen bài phát biểu của tôi trên Đài Matxccơva là “được”! Đến báo Nhân dân, nhà báo Hữu Thọ biết tôi mới đi Liên Xô về dặn: Cậu đừng viết chửi Goocbachôp, người ta là nguyên thủ quốc gia, sẽ không có lợi cho ngoại giao hai nước. Tôi vừa đi Bắc Triều Tiên về. Kim Hạnh Tổng biên tập Tuổi Trẻ cũng đi, về đã viết bài chửi Triều Tiên, sứ quán người ta đang kiện mình kia kìa! Về đến thành phố bên sông Tiền nơi tôi đang thường trú vùng đồng bằng Sông Cửu Long, Phó Tổng biên tập báo địa phương là anh KT cũng nói nghe được bài phát biểu của tôi trên đài Mát. Lúc đó, trí thức Việt Nam quan tâm đến thời cuộc theo dõi tình hình diễn biến ở Liên Xô rất chặt chẽ qua chương trình phát thanh tiếng Việt của Liên Xô.
clip_image006
Nhà Xô Viết học Nguyễn Kiến Giang (trái) và tác giả (Ảnh chụp năm 2003)
clip_image007
Tượng Nguyễn Kiến Giang do điêu khắc gia Phạm Văn Hạng thực hiện
II. Thử lý giải
Một buổi sáng đẹp trời cuối tháng 8 năm 1991, tôi đang ngồi làm việc tại nhà riêng, nơi tôi thường trú tại TP. Mỹ Tho bên bờ sông Tiền êm ả, một người lao xe máy vào sân nhà, hối hả đưa tin về cuộc đảo chính Goocbachôp ở Liên Xô. Anh ta là một cán bộ của văn phòng Ủy ban tỉnh. Anh cho biết, thường vụ tỉnh ủy đã cho dắt một con bò về buộc ở trụ sở tỉnh ủy. Đợi đến chiều nay (21-8-1991) Goocbachôp bị bắt thì sẽ mổ bò ăn mừng (!). Anh hỏi ý kiến tôi, một nhà báo mới đi Liên Xô về, liệu Goocbachôp có bị bắt không? Tôi trả lời dứt khoát: Chiều nay sẽ thả bò ra!
Chiều tối hôm đó căn nhà nhỏ của tôi ngồi chật cứng các vị, tạm gọi là trí thức của tỉnh. Mọi người hỏi tôi vì sao nhà báo lại trả lời một cách chắc mẩm như đinh đóng cột là “Chiều nay sẽ thả bò ra”?!
Tôi phân giải: Đầu năm tôi có ở Liên Xô và đã thấy tận mắt, nghe tận tai người Xô Viết đã chán ngán chủ nghĩa xã hội như thế nào. Tôi đã nhìn thấy những sĩ quan và binh lính đứng gác trên quảng trường đỏ Mátxcơva vẻ chán trường đến tột độ. Họ sẽ không bắn vào ai cả. Cho dù ông giám đốc KGB hay ông Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô ra lệnh cho họ. Bây giờ giữa người lính cầm súng và người chỉ huy cao nhất của họ không còn là một nữa. Vì thế cuộc đảo chính do Phó Tổng thống Javanev, ông Thủ tướng Palov, ông Bộ trưởng Quốc phòng Yarov, ông Giám đốc KGB Kryuchkov ra tay thì cũng chẳng có ai nghe theo lệnh của “Ủy ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp” do các ông ấy nặn ra cả. Vậy thôi, Liên Xô sụp đổ không phải do một cá nhân nào như Stalin độc tài mà nó sai từ những nguyên tắc tồn tại, nguyên tắc cai trị, nguyên tắc cấu trúc quyền lực. Tôi đưa ra nhận xét nôm na rằng, giống như người vợ đã quá chán chét người chồng của mình sau nhiều năm chung sống. Người vợ dù không biết tương lai sẽ ra sao, cuộc hôn nhân mới sẽ xấu hơn hay tốt hơn, nhưng dứt khoát phải ly dị, dứt khoát từ bỏ người chồng của mình. Dứt khoát. Tôi cảm nhận toàn thân điều đó nên mới trả lời dứt khoát: “Chiều nay sẽ thả bò!!!”. Mọi người đã ra về.
