VietTimes -- Một núi khó chứa hai cọp. Tại châu Á, việc Trung Quốc trỗi dậy gây xung đột với Nhật Bản mạnh hơn nhiều so với Mỹ, đặc biệt từ khi ông Shinzo Abe lên nắm quyền người Nhật lại tái diễn tư tưởng “đại quốc”, chuyên gia Trung Quốc nhận định.
Đoàn Thanh - /
Binh sĩ Nhật tập trận đổ bộ từ trực thăng
Quan hệ Trung – Nhật hiện đang trong tình trạng đặc biệt nhạy cảm: Đầu tháng 8/2016, Sách Trắng quốc phòng Nhật Bản cảnh cáo Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt nếu tiếp tục “khoe cơ bắp”; trong bối cảnh Trung Quốc thường xuyên dọa nạt và xâm phạm vùng lãnh hải đang tranh chấp ở biển Hoa Đông, Nhật đã trù tính kế hoạch ngân sách quốc phòng kỷ lục lên đến khoảng 51 tỷ USD. Joyman Lee trong cuốn “Senkaku/Điếu Ngư: Quần đảo tranh chấp” từng nhận định: “Quan hệ Trung – Nhật giống như một trái bom nổ chậm”.
Gần đây, tổ chức nghiên cứu chiến lược Rand đưa ra báo cáo đáng lo ngại cảnh báo về nguy cơ cuộc chiến tranh Trung – Mỹ. Không thể phủ nhận thực tế xung đột Trung – Mỹ đang leo thang, tiềm ẩn nhiều nguy hiểm. Tuy nhiên có quan điểm cho rằng nếu phải so sánh thì quan hệ căng thẳng Trung – Nhật hiện nay tiềm ẩn nguy cơ leo thang chiến tranh mạnh mẽ hơn so với quan hệ Trung – Mỹ. Quan điểm này càng đáng chú ý trước thông tin Nhật đang chuẩn bị cho kế hoạch ngân sách quốc phòng kỷ lục lên đến 5,16 nghìn tỷ yên (khoảng 51 tỷ USD) vào năm 2017 (xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa PAC-3 cùng hệ thống tên lửa chung với Mỹ, máy bay tàng hình F-35...) nhằm chuẩn bị trước các đe dọa từ Trung Quốc cũng như Triều Tiên.
Trên Apple Daily (Hong Kong), tác giả Vương Đan có bài phân tích so sánh nhằm chứng minh cho luận điểm nêu trên. Theo đó, trước quan điểm về khả năng xảy ra cuộc chiến tranh Trung – Mỹ, tác giả đưa ra ba luận điểm phản bác:
1- Nếu quan hệ Trung – Mỹ leo thang thành chiến tranh sẽ rất nguy hiểm, vì có thể dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ ba khi các phe phái khác nhau trên thế giới bị cuốn vào, khi đó cái giả phải trả ngoài sức chịu đựng của bất kỳ quốc gia nào. Điển hình như trong thời chiến tranh lạnh Xô – Mỹ kéo dài, khi đó hai bên luôn hò hét dọa nạt nhau nhưng cuối cùng vẫn không bên nào dám động thủ, vì suy tính đến cái giá phải trả quá khủng khiếp nếu xảy ra cuộc chiến;
2- Tuy người Mỹ muốn cản trở Trung Quốc nổi dậy nhưng suy cho cùng thì Mỹ không xung đột trực tiếp về chủ quyền và lãnh thổ với Trung Quốc, vì thế quan điểm Mỹ đơn thuần giúp trợ oai cho các nước thuyết phục hơn nhiều quan điểm cho rằng Mỹ sẽ đích thân khai chiến với Trung Quốc;
3- Quan hệ thương mại giữa Trung – Mỹ hiện rất lớn và chặt chẽ, xảy ra chiến tranh sẽ làm tình hình kinh tế của cả hai bên đều thiệt hại nghiêm trọng.
Và khả năng leo thang thành chiến tranh trong xung đột Trung - Nhật mạnh mẽ hơn vì những nguyên nhân:
1. Giữa Trung Quốc và Nhật có nhiều ân oán, vì thế mức độ ủng hộ cuộc chiến của người dân hai nước mạnh hơn nhiều so với Trung – Mỹ.
Chiến hạm hải quân Nhật Bản thao diễn trên biển
Thủy quân lục chiến Nhật tập trận đổ bộ
Chiến đấu cơ của lực lượng không quân Nhật Bản
2. Một núi khó chứa hai cọp. Tại châu Á, việc Trung Quốc trỗi dậy gây xung đột với Nhật Bản mạnh hơn nhiều so với Mỹ, đặc biệt từ khi ông Abe lên nắm quyền người Nhật lại tái diễn tư tưởng “đại quốc”, tâm lý xã hội ức chế tích lũy đã lâu kể từ sau Thế chiến thứ Hai có dịp bùng lên, trong đó đối tượng chính nhắm vào là Trung Quốc.
3. Nền kinh tế Nhật có xu hướng hướng nội, ngoại thương với Trung Quốc tuy lớn nhưng không rắc rối, gắn kết phức tạp với lợi ích chính trị như giữa Trung – Mỹ.
