Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Lào chuyển hướng, thân thiện hơn với VN?

  • 8 giờ trước


Image copyrightHOANG DINH NAM AFP GETTY IMAGES
Image captionThủ tướng Lào Thongloun Sisoulith trong phiên khai mạc hội nghị các Ngoại trưởng Asean ở Vientiane hồi tháng 7/2016

Với chính quyền mới của Thủ tướng Thongloun Sisoulith, các nhà ngoại giao có vẻ như đang thấy một số dấu hiệu về sự thay đổi trong thái độ của Lào đối với Bắc Kinh và Việt Nam, theo Reuters.
Đáng chú ý là việc Phó Thủ tướng Somsavat Lengsavad, người dẫn dắt dự án đường sắt với Trung Quốc trị giá 7 tỷ USD, nay đã nghỉ hưu còn dự án này cũng bị tạm ngưng do Lào không hài lòng với một số điểm trong thỏa thuận.
Hơn nữa, "nhiều quan chức trong chính quyền mới của thủ tướng Thongloun Sisoulith từng theo học ở Việt Nam, đồng loạt tới thăm Hà Nội trong thời gian gần đây, là những chuyến công du nước ngoài đầu tiên" của chính quyền mới.
Lào trong vai trò chủ tịch ASEAN đang chuẩn bị tiếp đón các lãnh đạo thế giới tham dự hội nghị thượng đỉnh Asean và hội nghị với các đối tác ở Vientiane, trong đó có cuộc gặp với Tổng thống Barack Obama.
Theo kế hoạch, ông Obama có mặt từ 6-8 tháng Chín, là lúc ông sẽ tham dự cuộc họp thượng đỉnh Hoa Kỳ-Asean bên cạnh các cuộc họp khác.
Chuyến đi Lào của ông Obama được đánh giá là nỗ lực cuối cùng trong nhiệm kỳ tổng thống nhằm "tái cân bằng" chính sách ngoại giao của Washington ở châu Á, "một chiến thuật được coi là nhằm đáp trả việc Trung Quốc phô trương sức mạnh kinh tế và quân sự ở khu vực," Reuters viết.
Các nhà ngoại giao cho rằng ông Obama có thể mở rộng hơn cánh cửa tại Lào nhờ những thay đổi diễn ra tại quốc gia này hồi tháng Tư vừa rồi.
"Tân chính phủ Lào chịu ảnh hưởng từ Việt Nam nhiều hơn là từ Trung Quốc," một nhà ngoại giao phương Tây tại Đông Nam Á nói. "Chuyện một tổng thống Mỹ tới thăm không bao giờ là điều quá muộn."
Bài báo cũng dẫn lời chuyên gia Phương Nguyễn, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế từ Washington, nói: “Lợi ích chiến lược của Mỹ ở Lào là nhìn thấy đất nước này có thể thực thi được quyền tự trị nhất định nào đó vì người ta không muốn... [xảy ra] điều tương tự như quan hệ Trung Quốc và Campuchia.”
Ở hai trong số các cuộc gặp của ASEAN do Lào chủ trì, Vientiane đã bày tỏ thái độ khó chịu đối với láng giềng Campuchia, quốc gia ngày càng bị coi là vệ tinh của Trung Quốc.

Đầu tư kinh tế



Image copyrightLILLIAN SUWANRUMPHA AFP GETTY IMAGES
Image captionMột công trường xây dựng của Trung Quốc bên sông Mekong, Lào

Tuy nhiên, Trung Quốc cũng là quốc gia có khoản đầu tư khổng lồ vào Lào, so với Hoa Kỳ hay Việt Nam.
Trong năm 2014, Bắc Kinh đầu tư 1 tỷ USD vào Lào, và nâng lên mức kỷ lục vào năm 2015 với số tiền 4,5 tỷ USD, bài viết dẫn số liệu từ Bộ Thương mại Trung Quốc và báo chí địa phương.
“Ở Lào, chúng tôi có khoảng 7-8 công ty so với 30–40 công ty của Việt Nam. Nhưng Trung Quốc lại là một cuộc chơi khác hẳn,” người đứng đầu hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ-Asean, ông Anthony Nelson được Reuters trích lời.
“Thế nên không phải là ngẫu nhiên khi các quốc gia phát triển ở mức thấp nhất như Lào và Campuchia lại là những người muốn lên tiếng bênh vực cho quan điểm của Trung Quốc trong các cuộc thảo luận quốc tế.”
Tuy nhiên, về văn hóa thì Lào gần gũi với Việt Nam hơn Trung Quốc. Các cửa hiệu kinh doanh dùng tiếng Lào và các gia đình Lào –Việt cũng hòa nhập với phong tục địa phương, trong khi các gia đình Trung Quốc thường tách biệt hơn.


Image copyrightHOANG DINH NAM AFP GETTY
Image captionNgoại trưởng mới của Lào, ông Saleumxay Kommasith và Ngoại trưởng Việt Nam, Phạm Bình Minh tại Hà Nội, 6/2016

Lào có vai trò quan trọng chiến lược với cả Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam có đường biên giới dài trên đất liền với Lào, có thể giúp tới được thị trường Thái Lan và xa hơn. Với Trung Quốc, Lào là cánh cửa quan trọng để với tới Đông Nam Á trong chiến lược thương mại “con đường tơ lụa mới” của nước này, theo bài báo.
Lào đang phát triển hàng loạt thủy điện ở dòng sông dài nhất thế giới, sông Mekong, với mục tiêu trở thành quốc gia cung cấp điện năng cho châu Á.
Tuy nhiên, các nhà khoa học và môi trường Việt Nam bày tỏ lo ngại trước dự án Don Sahong trên dòng chính sông Mekong tại Lào, sau đập Xayaburi.
Dự án thủy điện của Lào "có khả năng cản đường cá đi", gây tác động xấu tới nguồn cá và hệ sinh thái dòng chảy sông Mekong, Tiến sỹ Lê Anh Tuấn, chuyên gia về nghiên cứu biến đổi khí hậu nói với BBC Tiếng Việt hôm 21/08.
Đập thủy điện này đã được bắt đầu thi công vào tháng 10/2015 được cho là sẽ hoàn thành vào năm 2019.
( BBC )