Ngày 20-8-1991, năm vạn người Matxcơva đã tụ tập để bảo vệ Nhà Trắng Quốc hội Nga và văn phòng Tổng thống Nga Boris Enxin. Một kế hoạch tấn công vào trụ sở Quốc hội Nga của nhóm Anpha, lực lượng đặc nhiệm được trang bị vũ khí hạt nhân cầm tay của KGB bị hủy bỏ khi toàn bộ đội Anpha nhất trí từ chối lệnh. Một đơn vị xe tăng đã rời bỏ hàng ngũ chính phủ, đến bảo vệ quanh nhà Quốc hội, chĩa tháp pháo ra ngoài. Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã đứng trên một chiếc xe bên ngoài Nhà Trắng để chống lại cuộc đảo chính.
Ngày 22-8-1991, Goocbachôp đang bị giam lỏng ở khu nghỉ mát Krym đã về Matxcơva nắm lại quyền Tổng thống và tuyên bố từ chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, yêu cầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng giải thể. Ngày 25-12-1991 Tổng thống Liên Xô Goocbachôp từ chức và bàn giao mật mã kích hoạt tên lửa hạt nhân của Xô Viết cho Tổng thống Nga Boris Yeltsin vào 7 giờ 32 phút tối cùng ngày. Liên Xô chính thức chấm dứt tồn tại vào ngày 26-12-1991 bởi tuyên bố số 1420-H của Hội đồng Tối cao Liên bang Xô Viết công nhận quyền độc lập của 12 nước cộng hòa còn lại.
Liên Xô tan rã (sau 74 năm) đã khiến nhiều người cộng sản trên thế giới chết lặng trong đau đớn, bàng hoàng, trong đó có những người cộng sản Việt Nam.
Nhiều người cộng sản Việt Nam, đặc biệt là những thành phần đặc quyền đặc lợi đã căm phẫn nói với tôi rằng, nếu gặp Goocbachôp thì sẽ… đâm chết ngay tên phản bội đó! Cả một dàn hợp xướng của giới lãnh đạo và tuyên huấn ở Việt Nam đã đồng ca sự “phản bội” của Goocbachôp! Chỉ có một người mà tôi biết – đã viết thành văn bản – quá trình tự sụp đổ của Liên Xô, đó là đại tá công an, nguyên Cục trưởng Cục Nghiên cứu Tổng hợp Bộ Công an Việt Nam: Lê Hồng Hà.
Vì sao Liên Xô, siêu cường hạt nhân hàng đầu thế giới lại sụp đổ tan tành?
Đó là câu hỏi không dễ trả lời, cũng không khó với những người biết “lắng nghe tầm hồn mình” (Nguyễn Trần Bạt).
Trong phần mở đầu của Tuyên ngôn Cộng sản (1848) ở ngay chương I viết: “Lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp. Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả của phường hội và thợ bạn, những kẻ áp bức và những người bị áp bức luôn đối kháng với nhau đã tiến hành một cuộc đấu tranh không ngừng, lúc ngấm ngầm lúc công khai, một cuộc đấu tranh bao giờ cũng kết thúc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng một cuộc diệt vong của cả hai giai cấp đấu tranh với nhau” (Tuyên ngôn Cộng sản, nxb Sự Thật, 1983, trang 42, 43).
Ở đoạn kết Tuyên ngôn viết: “Những người cộng sản không tự hạ mình mà đi giấu giếm những ý kiến và dự định của mình. Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện có. Mặc cho giai cấp thống trị run sợ khi nghĩ đến một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy những người cách mạng chẳng mất gì hết, ngoài xiềng xích trói buộc họ. Trong cuộc cách mạng ấy, họ giành được cả một thế giới cho mình. Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!” (sách đã dẫn, trang 100).
Lênin sau này định nghĩa đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống người hữu sản hay giai cấp tư sản.
Học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Marx đã trở thành kim chỉ nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc Cách mạng Tháng Mười do Lênin lãnh đạo và những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội Liên Xô.