4. Giữa Trung Quốc và Nhật có xung đột lợi ích trực tiếp trong vấn đề đảo Điếu Ngư. Ngày 5/8 vừa qua khi tàu cảnh sát biển và tàu cá Trung Quốc cùng xâm phạm khu vực 12 hải lý tại đảo tranh chấp Điếu Ngư thì Nhật tức tốc triệu tập Đại sứ Trung Quốc trú tại Nhật để phản đối, chính quyền Trung Quốc đáp trả bằng cách điều thêm tàu cảnh sát biển và tàu cá xâm nhập khiến người Nhật càng thêm tức giận. Có thể thấy, căng thẳng Trung – Nhật luôn thường trực và nghiêm trọng hơn so với Trung – Mỹ.
Ngoài những phân tích trên, giới quan sát còn chỉ ra còn có 5 lý do quan trọng khiến nguy cơ leo thang thành chiến tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản luôn thường trực trong bối cảnh lịch sử hiện nay:
Thứ nhất, tình trạng chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở Trung Quốc hiện đang lên cao là một thực tế, trong tình huống xấu nhất thì chiến tranh trở thành lựa chọn duy nhất để chính quyền Tập Cận Bình trấn an được lòng dân và phòng ngừa những phản kháng trong nội bộ, vì gia cố ổn định nền chính trị tập trung quyền lực là mục tiêu hàng đầu của chế độ;
Thứ hai, dư luận trong nước Nhật cũng ngày càng tỏ ra cứng rắn, xu thế ghét Trung Quốc đang lên cao, sau khi sửa Hiến pháp thì chủ nghĩa quân phiệt Nhật sẽ như diều gặp gió và có thể gây áp lực lớn đối với chính phủ Nhật (Điều 9 Hiến pháp Nhật Bản do Mỹ soạn thảo sau Thế chiến thứ Hai quy định Nhật từ bỏ dùng chiến tranh giải quyết tranh chấp được ông Abe cho rằng không còn phù hợp tình hình hiện tại);
Thứ ba, thái độ của Mỹ là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất. Có thể Mỹ không trực tiếp có hành động quân sự với Trung Quốc mà thay vào đó sẽ khích lệ hoặc đứng sau hối thúc một nước nào đó ở Đông Á trực tiếp đối đầu với Trung Quốc, vì đây là cách phù hợp lợi ích của Mỹ, và nước này không ai khác ngoài Nhật Bản;
Thứ tư, tại Đông Á còn có nhân tố gây rối khó lường là Triều Tiên. Trong trường hợp xấu nhất, nếu lãnh đạo nước này bị uy hiếp mạnh do bất ổn chính trị nội bộ thì rất nhiều khả năng sẽ toan tính hành động quân sự, dĩ nhiên Nhật Bản sẽ phản công lại, và Trung Quốc rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Chiến đấu cơ Su-27 của không quân Trung Quốc
Trung Quốc ráo riết thiết lập cụm tác chiến tàu sân bay rập khuôn mô hình Mỹ
Thứ năm, tranh chấp biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và Nhật Bản đặc biệt mạnh mẽ vì vấn đề năng lượng. Khi nguy cơ năng lượng bùng phát thì cuộc chiến tranh vì vấn đề năng lượng Trung – Nhật sẽ hiện hữu rõ ràng.
Từ những nguyên nhân trên, quan điểm cho rằng chiến tranh Trung – Nhật là tất yếu trong bối cảnh chính trị quốc tế hiện nay không phải không có cơ sở. Vào năm 2011, trong bài viết “Senkaku/Điếu Ngư: Quần đảo tranh chấp” đăng trên tạp chí History Today, nhà nghiên cứu Joyman Lee cũng đã có nhận định: “Sự tranh chấp chủ quyền tại quần đảo này sớm muộn sẽ xảy ra, giống như một trái bom nổ chậm, do nó gắn với những quyền lợi to lớn”.
Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Tomomi Inada (trái) hội đàm với Bộ trưởng Quốc phòng Úc Marise Payne ngày 25.8 tại Tokyo - Ảnh: Kyodo
Ngày 25.8, Bộ trưởng Quốc phòng của hai nước Nhật và Úc đã đồng ý tăng cường hợp tác an ninh trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng có nhiều hành động căng thẳng trên biển và CHDCND Triều Tiên tiếp tục bắn thử tên lửa đạn đạo.
Ngay từ đầu cuộc hội đàm diễn ra tại Tokyo, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Tomomi Inada đã thông báo Thủ tướng Shinzo Abe chỉ thị cho bà phải thúc đẩy hợp tác quốc phòng giữa Nhật và Úc. Bà Inada khẳng định: “Tôi muốn đào sâu hơn nữa quan hệ giữa hai nước”.
Bộ trưởng Quốc phòng Úc Marise Payne nhấn mạnh trong bối cảnh các thách thức an ninh trong khu vực đang nổi lên thì hợp tác giữa Nhật và Úc là rất quan trọng.
Trong thời gian gần đây, ngoài Trung Quốc gia tăng các hoạt động quân sự gây căng thẳng ở Biển Đông và nhiều lần đưa tàu xâm nhập trái phép vào vùng biển thuộc quần đảo Senkaku do Nhật kiểm soát, CHDCND Triều Tiên cũng đã tiếp tục phóng thử tên lửa đạn đạo.
Mới đây nhất vào sáng 24.8, Triều Tiên đã bắn thử một tên lửa đạn đạo mang tên Pukguksong từ tàu ngầm. Tên lửa bay xa 500km trước khi rơi vào vùng nhận dạng phòng không của Nhật.