Lào có dấu hiệu xa lánh Trung Quốc

mediaThủ tướng Lào Thongloun Sisoulith (trái) và đồng nhiệm Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tại Hà Nội, 15/05/2016.REUTERS/Kham
Tổng thống Mỹ đương nhiệm đầu tiên công du Lào trong bối cảnh quốc gia Đông Nam Á này vừa thay đổi ban lãnh đạo. Vốn chịu ảnh hưởng của Bắc Kinh, liệu với thượng đỉnh ASEAN lần thứ 28 và sự có mặt của ông Barack Obama có là cơ hội để Vientiane mạnh dạn giữ khoảng cách với Trung Quốc, thắt chặt thêm quan hệ với Việt Nam và thân thiện hơn với Mỹ ?
Hiếm khi nào Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào lại được chú ý nhiều đến như lần này. Trong cương vị chủ tịch luân phiên Hiệp Hội các nước Đông Nam Á, Lào tổ chức thượng đỉnh ASEAN lần thứ 28 mở ra từ ngày 06 đến 08/09/2016 với sự tham gia của nhiều lãnh đạo cao cấp, đặc biệt là sự có mặt của tổng thống Hoa Kỳ, Barack Obama.
Theo giới phân tích, đối với chủ nhân Nhà Trắng, thượng đỉnh Vientiane 2016 là cơ hội để tiếp tục thúc đẩy chính sách « xoay trục » của Washington sang Châu Á, nhằm đối phó với đà vươn lên cả về mặt kinh tế lẫn quân sự của Trung Quốc trong khu vực.
Lào, một quốc gia nhỏ bé với 7 triệu dân, có đường biên giới chung với Trung Quốc và Việt Nam cho nên về mặt kinh tế, chính trị, Vientiane lệ thuộc nhiều vào hai nước láng giềng này.
Với Trung Quốc, Lào có đường biên giới phía bắc. Năm 2015 Trung Quốc đầu tư khoảng 1 tỉ đô la vào nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, cao hơn gấp đôi so với một năm trước đó. Khách sạn do người Trung Quốc quản lý mọc lên như nấm trong thời gian gần đây. Bên cạnh đó là hàng loạt các dự án đầu tư của Trung Quốc vào nông nghiệp hay các dự án xây dựng đập thủy điện.
Còn với Việt Nam, Lào chia sẻ một đường biên giới dài hơn 2100 cây số, Việt Nam là cửa ngõ mở ra đại dương.Trong mắt chính quyền Hà Nội, thì Lào là cánh cổng để hàng hóa của Việt Nam dễ tiếp cận hơn với thị trường Thái Lan và còn hơn thế nữa. Thêm vào đó, Việt Nam, Lào và Trung Quốc cùng chia sẻ dòng sông Mêkông.
Về mặt chiến lược, Việt Nam và Trung Quốc cùng chiếm vị trí hết sức quan trọng đối với Lào. Vientiane tham vọng trở thành nguồn cung cấp thủy điện cho các nước lân cận, nhờ khai thác các nhà máy được xây dựng bên dòng sông Mêkong. Còn nhìn từ phía Bắc Kinh thì Lào là cổng vào Đông Nam Á trên con đường tơ lụa thế kỷ 21 của Trung Quốc.
Tuy nhiên, theo giới quan sát, cho đến thời gian rất gần đây, chính phủ Lào có khuynh hướng ngả về phía Trung Quốc nhiều hơn là về phía Việt Nam. Đặc biệt là trên hồ sơ tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, Lào từng bị chỉ trích là đã bị Bắc Kinh mua chuộc.
Vientiane còn là một quốc gia khép kín. Ít có thông tin về chính sách đối ngoại của quốc gia này, nhưng theo một nhà ngoại giao phương Tây được hãng tin Reuters trích dẫn, dường như đang có một số thay đổi về mặt chiến lược của Lào.
Trước hết là phó thủ tướng Somsavat Lengsavat, một nhân vật nổi tiếng là thân Bắc Kinh đã về hưu. Ông này là người đã bật đèn xanh cho dự án đường sắt Trung Quốc tại Lào, tổng trị giá đầu tư lên tới 7 tỷ đô la. Có điều dự án đầy tham vọng nói trên ngày càng bị công luận chỉ trích vì cho là bất lợi cho phía Lào.
Một dấu hiệu thứ nhì cho thấy, Vientiane đang thắt chặt hơn quan hệ với Việt Nam là kể từ khi thay đổi chính phủ Lào hồi tháng 4/2016, nhiều người thân cận với tân thủ tướng Thongloun Sisoulith từng được đào tạo tại Hà Nội. Bản thân thủ tướng Lào thì đã dành chuyến công du nước ngoài đầu tiên để đến Việt Nam.
Hơn nữa, về mặt văn hóa, Lào cũng gần gũi với Việt Nam hơn là với Trung Quốc. Cuối cùng, trong hợp tác về kinh tế, Lào ngày càng bất mãn với thái độ ỉ lớn ăn hiếp nhỏ của các doanh nhân Trung Quốc. Đó cũng là một yếu tố giải thích vì sao, cho dù phải dựa nhiều vào Bắc Kinh nhưng Vientiane vẫn thận trọng với đối tác quá to lớn này.
Sau cùng, thêm một dấu hiệu thứ ba cho thấy Lào đang giữ khoảng cách với Trung Quốc đó là, tại hai cuộc họp ASEAN gần đây, khác với phái đoàn Cam Bốt, đại diện của Vientiane đã dè dặt hơn trong việc bênh vực Bắc Kinh về hồ sơ Biển Đông.
Vẫn Reuters trích dẫn lời một người trong cuộc cho rằng, chính quyền mới ở Vientiane có vẻ thân thiện với Việt Nam hơn, thì việc tổng thống Mỹ công du nước Lào « sẽ không bao giờ là quá trễ ». Còn theo lời một chuyên gia thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược ở Washington, « Lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ ở Lào là chứng kiến quốc gia này thể hiện được mức độ tự chủ chiến lược nhất định, vì Washington không muốn thấy Lào thân Trung Quốc như Cam Bốt »
Một quan chức của bộ Quốc Phòng Mỹ xin được giấu tên không bình luận về tầm mức chiến lược trong quan hệ của Hoa Kỳ với Lào, nhưng khẳng định Vientiane là « đối tác quan trọng »của Washington.
( RFI )