Và, nó chỉ có thể tiến hành bằng “bạo lực” chống những người “hữu sản”… Liên tiếp những cuộc thanh trừng đẫm máu từ Cách mạng Tháng Mười cho đến những năm dưới chính quyền Xô Viết đều được nhân danh vô sản chống hữu sản. Bây giờ đọc lại những tác phẩm văn học như Đất vỡ hoang của Sôlôkhốp, Và một ngày dài hơn thế kỷ của Aitmatốp, v.v. người ta thấy không chỉ giai cấp tư sản, đại địa chủ mà cả những người phú nông (cu lắc) cần cù năng động chỉ vì có ít ruộng đất, tài sản để lao động kiếm sống mà trở thành kẻ thù của những người cộng sản. Số phận của họ vô cùng bi thảm trong công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp. Bi kịch của chủ nghĩa cộng sản là tư bản (nhà máy, xưởng thợ, ruộng đất) sau các cuộc đấu tranh giai cấp mà vô sản giành được cả “một thế giới cho mình” thì những người nhân danh nhà nước vô sản quản lí khối tài sản khổng lồ đó lại trở thành giai cấp đặc quyền đặc lợi thành tư bản đỏ, quý tộc đỏ, sử dụng bộ máy toàn trị để đàn áp nhân dân một cách bạo liệt nhất. Giai cấp tư sản quý tộc đỏ không hề có năng lực nâng cấp xã hội Xô Viết lên cấp độ văn minh. Nguyên nhân sâu xa là giai cấp vô sản nghèo khó và thất học khi có chính quyền rồi thì “bao nhiêu lợi quyền về tay mình” (Quốc tế ca) và chỉ có thế. Khác hẳn với cách mạng tư sản, tiêu biểu là cách mạng Pháp 1789 giai cấp tư sản đã hình thành và lớn mạnh, vua Louis 16 còn phải vay tiền của các chủ nhà băng để trang trải công nợ cho triều đình. Giai cấp tư sản Pháp chỉ dựa vào bạo lực của số đông nông dân để lật đổ bọn quý tộc và tăng lữ, sau đó họ đủ trí tuệ và bản lĩnh để nâng xã hội Pháp từ phong kiến lạc hậu lên xã hội công nghiệp văn minh.
Về tầng lớp tinh hoa mà bất cứ đất nước nào cũng cần có ánh sáng của nó dự báo và soi đường, xin nhắc lại lời của Sartre: Nếu ai chế ra quả bom nguyên tử thì người đó là bác học nhưng không phải là trí thức. Chỉ khi nào người đó nhận ra cái xấu của bom nguyên tử và kêu gọi loại trừ nó, thì từ đó trở đi anh ta mới được gọi là trí thức.
Liên Xô là đất nước có nhiều nhà bác học nhất thế giới 1/4 các nhà bác học thế giới là của Liên Xô. Liên Xô có tiềm năng khoa học – kỹ thuật rất lớn, đã đạt đỉnh cao về vật lý hạt nhân, cơ học lượng tử, chinh phục vũ trụ… Đất nước có nhiều bác học nhất thế giới đó lại không có trí thức. Hay nói đúng hơn không có tầng lớp trí thức, không có tầng lớp tinh hoa có khả năng “đánh thức không cho xã hội ngủ” (Cao Huy Thuần). Dưới chế độ độc tài, Liên Xô chỉ có một lớp người “thông minh béo tốt và dễ bảo” (Irina) để đảng sai khiến, “lãnh tụ thiên tài” dạy bảo. Joseph Pulitzer, một ký giả danh tiếng của làng báo Hoa Kỳ đã nói về nghề ký giả như sau: “Một ký giả là