Cuộc hội đàm giữa hai bộ trưởng Quốc phòng Nhật và Úc ngày 25.8 - Ảnh: Kyodo
Trong cuộc hội đàm ngày 25.8, hai bộ trưởng Quốc phòng Nhật và Úc nhất trí tăng cường hợp tác quốc phòng bằng các cuộc tập trận chung và cùng phản đối bất cứ hành động nào gây leo thang căng thẳng.
Ngoài ra, hai bộ trưởng cũng xác nhận Nhật và Úc có kế hoạch tổ chức các cuộc hội đàm “2+2” với sự tham gia giữa Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Ngoại giao của hai nước vào cuối năm nay.
Trước đây vào tháng 11.2015, Nhật - Úc đã từng tổ chức các cuộc hội đàm về an ninh tương tự.
Trung Quốc muốn “thảo luận chân tình” với Nhật
Cũng trong ngày 25.8, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc đặc trách đối ngoại và vấn đề Đài Loan Dương Khiết Trì đã gặp ông Shotaro Yachi, Tổng thư ký Hội đồng An ninh quốc gia Nhật tại Bắc Kinh (Trung Quốc).
Trong cuộc gặp, ông Dương cho biết: “Tôi rất muốn có những cuộc thảo luận chân tình với ông (Shotaro Yachi) để giải quyết nhiều vấn đề trong quan hệ Trung - Nhật”.
Chuyến thăm Trung Quốc của ông Yachi nhằm chuẩn bị cho các cuộc gặp bên lề Hội nghị thượng đỉnh G20 giữa Thủ tướng Shinzo Abe và Chủ tịch Tập Cận Bình vào đầu tháng 9 tới.
Vấn đề tranh chấp Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) luôn là vấn đề gây nhức nhối trong quan hệ Trung - Nhật. Hành động ồ ạt đưa tàu cá lẫn tàu hải cảnh vào vùng biển quanh Senkaku của Trung Quốc gần đây đã làm trầm trọng hóa vấn đề và khiến quan hệ hai nước trở nên căng thẳng.
Triết lý giáo dục Nhật Bản đã được luật hóa và trở thành nơi hội tụ sự đồng thuận của quốc dân Nhật và những người làm giáo dục.
LTS: Quý vị đang theo dõi bài viết thứ hai của Thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương (giảng viên khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, hiện đang là nghiên cứu sinh ngành giáo dục lịch sử, Đại học Kanazawa - Nhật Bản) bàn luận về triết lý giáo dục.
Tác giả dẫn ra nhiều luận điểm để độc giả thấy rõ rằng quá trình xây dựng và phát triển triết lý giáo dục Nhật Bản diễn ra như thế nào mới có thể tạo nên một nền giáo dục có nhiều thành tựu đáng ngưỡng mộ như hiện nay.
Trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
Triết lý giáo dục từ thời Minh Trị đến năm 1945
Nền giáo dục cận-hiện đại của Nhật Bản được xây dựng ở cấp độ quốc gia bắt đầu từ thời Minh Trị khi Nhật Bản có nhu cầu cận đại hóa đất nước theo mô hình của phương Tây để chống lại chính áp lực của phương Tây đang ngày một mạnh.
Ban đầu những chính sách cải cách giáo dục của Chính phủ Minh Trị chỉ diễn ra lẻ tẻ và không có ảnh hưởng trên toàn quốc do chính phủ mới chưa thực sự kiểm soát được tình hình đất nước.
Cuộc cải cách giáo dục từ trên xuống của chính quyền Minh Trị chính thức triển khai đại quy mô từ ngày 5 tháng 9 năm 1972 khi “Học chế” - văn bản xác định việc tổ chức hệ thống giáo dục của Nhật Bản được công bố.
Trước đó một ngày, Viện Thái chính cũng ra bản bố cáo số 21 về giáo dục mà người Nhật quen gọi là “Mệnh lệnh về sự khuyến học”.
Nhìn vào nội dung của những văn bản này và những diễn biến trong thực tế của giáo dục ở cả khu vực giáo dục công do nhà nước vận hành và giáo dục tư do các trí thức Tây học thức thời tiến hành, có thể thấy triết lý cơ bản của giáo dục Nhật khi đó là hướng đến xây dựng một nước Nhật Bản “phú quốc cường binh” với một quốc dân có trí tuệ và tinh thần độc lập.
Hình ảnh những con người có tinh thần tự lập, có chí tiến thủ, biết nhìn ra thế giới để sửa đổi nước Nhật theo hướng văn minh, giúp nước Nhật thoát khỏi nguy cơ bị cai trị được cả Chính phủ và giới trí thức đồng cảm.
Bởi thế, nền giáo dục trong khoảng 10 năm đầu thời Minh Trị được gọi là nền giáo dục khai sáng quốc dân và thực nghiệp.
Mặc dù vậy, trong suốt từ thời Minh Trị cho đến năm 1945, thuật ngữ “Triết lý giáo dục” hầu như không được trực tiếp nhắc đến trong các văn bản pháp luật liên quan đến giáo dục.
Đến năm 1890 (năm Minh Trị thứ 23), “Sắc chỉ giáo dục” của Thiên Hoàng Minh Trị được ban bố.