Trung Quốc sợ phương Tây phá hoại thượng đỉnh G20 Hàng Châu


RFI

mediaTranh quảng bá G20 tại Hàng Châu, Chiết Giang, Trung Quốc (ảnh chụp ngày 29/08/2016)Reuters
Trung Quốc đang hy vọng củng cố vị thế cường quốc toàn cầu của mình khi tiếp đón lãnh đạo các nền kinh tế lớn nhất của thế giới trong hai ngày 04-05/09/2016. Thế nhưng Bắc Kinh đang nghi ngờ rằng phương Tây cùng các đồng minh sẽ cố phủ nhận chỗ đứng mà Bắc Kinh xem là quyền đương nhiên của họ trên sân khấu thế giới.
Đối với giới quan sát, vấn đề bảo đảm sao cho cho việc này không thể xẩy ra hiển nhiên sẽ là một trong những ưu tiên của ông Tập Cận Bình, và là chỉ dấu quan trọng giúp Trung Quốc đánh giá thành công của Hội nghị G20.
Theo hãng tin Anh Reuters, nhiều nhà ngoại giao cho rằng Bắc Kinh muốn sử dụng hội nghị thượng đỉnh G20 tại Hàng Châu để vạch ra một chiến lược tăng trưởng toàn cầu rộng lớn, nhưng các cuộc thảo luận kinh tế có nguy cơ bị nhiều cuộc tranh cãi khác che khuất, từ vấn đề tranh chấp lãnh thổ, cho đến chính sách bảo hộ mậu dịch.
Một đặc phái cao cấp phương Tây nhận định : « Nhìn từ Trung Quốc, dường như là họ đang bị Hoa Kỳ cố bao vây ». Theo nhân vật này, tranh chấp Biển Đông và việc triển khai lá chắn chống tên lửa THAAD ở Hàn Quốc như đã chi phối mọi cuộc trao đổi với phía Trung Quốc trước G20.
Gần đây, Trung Quốc cũng rất khó chịu trước phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye về tranh chấp Biển Đông giữa Bắc Kinh với các láng giềng. Philippines là nước đâm đơn kiện, nhưng Bắc Kinh lại đổ tội lên đầu Washington.
Vào lúc mà Trung Quốc muốn sự kiện quan trọng nhất mà họ tổ chức trong năm thành công mỹ mãn, thì ông Tập Cận Bình sẽ bị sức ép mạnh từ bên trong, muốn ông cứng rắn trước những thách thức đối với uy quyền của ông như vấn đề Biển Đông.
Trung Quốc đã từng nói rõ là không muốn thấy những vấn đề như kể trên khuấy động hội nghị, có sự tham dự của tổng thống Mỹ Obama, thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và nhiều lãnh đạo thế giới khác.
Truyền thông Nhà nước Trung Quốc đã bình luận rộng rãi về vai trò của Trung Quốc, hội nghị G20 là dịp để Trung Quốc cho thấy vai trò lãnh đạo trong việc uốn nắn các quy tắc điều hành thế giới, và củng cố đà tăng trưởng toàn cầu một cách bền vững. Tờ Nhân Dân Nhật Báo còn thấy đây sẽ là một trong những hội nghị G20 có hiệu quả nhất trong tất cả các hội nghị G20 từ trước đến nay. Trong bài xã luận vào tuần trước, tờ báo kêu gọi « hãy hợp tác cao hơn nữa».
Tuy nhiên vào giữa tháng 8/2016, tờ báo Nhà nước Study Times lại viết là các nước phương Tây đã cố loại trừ một nước Trung Quốc đang vươn lên và phủ nhận tiếng nói của quốc gia này trên sân khấu thế giới với những với những mô hình như hiệp định TPP - Trans-Pacific Partnership - do Mỹ dẫn đầu.
Nói về G20, tờ báo có uy tín này còn bình luận : « Cố gắng để trở lại quyền điều hành chung, họ đang xây dựng một ‘liên minh thần thánh’ mới, áp đặt những quy luật mới… sẽ gạt Trung Quốc qua một bên ».
Anh và Úc làm Trung Quốc tức giận
Bắc Kinh hiện cũng đang rất tức giận trước những nghi vấn mà Anh và Úc nêu lên liên quan đến các khoản đầu tư chiến lược của Trung Quốc vào hai quốc gia này. Bắc Kinh cho là Luân Đôn và Canberra có hơi hướm bảo vệ mậu dich và lo sợ vô căn cứ.
Úc đã ngăn chận một thương vụ trị giá 10 tỷ đô la Úc – 7,7 tỷ đô la Mỹ, không bán cho Trung Quốc tập đoàn năng lượng lớn nhất của Úc, trong lúc Anh thì đình chỉ kế hoạch đầu tư 24 tỷ đô la của Trung Quốc vào một đề án điện hạt nhân.
Ngược lại, các viên chức phương Tây cũng nêu lên mối quan ngại về khả năng các công ty của họ tiếp cận được thị trường Trung Quốc, và càng lúc càng không e ngại nêu lên vấn đề.
Joerg Wuttke, chủ tich Phòng Thương Mại Châu Âu ở Trung Quốc cho biết có một sự thay đổi giọng điệu nơi các quan chức châu Âu, ngày càng nêu lên nỗi bất bình trước những vấn đề kinh tế Trung Quốc bị quả tải và khó khăn của các công ty châu Âu trong việc thâm nhập thị trường Trung Quốc.
Joerg Wuttke giải thích với Reuters : « Đã tới mức mà không ai còn sợ lên tiếng nữa cả. Họ nghĩ là họ phải cứng rắn hơn ».
Một viên chức châu Âu có liên can đến một số vấn đề thương mại đã rất bực tức thái độ bảo hộ mậu dịch của Trung Quốc.
« Quý vị mà dám nói là muốn mua lại một trong những mạng lưới điện của Trung Quốc thì lập tức sẽ bị họ bị hạ gục ngay, nói một câu cũng không dứt được ».
Tất cả những dấu hiệu trên cho thấy là không phải cái gì cũng thuận buồm xuôi gió ở hội nghị G20.
Một nhà ngoại giao phương Tây quen thuộc với hội nghị thượng đỉnh đánh giá là « Trung Quốc hiện đang giận hầu như tất cả mọi người. »
Một nhà ngoại giao khác cho là chắc chắn Trung Quốc sẽ muốn cho G20 diễn ra êm ả, vì «đấy là vấn đề thể diện quốc gia ». Nhưng cũng không phải là điều bất thường khi hội nghị G20 bị các chủ đề ngoài kinh tế chiếm đoạt. Cho nên đấy là « một bãi mìn đối với Trung Quốc ».
Nhật bực bội
Còn Nhật Bản, một nước mà Trung Quốc có tranh chấp hàng thập niên qua với quá khứ chiến tranh và chủ quyền biển đảo ở biển Hoa Đông.
Tuần qua, lãnh đạo ngoại giao Trung Quốc kêu gọi Nhật có thái độ « xây dựng » ở hội nghị G20, với nỗi lo sợ ngày sâu hơn ở Bắc Kinh là Nhật dấn thân sâu vào tranh chấp Biển Đông theo khuyến dụ của đồng minh Hoa Kỳ.
Một chuyên gia Viện Nghiên Cứu Quốc Tế, được bộ Ngoại Giao Trung Quốc bảo trợ, đã viết trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo là càng gần đến G20 thì Nhật càng tìm cách gây rối : « Nhật gây rối ở Biển Đông cũng như Hoa Đông, hỗ trợ Philippines và thúc giục Trung Quốc tôn trọng kết quả cái gọi là ‘thủ tục trọng tài ».
Theo nhân vật này, Nhật đang chơi lại những trò cũ, và khó có thể không nghĩ là Nhật đang cố làm mọi chuyện rối loạn lên.
Cùng chủ đề