một người canh chừng trên chiếc cầu của con thuyền nhà nước. Anh ghi nhận mỗi cánh buồm lướt qua, những dấu hiệu nhỏ nhoi, cần phải chú ý ở chân trời khi thời tiết còn tốt. Anh đứng tường thuật những cái gì đang nổi lềnh bềnh mà chiếc tàu có thể cứu vớt được. Anh xuất hiện qua sương mù và bão tố để dẫn đầu và báo trước những hiểm nguy… Anh đứng đó để canh chừng an ninh và hạnh phúc của nhân dân tín nhiệm ở nơi anh.” (dẫn theo John Hohenberg, Ký giả chuyên nghiệp. Lý thuyết và thực hành trong các ngành truyền thông đại chúng (ấn bản 1973), bản dịch của Lê Thái Bằng và Lê Đình Điểu, Sài Gòn, Nxb Hiện đại Thư xã, 1974, tr. 5). Vai trò dẫn đầu và báo trước hiểm nguy của báo chí ở thế kỷ văn minh lại hoàn toàn vắng mặt ở Liên Xô. Văn học, nghệ thuật là “niềm vui thích cao nhất mà con người tự mang lại cho mình” thì ở xã hội Xô Viết, nó chỉ là công cụ để ngợi ca kẻ cầm quyền. Chính Marx đã từng viết: “Nguyên tắc duy nhất của chủ nghĩa chuyên chế là khinh miệt con người, là con người bị làm mất nhân tính… Kẻ độc tài bao giờ cũng nhìn thấy con người thấp hèn” (Mác và Angghen, Toàn tập, tập 1, Hà Nội, Sự Thật, tr. 491).
Chính mắt người viết bài này đã nhìn thấy con người bị “khinh miệt” và “thấp hèn” trên những tượng đài hoành tráng được xây dựng ở thủ đô Matxcơva. Tôi đã nhìn thấy một bức phù điêu lớn ở trung tâm Mátxcơva, trên bức phù điêu vĩ đại đó là hình Lênin phanh ngực áo nhô người về phía trước, dưới chân của Lênin là lớp lớp nhân dân bé nhỏ li ti xếp hàng đi ở dưới! Tôi đã nhìn thấy tượng Gagarin, toàn thân nhà du hành vũ trụ này được mô phỏng là cái tên lửa đang lao vút lên bầu trời, dưới chân là quả địa cầu bé xíu… Nhìn tượng Gagarin, người ta thấy cả nhân loại này như bị người Xô Viết dẫm đạp dưới chân mình! Nó hãnh tiến và khoa trương một cách vô lối! Tôi đã nói với Irina rằng, cái đáng buồn là chính các nghệ sĩ Nga, bộ phận tinh hoa nhất của nhân dân lại tư duy như thế, lại bị kẻ độc tài tha hóa đến thế. Nàng nghe tôi nói và yên lặng!
Nhà văn sinh ra để chăm chú nhìn xã hội, “họ nhìn thấy những gì mà người ta bỏ qua không phát hiện ra” (Nguyên Ngọc), nhà văn là “nhà thiên văn học của những luồng khí quyển lưu hành trong xã hội” (Stefan Zweig) nhưng trong xã hội toàn trị (totalitarisme) Liên Xô thì giới văn nghệ sĩ có “mật độ” tự tử cao nhất so với các tầng lớp khác! Con chim báo bão của đất nước đã trở thành “con chim ca hót quanh lăng” thì con tàu đất nước đâm xuống vực là tất yếu. Đấy là nguyên nhân chủ yếu đã dẫn đến sự “tự sụp đổ” (Lê Hồng Hà) của Liên Xô, không có “kẻ phản bội” nào có thể xô đổ Liên Xô, không có thế lực nào có thể phá nát một đảng có 17 triệu Đảng viên như Đảng Cộng sản Liên Xô.