Văn bản dù chỉ dài chưa đầy 20 dòng này đã thay đổi toàn bộ triết lý giáo dục của nước Nhật từ “khai sáng quốc dân” sang triết lý xây dựng một quốc gia do thiên hoàng đứng đầu và cai trị vĩnh viễn dựa trên nền giáo dục tạo ra các “thần dân” “trung quân ái quốc” có đạo đức phù hợp với các quy phạm của Nho giáo như: trung, hiếu, phụng sự quốc gia…..
Triết lý giáo dục này phù hợp và dựa trên tinh thần cơ bản của Hiến Pháp Đại đế quốc Nhật Bản được ban hành trước đó (11/12/1889). Bản Hiến pháp này xác định rõ hình hài của “Đại đế quốc của Nhật Bản”.
Ở đó, “Đại đế quốc Nhật Bản đời đời do Thiên hoàng cai trị” (điều 1) và “Thiên hoàng là thánh thần nên không ai được xâm phạm” (điều 3).
“Sắc chỉ giáo dục” đã có ảnh hưởng lớn lao đến đời sống tư tưởng-tinh thần của toàn bộ quốc dân Nhật Bản suốt gần 60 năm và nó chỉ bị Quốc hội Nhật Bản bãi bỏ vào ngày 19 tháng 6 năm 1948. Đó cũng là thời gian 3 năm sau khi Nhật Bản bại trận và 2 năm sau khi Hiến pháp hòa bình được công bố.
Nhiều học giả Nhật cho rằng, chính “Sắc chỉ giáo dục” là một trong những thứ đã làm cho nước Nhật sa lầy vào con đường chiến tranh và làm “tha hóa quốc dân”.
Sau khi Hiến Pháp đại đế quốc Nhật Bản và “Sắc chỉ giáo dục” được ban bố, Nhà nước đã can thiệp ngày càng mạnh vào giáo dục kể cả nội dung giáo dục. Những sách vở có tinh thần khai sáng bị cấm, bị loại bỏ ra khỏi trường học.
Khi đó, chính Fukuzawa Yukichi - một trí thức nổi tiếng đương thời, người truyền bá và cổ vũ không mệt mỏi tinh thần tự lập của quốc dân và là tác giả của nhiều cuốn sách được sử dụng trong các trường học như là sách giáo khoa đã phải sửng sốt kêu lên:
“Năm Minh Trị thứ 14-15, Chính phủ thật kì lạ lại đề xướng việc đưa Nho giáo vào giáo dục.
Bộ Giáo dục dưới cái tên kiểm định sách đọc trong trường học đã cho thu thập tất cả các sách viết, dịch trong xã hội lại, triệu tập các chức dịch của Bộ thẩm định để quyết định xem cho phép hay không cho phép dùng các cuốn sách đó.
Đồng thời còn kêu gọi, yêu cầu biên soạn các sách đọc về Nho, Lão vốn đã lỗi thời và trong bối cảnh như thể trào lưu phục cổ đang hồi sinh trong thế giới văn minh, các cuốn sách do Fukuzawa biên soạn vốn được dùng làm sách đọc trong trường học bị coi là hữu hại vô lợi và chỉ một bộ phận là qua kiểm định. Điều đó thật kì quặc” [1].
Từ khoảng thời gian đó trở đi, giáo dục công của Nhật ngày càng dấn sâu vào con đường quan liêu hóa và phát xít hóa trong khi giáo dục tư nhân vừa phải gánh chịu sự hạn chế, đàn áp của Nhà nước, vừa đảm đương vai trò quan trọng trong các phong trào giáo dục sôi nổi.
Triết lý giáo dục ở Nhật Bản từ sau 1945 đến nay
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản bị đặt dưới sự chiếm đóng của quân Đồng Minh mà chủ yếu là quân Mĩ.
Trong hoàn cảnh bị chiếm đóng và chịu tác động trực tiếp của các chính sách chiếm đóng, công cuộc cải cách để dân chủ hóa và tái thiết nước Nhật được cấp tập tiến hành. Trong đó, cải cách giáo dục có vai trò quan trọng.
Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, thuật ngữ “triết lý giáo dục” xuất hiện tường minh trong các văn bản luật pháp liên quan đến giáo dục.
Có thể thấy triết lý giáo dục hiện đại của Nhật Bản đã thể hiện rõ trong Hiến pháp Nhật Bản 1946 và các bộ Luật liên quan đến giáo dục được công bố trong năm 1947, tạo ra hành lang pháp lý cho cải cách giáo dục như: Luật giáo dục cơ bản, Luật giáo dục trường học, Luật về tổ chức và quyền hạn của Bộ giáo dục, Luật về Ủy ban giáo dục địa phương…
Trong Hiến pháp Nhật Bản 1946 mặc dù có Điều 19 (Tự do tư tưởng và tự do lương tâm là bất khả xâm phạm), Điều 23 (Tự do học thuật được đảm bảo), Điều 26 (quy định về bình đẳng giáo dục và giáo dục nghĩa vụ) đề cập tới giáo dục nhưng nó không trực tiếp nhắc đến cụm từ “triết lý giáo dục.
Tuy nhiên, toàn bộ Hiến pháp này đã phác thảo nên thành tố thứ nhất của triết lý giáo dục là “hình ảnh xã hội tương lai” cần xây dựng.