Putin nghĩ gì và làm gì? Liệu Nga sẽ sụp đổ không?


29/08/2016
Tác giả: Anders Åslund
Dịch giả: Đỗ Kim Thêm
12-8-2016
H1Kommersant Photo/Getty Images
Lời người dịch: Dù Putin lo bảo vệ quyền lực cá nhân cho đến cuối đời trong lo sợ, nhưng lại hô hào dân chủ giả hiệu và tinh thần dân tộc cực đoan để tìm sự ủng hộ của dân chúng. Vì Putin ủng hộ cho chế độ phi nhân tại Syria và xâm chiếm Bán Đảo Crimea để phô trương sức mạnh quân sự cho thế giới và dân chúng, nên gây nhiều hậu quả bất lợi cho nước Nga. Do ảnh hưởng của giá dầu xuống thấp và các biện pháp phong toả mà tình hình kinh tế suy vi, Nga không thể tiếp tục tài trợ cho các phiêu lưu quân sự và gia tăng phúc lợi cho dân chúng. Bất ổn xã hội tăng cao và động loạn triền miên nên Nga không thể phát huy tinh thần dân chủ và đoàn kết chính trị. Sụp đổ của Nga như Liên Bang Xô Viết và các nước Đông Âu sẽ là một hồi kết để hạ màn cho chế độ của Putin, nhưng đó là một triển vọng khó lường đoán. Dù có tình huống nào khác tốt hơn có thể xảy ra thì người dân Nga cũng sẽ phải còn tiếp tục sống trong đau khổ.
Các lý giải tổng hợp này của Anders Åslund cũng đúng cho Việt Nam, nhưng tình hình của Việt Nam còn trầm trọng hơn nước Nga nhiều.   
***
Khi cơn sốt chiến tranh trở lại Ukraina, thì lý do tại sao Tổng thống Nga Vladimir Putin, từ một con người mơ ước tạo ra hiện đại hóa lại thành một kẻ chuyên quyền hung hăng, là một vấn đề được làm sống lại. Cho dù với lý do nào đi nửa – nổi lo sợ cho sự an toàn của riêng mình hoặc ý nghĩa về sự bất bình thuộc lịch sử, hoặc là cả hai – khi Putin không có khả năng để cải cách cho nền kinh tế của Nga, thì dường như chắc chắn là ông sẽ sụp đổ.
Tổng thống Nga Vladimir Putin ở vào thời điểm gây được nhiều chú ý trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ cũng giống như Hillary Clinton và Donald Trump. Như theo các chuyên gia an ninh khả tín cho biết rằng Putin có tay chân thâm nhập được các vào máy vi tính của Đảng Dân chủ và lọt qua các kết quả cuả WikiLeaks, nên Putin dường như đang cố làm thiên lệch cuộc bầu cử theo cách của Trump. Bên cạnh việc kêu gọi Nga thâm nhập vào các điện thư của Clinton, Trump dường như đã trả ơn cho Putin bằng cách chấp nhận các lý do của Putin trong việc sáp nhập Crimea và phủ nhận sự hiện diện của quân đội Nga ở miền Đông Ukraine. Nhìn trong con người của Putin, nhiều nhà quan sát thấy có cả lý tưởng lãnh đạo của Trump: độc đoán, không kềm chế và có phong cách riêng.
Trở lại về vấn đề của Nga, Putin đã thậm chí vượt trội hơn Trump trong việc chế ngự các tin tức. Tất nhiên, ông có bộ máy tuyên truyền hùng hậu của Điện Kremlin trong tầm tay, một trong số bộ máy này là không ngừng phóng chiếu hình ảnh của ông như là một Nga Hoàng toàn năng và toàn trí qua hình thức sùng bái cá nhân trong phong cách mới của truyền hình. Tuy nhiên, bất chấp sự hiện diện của một Sa Hoàng khôn ngoan này, nền kinh tế Nga đã gần như nổ tung, dường như đang đi theo một tiến trình trì trệ như thời Leonid Brezhnev, nếu không nói là tệ hơn.
Với thành tích về chủ trương phiêu lưu quốc tế và vụng về trong kinh tế, chuyện không có gì là ngạc nhiên khi Putin đã cuốn hút và gây quan tâm cho các nhà bình luận của Project Syndicate về 16 năm cầm quyền của ông. Ivan Krastev của Center for Liberal Strategies ở Sofia có thể nắm bắt được quan điểm của các nhà bình luận này một cách hay nhất: “chúng ta bị mê hoặc bởi Tổng thống Nga không phải vì Putin là hợp lý, hoặc thậm chí vì ông là mạnh hơn, nhưng vì ông chủ động sáng kiến”, trong khi các nhà lãnh đạo phương Tây dường như quá nhút nhát và/hoặc bị tê liệt trong hành động.
Thuần lý trong ngang bướng
Vladimir Putin là ai và điều gì thúc đẩy ông ta? Khi Putin nắm quyền vào năm 2000, ít ai biết về ông mà mọi người có xu hướng nhìn thấy những gì họ muốn biết. Sau khi nhìn vào đôi mắt của Putin, cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush nói rằng ông có thể “nhận được một ý nghiã trong tâm hồn của Putin”, ông nhìn thấy Putin là “một người dấn thân cao độ vì lợi ích tốt nhất của đất nước”. Chris Patten, Ủy viên Ngoại vụ của Liên Âu và có quan hệ với Putin, qua các cuộc gặp gỡ này, ông có một ấn tượng tối tăm hơn nhiều: “Putin nhìn chúng tôi trong ánh mắt và nói dối, gần như chắc chắn ông nhận thức rằng chúng tôi biết ông đang nói dối”.