Chính vì thế mà nhà tương lai học nổi tiếng của Mỹ Alvin Toffler – tác giả của bộ ba sách: Cú sốc tương lai(Future Shock), Làn sóng thứ ba (The Third Wave) và Thăng trầm quyền lực (Power Shift) – trong cuốn Làn sóng thứ ba, từng được xem là “kinh thánh” của giới trí thức phái cải cách của Trung Quốc, đã chỉ nhìn cuộc cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 như một “làn sóng” tăng tốc hệ thống công nghiệp quy mô lớn, mà không nhìn nhận nó như một tiến trình xã hội bền vững văn minh: “Ở nước Nga, sự va chạm giữa những lực lượng Làn sóng thứ nhất và thứ hai cũng nổ ra. Cuộc cách mạng năm 1917 là bản dịch của Nga về cuộc nội chiến Mỹ. Nó được chiến đấu không phải cho chủ nghĩa cộng sản, mà là cho vấn đề công nghiệp. Khi những người Bônsêvich quét sạch những dấu vết cuối cùng của chế độ nông nô và nền quân chủ phong kiến, họ đẩy nông nghiệp ra phía sau và tăng tốc hệ thống công nghiệp quy mô lớn. Họ trở thành Đảng của làn sóng thứ hai”. (Alvin Toffler, Làn sóng thứ ba, Hà Nội, nxb Thông tin Lý luận, 1992, trang 23).
Nhận định của tác giả Làn sóng thứ ba cho chúng ta cơ sở để suy nghĩ, lý giải vì sao Đại hội 14 của Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 12 năm 1925 quyết định công nghiệp hóa trước tiên, nhắm vào công nghiệp nặng. Và chỉ sau hơn 15 năm Liên Xô đã trở thành cường quốc công nghiệp, đứng đầu Châu Âu về tổng sản lượng công nghiệp. Công cuộc tập thể hóa nông nghiệp chỉ được tiến hành sau đó, và cũng chỉ để phục vụ sự phát triển nhanh công nghiệp. Stalin cũng dùng những biện pháp hành chính để ưu đãi chế độ cộng sản (hưởng theo nhu cầu) đối với đội ngũ các nhà bác học (không phải trí thức); để lập nên thành phố Ngôi Sao, biệt đãi họ ở đó, nhờ thế mau chóng đưa được người lên vũ trụ. Nhưng lên được vũ trụ rồi vẫn phải quay về đất nước mà ở đó thiếu nhân văn, ở đó đã tan rã về đạo đức, thiếu lương tâm công dân, những kẻ có hành vi tồi tệ lại nắm giữ những cương vị then chốt. Những điều đó mọi người Xô Viết đều biết và im lặng. Lương tâm người Xô Viết đã im lặng. Ở Liên Xô thời cải tổ xuất hiện khái niệm “nền chuyên chính của lương tâm” thay cho “chuyên chính vô sản”. Nhà văn Xô Viết Đamien Granin đã viết về sự xói mòn lương tâm qua câu chuyện như sau: “Mẹ một người quen của tôi bị ốm. Bà phải mổ. Anh ta nghe nói phải “lót tay” cho bác sĩ. Anh ta vốn tính rụt rè, nhưng nỗi băn khoăn về người mẹ đã làm cho anh ta vượt qua được tính rụt rè ấy, và lấy cớ phải mua thuốc thêm, anh ta định đưa cho bác sĩ 25 rúp. Bác sĩ khoát tay nói: “Tôi không lấy chừng ấy”. “Phải bao nhiêu ạ?”, “Gấp mười”! Người quen của tôi là một kỹ sư bình thường, không giàu có gì. Nhưng đây là sức khỏe của mẹ, anh ta chạy đủ số tiền và ngượng nghịu đưa phong bì cho bác sĩ, và người bác sĩ này điềm nhiên rút tiền ra đếm lại. Sau ca mổ, người mẹ chết. Người bác sĩ giải thích cho người quen của tôi: – Tôi đã kiểm tra lại, mẹ anh chết không do mổ, mà vì tim bà không chịu đựng nổi, vì thế tôi vẫn giữ lại số tiền kia. Anh ta nói với vẻ tin chắc vào sự ngay ngắn của mình: nếu người phụ nữ kia chết vì mổ, anh ta sẽ trả lại tiền. Tôi nhắc lại trường hợp này không phải vì nó đặc biệt gì, mà vì người ta không coi nó là đặc biệt” (Lòng nhân từ, báo Văn học, số 12, 3-1987, Liên Xô). Tình trạng xã hội ấy đặc biệt trở nên nghiêm trọng khi tầng lớp đặc quyền đặc lợi biến địa phương được giao phụ trách là những vương quốc riêng, họ lập những “góc thiên đường” dành riêng cho mình. Khi các quan ở Trung ương về, họ mời “lên thiên đường”! Tình trạng này đã phổ biến ở thời Brêgiơnép và tiếp tục kéo dài…
Xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô trong nhiều năm tháng dưới chế độ toàn trị (totalitarisme), bệnh quan liêu mệnh lệnh, giai cấp đặc quyền đặc lợi quyết bám trụ, thực chất là một xã hội phong kiến trá hình do quý tộc đỏ nắm giữ sau “làn sóng thứ hai”. Vì thế, nó hung bạo hơn bất cứ chế độ độc tài nào trong lịch sử. Nó gia cố tệ sùng bái cá nhân, xây dựng uy quyền tuyệt đối nhằm kiểm soát toàn đời sống xã hội: Văn hóa, kinh tế, quân sự, chính trị… đến đời sống dân sinh và tư duy cá nhân. Mọi suy nghĩ cũng bị kiểm soát chặt chẽ, phục tùng tuyệt đối, trung thành tuyệt đối với “lãnh đạo vĩ đại”, với “người cha của tổ quốc”, “nhạc trưởng của khoa học”, “thiên tài kiệt xuất cảu nhân loại”, “ kiến trúc sử của chủ nghĩ cộng sản”, “người trông nom hạnh phúc của loài người”… Vì thế, người ta có thể giải thích được, vì sao Stalin lại có thể trị vì lâu đến thế và giết nhiều người đến thế…
Trong thời gian ở Liên Xô (1991) tôi đã được các bạn Nga nói rằng: ở Liên Xô, không một gia đình, một dòng họ nào không có người bị Stalin giết hại. Hiện tượng này cũng là một đặc điểm của tất cả các chế độ cực quyền. Ở Trung Quốc, Mao Trạch Đông từng được ca ngợi là: người dẫn đường vĩ đại, người lãnh đạo vĩ đại, người cầm lái vĩ đại, người tham mưu trưởng vĩ đại. Ở Cuba, ở Bắc Triều Tiên cũng thế… Giết người không xét xử, đó là đặc điểm nổi bật nhất của chủ nghĩa cộng sản. Vì thế, trong bia tưởng niệm những nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản ở thủ đô của nước Mỹ có dòng chữ, chủ nghĩa cộng sản là “Chủ nghĩa giết người, đàn áp đối lập và khinh bỉ tự do…”.
Nếu đến bây giờ ai đó còn nghi ngờ gì về sự sụp đổ của Liên Xô thì xin đọc lại diễn văn từ chức dài 7 phút của Goocbachốp trên truyền hình Liên Xô mà Thông tấn xã Việt Nam đã in trong tài liệu tham thảo thời điểm đó: “Tôi có thể làm Nga Hoàng 20 năm nữa, nhưng như thế là vô đạo đức, vì thế tôi cải tổ…”. Liên Xô sụp đổ vì cái xã hội không có đạo đức, sụp đổ niềm tin, chính những người lãnh đạo cao nhất đã nhận ra điều đó và họ tự diễn biến… Vì thế cũng như Cách mạng Tháng Mười, nó ít đổ máu nhất. Liên Xô sụp đổ còn vì ba nguyên nhân nữa:
Một là, Đảng Cộng sản Liên Xô áp đặt quyền lực tuyệt đối lên nhà nước, làm thay bộ máy nhà nước khiến bộ máy Đảng rất cồng kềnh, già cỗi, kém hiệu lực. Không có thiết chế kiểm soát lãnh đạo của Đảng và cá nhân lãnh đạo Đảng. Nhóm cải cách Goocbachốp vừa không thoát khỏi cách làm cũ, vừa mắc sai lầm mới, không kiểm soát được xã hội.
Hai là, hệ thống kinh tế quan liêu bao cấp, mô hình kinh tế không động viên được sức lao động. Kế hoạch hóa kinh tế cưỡng ép, chủ quan, đi ngược quy luật kinh tế. Tình trạnh quan liêu, tham nhũng do ai cũng có quyền ra lệnh, can thiệp vào các hoạt động kinh tế và không ai chịu được trách nhiệm về các kết quả kinh tế cuối cùng.