Đó là xã hội “hòa bình”, “dân chủ” và “tôn trọng con người”. Đây cũng được coi là ba nguyên lý nền tảng của Hiến pháp mà bất cứ một người Nhật nào cũng phải học từ tiểu học.
Thành tố thứ nhất được quy định bởi văn bản pháp quy có hiệu lực cao nhất, thiêng liêng nhất do cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội định ra này.
Thành tố thứ hai của triết lý giáo dục-tức là mục tiêu giáo dục hay “hình ảnh con người mơ ước”, những người kiến tạo và bảo vệ xã hội tương lai đã được đề ra và diễn giải ở các bộ Luật về giáo dục mà tiêu biểu nhất là Luật giáo dục cơ bản (bộ Luật được ban hành năm 1947 và sửa đổi năm 2006).
Trước hết, triết lý giáo dục được thể hiện khái quát ở phần “Lời nói đầu” của bộ Luật:
“Quốc dân Nhật Bản chúng ta mong ước sẽ làm phát triển thêm quốc gia văn hóa và dân chủ được xây dựng nên từ nỗ lực không ngừng đồng thời góp phần cống hiến cho hòa bình thế giới và nâng cao phúc lợi nhân loại.
Để thực hiện lý tưởng này, chúng ta sẽ xúc tiến nền giáo dục coi trọng sự tôn nghiêm cá nhân, truy tìm chính nghĩa và chân lý, tôn trọng tinh thần công cộng, nhắm tới giáo dục con người có tính sáng tạo và tính người phong phú, kế thừa truyền thống và sáng tạo nên văn hóa mới.
Ở đây, chúng ta dựa trên tinh thần của Hiến pháp Nhật Bản để chế định nên bộ luật này nhằm xác lập nền tảng của giáo dục tiến tới chấn hưng và mở ra tương lai của đất nước.”
Tiếp đó, chương đầu tiên của bộ luật được đặt tên là “Mục đích và triết lý giáo dục”.
Xin được trích đầy đủ những điều quan trọng có liên quan trực tiếp đến triết lý giáo dục trong trong chương này:
“Chương I. Mục đích và triết lý giáo dục Mục đích: Điều 1. Giáo dục phải nhằm hoàn thiện nhân cách con người và giáo dục nên quốc dân khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần đồng thời có đầy đủ phẩm chất cần thiết với tư cách là người làm chủ xã hội-quốc gia hòa bình và dân chủ. Mục tiêu giáo dục: Điều 2. Giáo dục để thực hiện mục đích nói trên phải tôn trọng tự do học thuật đồng thời phải đạt cho được những mục tiêu sau: a. Trang bị văn hóa và tri thức rộng rãi, giáo dục thái độ truy tìm chân lý, nuôi dưỡng đạo đức và tình cảm phong phú đồng thời rèn luyện thân thể khỏe mạnh. b. Tôn trọng giá trị cá nhân, mở rộng năng lực cá nhân, nuôi dưỡng tính sáng tạo và tinh thần tự lập, tự chủ đồng thời coi trọng mối quan hệ với nghề nghiệp và cuộc sống, giáo dục thái độ tôn trọng lao động. c. Tôn trọng chính nghĩa và trách nhiệm, bình đẳng nam nữ, tôn kính và hợp tác lẫn nhau đồng thời giáo dục thái độ tham gia vào xây dựng xã hội, đóng góp cho sự phát triển của xã hội một cách chủ thể dựa trên tinh thần công cộng. d. Có thái độ tôn trọng sinh mệnh, coi trọng tự nhiên và đóng góp vào việc bảo vệ môi trường. e. Có thái độ tôn trọng truyền thống và văn hóa, yêu mến quê hương và đất nước chúng ta nơi đã nuôi dưỡng những thứ ấy đồng thời giáo dục thái độ tôn trọng nước khác, đóng góp vào hòa bình và sự phát triển của cộng đồng quốc tế.”
Như vậy có thể thấy rõ, thành tố thứ hai là “hình ảnh con người mơ ước” đã được xác định rất rõ ràng.
Đó là những con người “khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần đồng thời có đầy đủ phẩm chất cần thiết với tư cách là người làm chủ xã hội-quốc gia hòa bình và dân chủ”.
Tức là hiểu một cách ngắn gọn hình ảnh con người mơ ước ở đây là người CÔNG DÂN của xã hội dân chủ, hòa bình. Hình ảnh này là sự đối lập hoàn toàn so với hình ảnh con người “thần dân” trung thành với lý tưởng của Thiên hoàng và đại đế quốc Nhật Bản trước đó.
Các điều tiếp theo bộ Luật cũng nói rõ hơn về “triết lý học tập suốt đời” và bình đẳng giáo dục, giáo dục nghĩa vụ, giáo dục gia đình, giáo dục trường học, nghĩa vụ của nhà nước và gia đình, các tổ chức xã hội….
Đây là những điều kiện để đảm bảo thực hiện cho được triết lý giáo dục trên cũng như ngăn ngừa sự can thiệp và “cai trị bất chính” đối với các hoạt động giáo dục.
Triết lý giáo dục được luật hóa đó đã trở thành nơi hội tụ sự đồng thuận của quốc dân Nhật và những người làm giáo dục.