Ngày nay, việc đánh giá tốt đẹp về Putin mà Bush thêu dệt đã đột nhiên biến mất trong số các nhà lãnh đạo của thế giới, một vài người trong giới này như Thủ tướng Đức Angela Merkel chẳng hạn, họ đã có những kinh nghiệm tương tự như Patten. Nhưng đánh giá càng đáng ngờ nhiều hơn này đã chỉ đem lại những vấn đề khác. Có phải Putin là một bậc thầy về  chiến lược luôn dẫm chân lên các đối thủ, gần đây nhất là ông tìm cách gần gủi hơn với Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdoğan trong khi đồng thời tăng thêm căng thẳng mới với Ukraine không? Hoặc có phải Putin là một kẻ vụng về liên tục, người không nhận ra các chiến thắng về mặt chiến thuật ở Ukraina và Crimea, hoặc trong việc ký kết thỏa thuận về năng lượng với giá hạ cho Trung Quốc, tất cả là những thất bại về mặt chiến lược mà nó đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho các lợi ích lâu dài của Nga không?
Adam Michnik, nhà lãnh đạo của phe đối lập chống Cộng sản của Ba Lan trước năm 1989, ông thấy tính cách hung hãn quốc tế của Putin như là nổi lên từ “quan điểm bất thường mà cả thế giới đã phân biệt đối xử chống lại Nga trong ba thế kỷ qua.” Tuy nhiên, Michnik nhấn mạnh rằng theo quan điểm bất động của phương Tây, quan điểm lệch lạc này về lịch sử đã khiến Putin nắm lấy các chính sách có thể được cấu trúc theo một cách thuần lý. Trong xâm lược và thôn tính Crimea, “việc thu tóm bằng bạo lực đã xãy ra – và Putin biết điều đó.”
Một trong những người chỉ trích Putin gay gắt nhất trong nước (mà gần đây bị phải chạy khỏi nước Nga), đó là nhà phân tích chính trị Andrei Piontkovsky, ông đi xa hơn trong khi nhấn mạnh đến tính cách thuần lý của Putin. Ông lập luận là “Putin được hướng dẫn bởi một mục tiêu duy nhất.” Và mục tiêu đó không phải là “tham vọng đế quốc.” Thay vì thế, “mọi chính sách lệ thuộc với mục tiêu cầm quyền Nga của Putin là cho đến khi nào mà ông còn sống”. Các hành động của ông ta không được thúc đẩy bởi một ham muốn đầy bệnh hoạn cho quyền lực, nhưng đang “dựa trên các mối quan tâm hoàn toàn thực tế về sự an toàn cá nhân của mình,” Piontkovsky khẳng định như vậy. Nói một cách đơn giản, Putin “hiểu các quy luật của hệ thống độc tài mà ông đã giúp xây dựng lại nước Nga.”
Nina Khrushcheva của Trường phái mới đồng ý khi lập luận là lo sợ của Putin cho sự an toàn cá nhân là biện minh có cơ sở. Bởi vì “Putin đã thể hiện là ít kiềm chế khi săn đuổi các đối thủ,” dù ông hiểu rằng có “các thỏa thuận bất thành văn giữa các giới lãnh đạo là không bao giờ có thể từ bỏ quyền lực một cách tự nguyện mà không lo sợ cho sự an toàn trong tương lai”. Vì vậy, số phận của người hùng là một loại hoang tưởng thường trực mà nó đòi hỏi Putin duy trì quyền lực cho đến ngày cuối đời của mình.
Để đạt được mục tiêu này, Putin đã làm vô dụng một nền dân chủ còn non  trẻ của Nga và thậm chí bịa ra một ý thức hệ giả tạo – “một nền dân chủ với chủ quyền tối thượng” mà trong đó, như cựu Tổng thư ký Liên minh  Bắc Đại Tây Dương (NATO) Anders Fogh Rasmussen nói: “tổng thống loại bỏ tất cả đối lập, hạn chế tự do của truyền thông vàrồi thì ông nói với người dân rằng họ có thể lựa chọn các nhà lãnh đạo của họ.”
Mối quan tâm của Putin cho an toàn cá nhân cũng đi theo một con đường dài hướng tới việc giải thích lý do tại sao ông đã kích động sự nhiệt tình  tinh thần dân tộc ở trong nước. Vladislav Inozemtsev của Moscow’s Higher School of Economics thấy trong con người của Putin và cách cai trị của ông là một dấu hiệu lờ mờ của chủ nghĩa phát xít, mà theo định nghĩa của  nhà sử học Robert O. Paxton là: “Mối bận tâm đầy ám ảnh về sự suy sụp của cộng đồng, ô nhục, hoặc mang tâm trạng là nạn nhân, tinh thần sùng bái cho đoàn kết, tinh thần nhiệt huyết và thuần khiết.”
Viễn kiến này hỗ trợ cho sự khẳng định của Harold James thuộc Đại học Princeton. Đó là một lỗi lầm nghiêm trọng để biến “chính sách của Điện Kremlin thành một bi kịch tâm lý mà chỉ có thể hiểu được thông qua một cuộc thăm dò sâu xa về tinh thần của nước Nga.” Kết quả của một tìm kiếm như thế chỉ là “các quan niệm sai lầm tràn lan về những gì đã thúc đẩy làm cho Putin thay đổi từ một lập trường có vẻ như đang hiện đại hóa, hòa giải, và thậm chí thân phương Tây” trong đầu nhiệm kỳ tổng thống chuyển sang một  “chủ nghĩa xét lại hung hăng” ngày nay.
Đáp ứng trước sự đe doạ của một quyền lực đang suy vong