Ba là, chính quyền vi phạm các quyền tự do dân chủ của công dân. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật trở thành nhạt nhẽo, đơn điệu, nghèo nàn, “niềm vui thích cao nhất mà con người tự đem lại cho mình” không còn nữa. Tâm hồn người Xô Viết khô héo!!!
Một nguyên nhân nữa phải nhắc đến là Liên Xô đã “sập bẫy” chạy đua vũ trang với Mỹ trong chiến tranh lạnh khiến ngân sách kiệt quệ…
Thể chế chính trị thối nát, lòng tin khủng hoảng, tài chính kiệt quệ, chế độ suy tàn thì vũ khí hiện đại cũng trở nên vô dụng. Liên Xô sụp đổ hoàn toàn. Nói như En-xin, cộng sản không thể sửa chữa mà chỉ có thể vứt bỏ!
Một trăm năm đã đi qua kể từ cái ngày “rung chuyển thế giới” 7-11-1917. Từ một nước tư bản trung bình, cách mạng Tháng Mười, 1917 đã cho ra đời nhà nước Xô Viết, đưa đất nước này trở thành một siêu cường hạt nhân hàng đầu thế giới, hình thành phe xã hội chủ nghĩa làm đối trọng với thế giới tư bản khiến nó phải điều chỉnh mọi mặt để dần hình thành một thế giới văn minh. Người dân Liên Xô được hưởng thành quả của “làn sóng thứ hai” công nghiệp hóa một nước rộng lớn, con người được hưởng văn minh vật chất. Nền công nghiệp hàng đầu thế giới của Liên Xô đã giúp nhân loại góp phần đánh bại chủ nghĩa Phát xít trên toàn thế giới, đó là một sự thật không thể bác bỏ. Cách mạng Tháng Mười thành công không phải là một ngẫu nhiên lịch sử thì sự sụp đổ của Liên Xô cũng không phải là một ngẫu nhiên, do những nguyên nhân đã được phân tích ở trên. Đảng Bônsêvích đã chiến đấu không phải cho chủ nghĩa cộng sản với những lí tưởng tốt đẹp mà là cho vấn đề công nghiệp như Alvin Toffler đã chỉ ra. Thảm họa của nhân loại chính là ở chỗ đó. Nhân vật Ăng-giô-rát trong Những người khốn khổ của Victo Hugo đã tuyên bố trên chiến lũy: “Lý tưởng ơi, chỉ có mày là có thật!”. Lý tưởng thiên đường cộng sản mà bao chiến sĩ cách mạng trên thế giới đã hy sinh vì nó là không có thật. Chỉ có cái con người mơ ước về nó (tức lý tưởng) là có thật. Vì thế nhà xã hội học Nguyễn Kiến Giang mới giải thích, các tôn giáo không đề ra kế hoạch 5 năm nào để tiến đến thiên đường cả. Vì thế tôn giáo cứ tồn tại mãi. Cộng sản Xô Viết đề ra các kế hoạch 5 năm để tiến tới chủ nghĩa cộng sản nên có nhà thơ đã viết “Những thiên đường vỡ chợ, những học thuyết đứng đường!” (Trần Mạnh Hảo). Năm 1963 khi bác sĩ Nguyễn Khắc Viện bị Pháp trục xuất về nước, về đến ga Hàng Cỏ Hà Nội, ông đã nói một câu nổi tiếng với các nhà báo ra đón ông: “Nếu mở mắt ra, nước Việt Nam thành nước Pháp thì tôi đi theo chủ nghĩa tư bản. Nếu phải đi 200 năm “đầy máu và nước mắt” (Marx) để Việt Nam thành nước Pháp thì tôi đi theo Liên Xô”. Đùng một cái, Liên Xô sụp đổ tan tành. Đầu năm 1992, trí thức TP.HCM họp mặt ở nhà khách Viện Pasteur TP.HCM để mừng ông vừa được giải thưởng lớn Pháp văn (grand prix francophonie) tôi hỏi ông: “Bây giờ Liên Xô sụp đổ rồi, bác nghĩ sao đây?”. Ông Viện đã thẳng thắn trả lời: “Bây giờ thì tôi đi theo chủ nghĩa tư bản văn minh, chứ không đi theo tư bản hoang dã (sauvage)”. Tôi hỏi ông: “Tư bản hoang dã là những nước nào?”. Ông trả lời: “Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore…”. Ông giải thích thêm: “Các nước này mới nổi lên, chưa qua tư bản văn minh nên vào ta đầu tư thì bọn tư bản hoang dã chỉ phá hủy môi trường mà thôi!”.