Vì thế cho dù có nhiều trường phái giáo dục, nhiều mô hình trường học và cả một hệ thống trường học tư thục khổng lồ, giáo dục Nhật Bản vẫn đảm bảo tính thống nhất khi tất cả những hoạt động giáo dục đều hướng tới và tuân thủ triết lý giáo dục nêu trên.
Trên thực tế từng ngôi trường ở Nhật cho dù là trường đại học hay trường mầm non đều xây dựng và công bố rộng rãi triết lý giáo dục của riêng mình.
Triết lý giáo dục cụ thể này vừa dựa trên triết lý giáo dục nói chung đã được luật hóa vừa có những đặc sắc, đặc trưng riêng phản ánh lý tưởng của ngôi trường ấy.
Trong khóa trình giáo dục, môn Xã hội (Nghiên cứu xã hội) và sau này là nhiều môn học khác phân nhánh từ đó như: Kinh tế-chính trị, Công dân, Luân lý, Xã hội hiện đại, Địa lý, Lịch sử đảm nhận vai trò trung tâm trong việc thực thi triết lý giáo dục.
Trong các môn học này, các nhà giáo dục khi nhắc đến thành tố “hình ảnh con người mơ ước” của triết lý giáo dục thường dùng các thuật ngữ như “người làm chủ” hay “người nắm chủ quyền”.
Với cơ chế phân quyền hành chính giáo dục cho các địa phương và thực hiện kiểm định sách giáo khoa (công nhận sự tồn tại của nhiều bộ sách giáo khoa do các nhà xuất bản tư nhân biên soạn, phát hành và quyền tự do lựa chọn sách giáo khoa của các địa phương và các trường), Nhật Bản đã đảm bảo cho các thực tiễn giáo dục do giáo viên tiến hành ở các địa phương phát triển mạnh mẽ.
Mỗi một thực tiễn giáo dục của giáo viên đều là kết quả có tính chủ thể đậm nét bởi vì ở đó giáo viên đã chủ động lựa chọn, cơ cấu nên nội dung giáo dục cũng như các hoạt động tổ chức học tập riêng phù hợp với tình hình địa phương, nhà trường và học sinh.
Khi đó, triết lý giáo dục được luật hóa ở trên sẽ trở thành tiêu chuẩn để đánh giá những thực tiễn ấy.
Khi nhìn vào lịch sử giáo dục Nhật Bản, người ta sẽ thấy một đặc điểm: ở những thời điểm cần cải cách giáo dục để tạo ra sự thay đổi lớn lao cho đất nước, đổi mới triết lý giáo dục phải được coi như là tiền đề của cải cách.
Ở trường hợp đó, thực chất cải cách giáo dục sẽ là một cuộc cách mạng xã hội trong hòa bình.
Bản thân giáo dục Nhật Bản hiện tại, mặc dù được đánh giá cao từ các nước châu Á khác vốn đã từng có hoàn cảnh lịch sử giống như Nhật Bản, cũng đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như: bắt nạt học đường, trẻ em cự tuyệt đến trường, suy giảm học lực…
Tuy nhiên, có thể thấy sự khủng hoảng này của giáo dục Nhật Bản hiện tại là sự khủng hoảng ở trên phía “ngọn”. Giáo dục Nhật Bản trong 70 năm qua đã có một nền tảng tốt được xây dựng khá vững chắc.
Vì thế, ở Nhật Bản khi tranh luận về cải cách giáo dục, rất hiếm khi có những ý kiến đòi thay đổi triết lý giáo dục đã được đề ra sau năm 1945.
Với họ, triết lý giáo dục mang trong mình những giá trị nhân văn phổ quát ấy là thứ đã làm nên giá trị của nước Nhật hiện đại và cần phải được bảo vệ.
Suy ngẫm về triết lý giáo dục của Việt Nam
Khi suy ngẫm về triết lý giáo dục nói riêng và giáo dục nói chung của Việt Nam, Nhật Bản sẽ là một tham khảo tương đối hữu ích.
Nếu nhìn bằng con mắt lạc quan thì cuộc tranh luận về triết lý giáo dục ở Việt Nam trong những năm gần đây là một tín hiệu đáng mừng.
Sau nhiều thập kỉ, cuối cùng Bộ Giáo dục và đào tạo, các học giả và những người quan tâm đến giáo dục cũng đã truy tìm các vấn đề của giáo dục ở nơi phát sinh thay vì chạy tới chạy lui tìm “thuốc” trị các “triệu chứng”.
Vấn đề khẩn thiết đặt ra cho chúng ta hiện nay là xác định cho được một triết lý mới, phù hợp cho giáo dục Việt Nam. Điều đó không khó vì nhiều nước trên thế giới đã làm và làm từ rất lâu trước đó.
Vấn đề khó khăn nhất là người Việt mà trước hết là những người có trách nhiệm có đủ dũng cảm để biến vấn đề dễ dàng ấy thành hiện thực hay không.
Cải cách giáo dục ở Việt Nam hiện nay phải là cuộc cải cách nhằm giải quyết những vấn đề có tính chất cơ bản bắt đầu từ triết lý giáo dục.
Trong cuộc cải cách đó nếu như triết lý giáo dục được ý thức rõ, được minh định rõ ràng thì cho dù cải cách giáo dục có tiến triển chậm do vấp phải “di sản” từ quá khứ, ít nhất nó cũng nhận được sự đồng thuận từ đông đảo người dân và giới học giả, cũng như không tạo ra sự rối loạn ở hiện trường giáo dục.