Joseph S. Nye của Đại học Harvard, người có tiếng nói hàng đầu trong học giới về chính sách đối ngoại của Mỹ, ông nhìn thấy “một tình trạng suy vong trường kỳ” của nước Nga, nhưng trong đó “Nga vẫn còn đặt ra một mối đe dọa rất thực tế với trật tự quốc tế ở châu Âu và các nơi khác.” Vấn đề vượt qua khỏi Putin là: “Các quốc gia đang suy vong – thí dụ như Đế quốc Áo-Hung vào năm 1914 – có xu hướng trở nên ít sợ rủi ro và do đó mà họ tạo ra nguy hiểm hơn nhiều.” Thực ra, đối với Nye, mối đe dọa của Nga đặt ra “vượt xa khỏi Ukraine,” nơi mà Putin thôn tính Crimea và sự xâm nhập vào khu vực phía đông Donbas đã đặt ra một thách thức nghiêm trọng nhất đối với trật tự thế giới từ năm 1989. Như vậy, phương Tây phải đứng lên để đáp ứng lại thách thức của Putin, nhưng không phải là làm “cô lập Nga hoàn toàn.”
Shlomo Ben-Ami, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Israel, theo cách lý luận này trong một bước sâu xa hơn. “Đối với một số quốc gia, thất bại về mặt chính trị hay quân sự là chuyện không thể nào chịu đựng được, quá nhục nhã đến độ mà các nước này sẽ làm bất cứ điều gì để lật đổ những gì họ xem như là một trật tự quốc tế bất công. Ben-Ami lập luận rằng:” Mặc dù Putin có thể bị thúc đẩy nhằm để tự bảo tồn, Putin thực sự cảm thấy bị phẩn uất.“ “Chiến lược mới để báo thù ” của Nga có vẻ như là một phản ứng tự nhiên với sự nhục mạ trong thất bại của họ trong Chiến tranh Lạnh và sự bần cùng đi kèm với sự sụp đổ kinh tế của đất nước trong những năm 1990.
Có thể làm gì để kiểm soát đất nước và lãnh đạo bị thúc đẩy bởi các cảm giác nhục nhã? Ben-Ami tiếp tục lập luận là: “Một quyền lực theo chủ  trương xét lại có thể bị phản đối với sự nhiệt tình tương ứng” hoặc người ta có thể chờ đợi cho phản ứng này “đạt đến giới hạn của sức mạnh quân sự và kinh tế” và nổ tung giống như Liên Xô. Những giấc mơ của Putin về nước Nga “duy trì thiên hướng và các đặc điểm của một cường quốc: một nền văn hóa và lịch sử phong phú, tầm vóc quy mô, khả năng kinh khủng về hạt nhân, ảnh hưởng mạnh mẽ trên khắp vùng Âu Á, và năng lực để có một nơi điều chỉnh trong một vài cuộc xung đột.” Nhưng  Putin dường như mù quáng trước các giới hạn về các nguồn lực của nước Nga.
Đối với Richard N. Haass, Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, thì việc quyết định của Putin gửi quân sang bán đảo Crimea và sau đó là phía Đông Ukraine đã dẫn đến việc không chỉ làm phật ý phương Tây, nhưng là một phần của nỗ lực không ngừng để tăng cường “nắm quyền lực của mình trong nước.” Haass không ủng hộ việc kết hợp Ukraine vào khối NATO, nhưng ông đề xuất một sách lược đa phương. “Chính sách của phương Tây là nên tìm cách làm đe doạ chiến lược của Putin, bằng cách tăng cường cho Ukraine về phương diện chính trị và kinh tế, hỗ trợ an ninh và đặt thêm các biện pháp trừng phạt kinh tế Nga.
Ulkraine và Syria là các ván cờ đầu của Điện Kremlin
KHi Ngoại trưởng Thụy Điển Carl Bildt là một trong những kiến trúc sư về Quan hệ Đối tác của Liên Âu với các quốc gia Đông Âu trong năm 2009 (cùng có sự hợp tác của Ngoại trưởng Ba Lan lúc bấy giờ là Radosław Sikorski). Kể từ khi Nga xâm lược Ukraine, các Chương trình Đối tác với các quốc gia Đông Âu đã bị chỉ trích là một sáng kiến ngây thơ. Bildt cũng không biện hộ. “Trong khi viễn kiến của Liên Âu cho một ‘châu Âu rộng hơn’ dựa vào quyền lực mềm, hội nhập kinh tế và xây dựng thể chế dài hạn, thì chính sách Nga nới rộng của Putin phụ thuộc vào sự đe dọa và bạo lực”. Chuyện không may là một tình trạng bất đối xứng còn dai dẳng. “Đối với Nga, gây thêm biến động trong ngắn hạn còn dể hơn là đối với châu Âu trong việc giúp xây dựng sự ổn định lâu dài.”
Yuliya Tymoshenko, người đã hai lần làm Thủ tướng Ukraine, bà nói rằng một tình trạng ổn định như vậy không thể phụ thuộc vào cách đặt niềm tin vào thiện chí của Điện Kremlin. Đối với bà Tymoshenko, Putin đã hành động theo một niềm tin đơn giản: “những gì ông có thể chia là để dể trị”. Đó là lý do tại sao số phận của đất nước của bà là rất quan trọng. Bà tin rằng “Những gì xảy ra ở Ukraine sẽ là một thử thách tối hậu để xem liệu việc thống nhất châu Âu và Xuyên Đại Tây Dương có chịu đựng được không” khi đối mặt với những cái bẩy mà Putin đặt ra cho họ.