Năm nay là vừa tròn 20 năm bác sĩ Viện qua đời, nghĩ đến những lời tiên tri của ông chúng ta thấm thía với Bột ngọt Vedan và sông Thị Vải, Formosa Vũng Áng đầu độc biển Miền Trung; vụ hối lộ dự án đường sắt ở Việt Nam của các nhà thầu Nhật Bản… Cái tư bản hoang dã Phương Tây mau chóng trở thành tư bản văn minh là do nó có khả năng thích ứng cao, tự vận động để chuyển hóa và một phần nhờ có đối trọng Liên Xô. Tất cả những gì không có đối trọng thì sớm muộn cũng trở thành hoang dã. Đó là quy luật tất yếu khách quan của vận động xã hội.
Liên Xô tan rã và để lại một nước Nga trì trệ do người dân sống quá lâu trong bao cấp cả tư duy lẫn vật chất. Cái xã hội có bản năng bầy đàn rất mạnh ấy ở Liên Xô rất cần đến một anh đầu đàn dẫn dắt. Putin đã được chọn. Anh chàng KGB láu cá mà báo chí dân chủ gọi là anh hề chính trị (polichinelle de la politique) này đầu độc dân chúng bằng chủ nghĩa Sô-vanh nước lớn “Đại Nga”. Nhưng trì trệ vẫn hoàn trì trệ. Cái xe ôtô La-đa và Vonga của Liên Xô cũ bây giờ vẫn như thế. Người Nga bây giờ đi toàn xe đời mới của nước ngoài. Những công việc lao động nặng nhọc người Nga không bao giờ làm, họ đấu thầu – và chỉ người Nga chính phủ mới cho đấu thầu – như làm vệ sinh đường phố, lái xe buýt, xe cẩu… rồi họ cho dân nhập cư thuê lại, ngồi hưởng chênh lệch và rung đùi uống rượu Vốtka! Các nhân viên công vụ thì ăn hối lộ là “chuyện thường ngày ở huyện”! Chính phủ của Putin tồn tại được là nhờ nguồn tài nguyên vô cùng giàu có của nước Nga và nhờ bán vũ khí, thừa hưởng công nghệ vũ khí từ thời Liên Xô cũ. Và, nước Nga mênh mông của Puskin vẫn là “một cái làng lớn đầy hủ tục”. Nó “luôn đội trên đầu mình cái mũ mà Châu Âu đã vứt bỏ” như chính Lênin đã nhận xét về nước Nga trước Cách mạng Tháng Mười 1917!
Đúng 100 năm sau cái ngày “rung chuyển thế giới”, thế giới lại chuyển rung khi nước Mỹ đã bầu lên một chỉ huy thế giới là một anh con buôn chính trị (politicailleur), chỉ có nghiệp vụ “chia lô bán đất” như chính người Mỹ đã nhận xét. Anh con buôn này tuyên bố: Nước Mỹ là trên hết! Chưa có vị Tổng thống Mỹ nào lại hạ nhục nước Mỹ như thế trong lịch sử nước Mỹ. Nước Mỹ chỉ lo cho chính mình thì ngọn cờ dẫn dắt thế giới sẽ rơi về đâu nếu không phải vào tên thổ phỉ Tập Cẩm Bình đang muốn làm bá chủ… Nhân loại đang “đi giật lùi đến tương lai” (Nguyễn Trần Bạt),
Chưa bao giờ lời cảnh báo của Phuxích lại cần phải nhắc lại như lúc này: “Nhân loại hãy cảnh giác”.
TP.HCM 4/2017
L. P. K.
Tác giả gửi BVN