Ngược lại khi triết lý giáo dục mập mờ hoặc sai lầm, việc tiến hành cải cách giáo dục với quy mô lớn với áp lực mạnh từ hệ thống chính trị sẽ càng làm cho những vấn đề vốn đã tồn tại trong một thời gian dài trở nên thêm trầm trọng.
Một khi bị bủa vây trong những vấn đề đó, mọi trí lực, thời gian của những người làm giáo dục cũng như của người học sẽ bị phân tán và lãng phí. Kết cục cuối cùng sẽ là sự tụt hậu và rời xa các giá trị văn minh của cả dân tộc.
Ozaki Mugen
Nguyễn Quốc Vương dịch
----------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
[1] , Văn Ngọc Thành hiệu đính, Cải cách giáo dục Nhật Bản, NXB Từ điển bách khoa và Thaihabooks, 2014,tr. 44.
NÔNG DÂN 97 TRIỆU- NẰM MƠ KHÔNG THẤY, THƯA PHÓ THỦ TƯỚNG!
Hình như, chính phủ không hề biết người dân của mình ở các vùng quê đang ăn... thứ gì.
Thật tình, tôi không dám nói ông có vấn đề về... thần kinh, hay hoang tưởng gì. Hay chả nhẽ ông đang say, nói nhảm?
Tôi đang ở quê đây. Một bác hàng xóm vừa nói với tôi vầy: - Làm sao cháu kêu nó, cái thằng Phó Thủ tướng ấy về đây, bác cho nó mấy... tát!
Tôi tin, nếu rời khỏi mấy cái hội trường máy lạnh kia, bước chân về các vùng quê, bất cứ nơi nào, phát biểu vầy, ông Trịnh Đình Dũng Phó Thủ tướng sẽ ăn đầy mặt... bùn đất!
Mẹ tôi, và bà con nông dân chân lấm tay bùn ở vùng quê Duy Xuyên, Quảng Nam này, đang đầu tắt mặt tối cũng chỉ mong sao đạt mức thu nhập cỡ một phần mười (1/10) cái mức mà ông oang oảng như động kinh ấy, cũng không được, chưa bao giờ được.
Mãi mãi, với người nông dân, vẫn chỉ là mơ ước. Nằm mơ cũng không thấy!
Một cái chính phủ lơ mơ đến vậy, khác chi... đui điếc.
- Giả nếu lỡ lời nói bậy, ông Dũng nên học Thủ tướng Phúc, xin lỗi dân ngay đi, để tránh những cái tát và khỏi hứng nhận những trận đạn bùn đất từ phía dân. Hoặc hơn nữa, khá hơn tí, ông cam kết sao hết cái nhiệm kỳ Phó Thủ của mình, cái chính phủ của ông phấn đấu làm sao cho người nông dân đạt được cái mức, chừng nửa (50%) con số ông đưa ra hôm nay, đã là tài giỏi và phước hạnh lắm rồi.
(Truong Duy Nhat)
Phó Thủ tướng: Thu nhập bình quân hộ nông dân đã đạt 97 triệu đồng
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho rằng, sau 3 năm tái cơ cấu, thu nhập bình quân hộ nông dân tăng từ 73,2 triệu đồng năm 2012 lên 97 triệu đồng năm 2015. Tuy nhiên đó mới chỉ là bước đầu và vẫn chưa tạo được chuyển biến rõ rệt.
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: VGP
Phát biểu tại buổi làm việc với Bộ NN&PTNT về tái cơ cấu nông nghiệp sáng 25/8, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp phải gắn với thị trường. Người nông dân không chỉ làm ra những gì họ có thể, mà là làm ra những gì thị trường yêu cầu.
Theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, những kết quả đạt được trong 3 năm qua là rất quan trọng khi nông nghiệp chính là lĩnh vực duy trì được sự phát triển và tăng trưởng khá ổn định. Tốc độ giá trị sản xuất toàn ngành tăng trung bình 3,41%/năm. Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành tăng mạnh, giai đoạn 2013-2015 đạt 88,3 tỷ USD. Theo thống kê, thu nhập bình quân hộ nông dân tăng từ 73,2 triệu đồng năm 2012 lên 97 triệu đồng năm 2015.
Tuy nhiên, những kết quả đã đạt được mới chỉ là bước đầu và vẫn chưa tạo được chuyển biến rõ rệt. Tăng trưởng của ngành chưa vững chắc. Đáng chú ý, quý I/2016, lĩnh vực nông nghiệp có sự sụt giảm đáng kể.
Nông dân sản xuất theo thị trường
Theo Phó Thủ tướng, trong thời gian tới, cần xác định rõ định hướng tái cơ cấu nông nghiệp phải gắn với phát triển thị trường, gắn với nhu cầu của thị trường.
“Không phải thị trường trong nước mà là quốc tế, không phải chỉ là hôm nay mà phải tính tới thời điểm hội nhập sâu rộng khi các hiệp định thương mại đa phương, đặc biệt là TPP, có hiệu lực”, Phó Thủ tướng nói.
“Tái cơ cấu nông nghiệp để người nông dân không chỉ làm ra những gì có thể, mà làm những gì thị trường yêu cầu”, Phó Thủ tướng khẳng định thêm.