Nhưng Jeffrey Sachs của Viện Địa Cầu thuộc Đại học Columbia tin rằng niềm tin của Putin là bước thoát ra khỏi các thực tế của thế kỷ XXI. “Putin dường như tin rằng Nga có thể làm đảo lộn bất kỳ tình trạng tồi tệ nào của quan hệ kinh tế với phương Tây bằng cách tăng cường quan hệ kinh tế với Trung Quốc”, Sachs ghi nhận rằng: “Nhưng những công nghệ và kinh doanh được kết hợp nhau trong toàn cầu là để phân chia thế giới thành các khối kinh tế.” Trong khi đó, “Trung Quốc biết rằng sự thịnh vượng kinh tế dài hạn phụ thuộc vào quan hệ tốt đẹp với Mỹ và châu Âu”,  điểm này dường như Putin không nhận ra, có vẻ như Putin không hiểu vấn đề “là nền kinh tế Liên Xô sụp đổ mà kết quả là do tình trạng bị cô lập từ các nền kinh tế công nghệ tiên tiến.”
Việc xâm nhập gần đây của Nga tại Trung Đông thể hiện cả hai vấn đề là sự táo bạo và các giới hạn của chủ thuyết Putin. Anne-Marie Slaughter,  cựu Giám đốc Hoạch định Chính sách tại Bộ Ngoại giao Mỹ và Chủ tịch đương nhiệm của New America, bà cho rằng: “Putin đã hành động vì lý do quốc nội – để đánh lạc hướng sự chú ý của người Nga ‘từ thất bại của nền kinh tế trong nước và để xoa dịu sĩ nhục khi xem những kẻ biểu tình ủng hộ châu Âu lật đổ chính phủ Ukraina mà ông hỗ trợ”.
Và từ khởi thuỷ, ông tin tưởng rằng Nga sẽ phải chịu ít chi phí. Đối với một nhà lãnh đạo tự đo lường cho mình theo điều kiện của một kẻ bạo dâm thô kệch”, thực tế thì “Hoa Kỳ là một cường quốc quân sự lớn nhất và linh hoạt nhất trên thế giới, đã được lựa chọn để đàm phán khi bàn tay bị trói sau lưng,” là một lời mời gọi công khai đưa tới việc gây bất hoà.
Ben-Ami nghĩ là Putin đã đạt được mục tiêu ở Syria, ngay cả khi chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad rút cục sẽ sụp đổ. “Sau nhiều năm đứng chung hàng ngũ, Nga hỗ trợ trong tâm điểm của trò chơi thuộc về địa chiến lược ở Trung Đông” và “đã củng cố vị trí như là một quyền lực phải được quan tâm đến”. Bằng cách tự khẳng định trong cuộc xung đột, Nga đã buộc Mỹ phải làm theo Nga. Do đó: “Các nhà lãnh đạo Trung Đông hiện nay hướng đến Moscow, không phải nhìn về Washington để gia tăng các lợi ích”.
Trận chiến Potemkin của nước Nga
Vấn đề chính của Putin ở Syria đã không phải là các phản đối của phương Tây, nhưng thực tế là nền kinh tế của Nga là quá yếu để hỗ trợ các hoạch định lớn lao của Putin trong thời gian dài. Trong vòng sáu tháng của sự can thiệp, chi phí tốn kém của việc phối trí quân đội Nga đã gây cho Putin phải triệt thoái nhiều lực lượng.
Yuriko Koike là Đô trưởng vừa mới được bầu tại Tokyo chỉ ra một cách trung thực là sự can thiệp của Putin tại Ukraine thể hiện sự yếu đuối mà  không có hành động kinh nghiệm trước đó. Bà lập luận là “chổ yếu trong tham vọng quyền lực của Putin là một nền kinh tế còn bấp bênh và chưa đủ đa dạng của Nga, và nhiều mong đợi của người Nga bình thường về các tiêu chuẩn sống được cải thiện.“
Thật vậy, vào tháng Ba năm 2014, ngay sau khi Nga chiếm đóng Bán Đảo Crimea, Sergei Guriev, cựu Viện Trưởng New Economic School ở Moscow, hiệnnay đang lưu vong, ông liệt kê những thiệt hại kinh tế lớn mà Nga gây ra như là kết quả trong một chuyến phiêu lưu sai lầm của Putin tại Ukraine. Điều này không chỉ bao gồm các “chi phí trực tiếp của hoạt động quân sự và hỗ trợ chế độ Crimean và nền kinh tế không hiệu quả”, nhưng cũng có những chi phí nhiều thương đau hơn do các biện pháp phong toả về thương mại. Kết quả của cả hai đã “làm suy yếu niềm tin của nhà đầu tư Nga và nước ngoài và gia tăng việc thất thoát vốn tư bản”.
Putin là một nhà chiến thuật, ông đã sử dụng phản ứng của phương Tây để làm lợi cho mình. Cựu Ngoại trưởng Đức Joschka Fischer và Henrik Enderlein, Giáo sư tại Trường Quản trị Hertie tại Berlin, dự đoán việc này. “Nếu phản ứng của phương Tây trước việc xâm lược của Nga tại Ukraine  giới hạn có hiệu quả trong các biện pháp trừng phạt kinh tế”, họ viết: “Putin sẽ dễ dàng hơn để có thể đổ lỗi cho phương Tây và Nga cáo buộc sự thù địch làm cho đời sống của người dân Nga bình thường suy sụp, do đó nó làm cho Putin tăng gấp đôi về chủ thuyết dân tộc hiếu chiến”.
Nhưng ý tưởng cho rằng các biện pháp trừng phạt là nguyên nhân của tình trạng khốn cùng kinh tế của Nga chỉ là một phần khác trong tuyên truyền của chế độ. Các biện pháp phong toả chỉ kết hợp các yếu kém dài hạn của nền kinh tế Nga, phản ánh trào lượng tư bản khổng lồ bị thất thoát mỗi năm. Nguyên nhân của việc này, nói như Guriev và Aleh Tsyvinski của Đại học Yale, rõ ràng đây là: “Mặc dù các cơ hội đầu tư ở Nga rất nhiều, các cơ hội này đang bị đè nặng hơn bởi những rủi ro của sự truất hưũ tài sản.” Do đó mà  “cổ đông tư nhân muốn bán cho nhà nước nhiều hơn, và lý do tại sao các công ty nước ngoài ưu tiên làm kinh doanh với các doanh nghiệp nhà nước.”