Muốn như vậy, theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, phải xây dựng được các tiêu chuẩn sản phẩm mà thị trường trong nước, quốc tế yêu cầu. Bên cạnh đó, phải xác định được các sản phẩm chủ lực, các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh nhằm tạo ra các sản phẩm có số lượng lớn, chất lượng cao.
3 năm trước, ngày 10/6/2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”. Theo đó, sẽ có 6 đề án tái cơ cấu các lĩnh vực, gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi, chế biến nông lâm thủy sản và làm muối.
“Ở đây, có vai trò hỗ trợ rất lớn của ngành công thương. Phải phát triển những sản phẩm chủ lực ở cấp độ quốc gia, vùng, địa phương. Đồng thời, phải đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp phù hợp với từng vùng, từng địa phương. Đa dạng hoá để khai thác triệt để tiềm năng, lợi thế, để đáp ứng nhu cầu của thị trường”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.
Một yêu cầu quan trọng nữa đối với tái cơ cấu nông nghiệp là phải góp phần ứng phó hiệu quả hơn với biến đổi khí hậu. Đây là yêu cầu mới đặt ra, bởi có thể nói 3 năm trước, khi chuẩn bị đề án tái cơ cấu, chưa lường trước hết được những diễn biến tiêu cực của biến đổi khí hậu, chẳng hạn như tình trạng hạn, mặn ở Nam Bộ và Tây Nguyên.
Tái cơ cấu gắn liền với phát triển sản xuất nông nghiệp
Bên cạnh những yêu cầu nêu trên, theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, tái cơ cấu ngành nông nghiệp phải gắn với phát triển kinh tế ngành, nghề ở nông thôn, để từ đó tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người nông dân.
Cụ thể, với mức trung bình khoảng 0,3 ha đất cho một hộ gia đình như hiện nay, thì rõ ràng không thể công nghiệp hoá nông nghiệp một cách hiệu quả bởi người nông dân sẽ phải mua máy móc, khấu hao…, trong khi diện tích đất cho sản xuất quá ít.
“Giải pháp duy nhất là giảm lao động trong nông nghiệp. Phải khuyến khích phát triển các ngành nghề khác ở nông thôn để giảm lao động trong nông nghiệp, nhằm tăng diện tích đất/đầu người, từ đó mới có thể đầu tư máy móc, công nghệ hiện đại vào sản xuất nông nghiệp”, Phó Thủ tướng nói.
Một yêu cầu nữa cũng được Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nêu ra trong tái cơ cấu nông nghiệp là phải bảo vệ được nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường.
Ảnh: VGP/Xuân Tuyến
Những giải pháp tập trung
Từ những yêu cầu nêu trên, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đề nghị ngành nông nghiệp cần tập trung triển khai thực hiện một số giải pháp cả trước mắt và lâu dài.
Trước hết, cần rà soát lại quy hoạch, cập nhật lại quy hoạch cho phù hợp với thực tiễn, từ đó lập các kế hoạch, lộ trình thực hiện cụ thể dựa trên nguồn lực hiện có, khả năng huy động thêm từ xã hội và hỗ trợ của ngân sách. Cũng dựa trên quy hoạch đã được rà soát, cập nhật, cần tiến hành đầu tư hạ tầng cho các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình đó, cần xác định cụ thể những dự án ưu tiên, cần triển khai sớm hay những dự án trung và dài hạn.
Việc huy động vốn cho sản xuất nông nghiệp phải gắn với đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, trong đó, ưu tiên huy động các doanh nghiệp trong nước và quốc tế đầu tư vào sản xuất nông nghiệp.
Phát triển mạnh các hình thức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã để thể hiện vai trò “bà đỡ” cho người nông dân. Hợp tác xã thực hiện tốt chức năng cầu nối giữa người dân với thị trường, hỗ trợ người dân trong việc cung cấp dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm.
Về tổ chức sản xuất, phải tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau, doanh nghiệp với hợp tác xã, doanh nghiệp với người dân; liên kết vùng, giữa các địa phương… tạo ra sản phẩm có số lượng lớn, chất lượng cao. Cũng cần đặc biệt chú ý trong việc lựa chọn, xây dựng sản phẩm, thương hiệu nông sản của các địa phương, khu vực, tránh tình trạng cạnh tranh lẫn nhau.
Bên cạnh đó, theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, muốn xuất khẩu được sản phẩm ra nước ngoài, cần đặc biệt quan tâm, quản lý chất lượng giống cây, con, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Cùng với đó, phải tuyên truyền để người dân nhận thức rõ về vấn đề này; có các giải pháp giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng của sản phẩm.
Để mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, ngành nông nghiệp và các bộ, ngành liên quan cần xây dựng chương trình để tăng cường thông tin về các thị trường mới, những cam kết thương mại song phương, đa phương để người dân kịp thời nắm bắt được cơ hội, thách thức.
Trong ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, cần đổi mới phương thức đầu tư cho khoa học-công nghệ thông qua việc xây dựng cơ chế để khuyến khích, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, các tổ chức, các nhà khoa học tham gia nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao sản phẩm cho người nông dân. Bên cạnh đó, cũng cần xác định vai trò của doanh nghiệp trong việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ trong sản xuất nông nghiệp; có cơ chế để hỗ trợ, kích thích cung-cầu về sản phẩm khoa học-công nghệ.