Một phần vì lý do này mà Giáo sư Simon Commander của IE Business School và tôi tin rằng nỗ lực để đa dạng hóa nền kinh tế thoát ra khỏi khu vực dầu mỏ và khí đốt đã thất bại. Hơn nữa, dưới thời Putin, khu vực công đã mở rộng nhanh chóng đến 70% của nền kinh tế, về cơ bản đảo ngược các cải cách tư nhân hóa và thị trường tự do của những năm 1990. Các người trung thành với Putin quản lý doanh nghiệp nhà nước kém cỏi và ít có sự minh bạch tối thiểu, nó làm cho vấn đề còn tệ hại hơn. Chúng tôi đã lập luận là: “Nước Nga của Putin làm ngày càng gợi nhớ đến Tổng thống Suharto của Indonesia – một hệ thống phức tạp của tư bản thân tộc và không ai có quyền sở hữu thực sự.”
Nhưng Charles Wyplosz của Trường Graduate Institute of International Studies tại Geneve đã cảnh báo chống lại các vấn đề phóng đại về khó khăn kinh tế của Nga. “Nga không phải là trường hợp của một cái rổ chờ để chứa các vấn đề kinh tế”, ông lập luận. “Tình hình hiện nay rất khác so với năm 1998”, khi thâm hụt ngân sách lớn lao của Nga và nợ công buộc chính phủ phải vỡ nợ.
Wyplosz nhấn mạnh rằng trong những năm gần đây chính phủ của Putin đã theo đuổi một chính sách kinh tế vĩ mô bảo thủ với mức khiếm hụt ngân sách nhỏ và một khoản nợ công có giới hạn, trong khi tỷ giá hối đoái của đồng rúp mất giá so với giá dầu, làm cho Nga có thể duy tình trạng thặng dư trong tài khoản thanh toán vãng lai. Vì không có tình trạng tổn thương về mặt tài chính nên đã cho phép Nga khắc phục được các biện pháp phong toà kinh tế lâu dài hơn. Và trong khi “quyết định của Putin không thực hiện các cải cách không được phổ cập mà nó có thể tạo ra một khu vực mạnh không thuộc dầu khí và có thể tác hại lâu dài cho tình trạng lành mạnh của nền kinh tế”. Ông tiếp tục lập luận là: “Tình hình này đã cho phép Putin duy trì sự hỗ trợ của đông đảo quần chúng.”
Vladimir Brezhnev?
Tuy nhiên, lựa chọn đó chỉ làm trì hoãn các việc không thể tránh khỏi. Putin là một kẻ cơ hội khéo léo, nhanh chóng chuyển biến lợi thế trong ngắn hạn khi ông cảm nhận sự yếu kém hoặc thiếu quan tâm của giới đối kháng. Nhưng ngoài mối quan tâm của ông về sự ổn định về  nền kinh tế vĩ mô, Putin dường như không có cách làm cho cải cách tạo ra cạnh tranh cho nền kinh tế của Nga.
Thật vậy, mặc dù Putin thường đem nhiều lời hứa hẹn lớn lao và hoạch định cho một tương lai rạng rỡ của Nga, thậm chí đoan chắc rằng đến năm 2003 GDP sẽ tăng gấp đôi trong một thập kỷ, ông “đã không báo hiệu bất kỳ các kế hoạch cụ thể nào để giải quyết những yếu kém của nền kinh tế Nga”, nhà kinh tế học Ba Lan Jan Winniecki nói. “Nga phải đối mặt với một thách thức tương tự như trong các năm 1970 và 1980 – và, như Putin ngày nay, các nhà lãnh đạo đã thất bại trong việc làm những gì xem ra là cần thiết.”
Do đó, George Soros lập luận là “chế độ Putin phải đối mặt với sự phá sản vào năm 2017, khi một phần lớn các khoản nợ nước ngoài tăng lên, và bất ổn chính trị có thể bùng dậy sớm hơn. “Với dự báo này, vấn đề cơ bản của Putin hôm nay là: nhờ sự cứng rắn, quá chú trọng vào đầu tư quân sự, và lơ là của phương Tây mà chế độ của ông sẽ kết thúc trong cùng một số phận sụp đổ như Liên Xô?
Nếu Nga sụp đổ, các dự đoán Michnik sẽ được xác minh là đúng. “ông trùm của băng đảng Mafia thường gặp một số phận bất hạnh”. Ông nhắc nhở chúng ta là: “tôi không nghĩ rằng Putin sẽ tiến triển nhiều trong khi hạ màn kết thúc. Tuy nhiên, trong khi đó, nhiều người – trong nước Nga và ở các nơi khác nữa – có thể phải còn chịu khổ.“
***
Anders Åslund là Thành viên Cao cấp của Atlantic Council in Washington, DC. Tác phẩm gần đây nhất của ông làUkraine: Went Wrong và How to Fix It.

Nguyên tác: The Putin QuestionTựa đề bản dịch là của người dịch.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

Bộ Nông nghiệp: Chưa khai thác hải sản ở 3 vùng biển

29/08/2016  19:28 GMT+7

- Bộ NN&PTNT khuyến cáo ngư dân chưa khai thác tại 3 khu vực biển: hòn Sơn Dương (Hà Tĩnh), cửa Nhật Lệ (Quảng Bình) và hòn Sơn Chà (Thừa Thiên - Huế).
Hôm nay, Bộ NN&PTNT đã có văn bản chính thức gửi UBND 4 tỉnh miền Trung về việc hướng dẫn nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản, giám sát ATTP và sản xuất muối.
Đối với khai thác hải sản, Bộ khuyến cáo, ngư dân chưa khai thác tại hòn Sơn Dương (Hà Tĩnh) cách bờ 1,5km với diện tích 300km2, cửa Nhật Lệ (Quảng Bình) cách bờ 1,5km với diện tích 330km2, hòn Sơn Chà (Thừa Thiên Huế) cách bờ 1,5km với diện tích 160km2.
Tọa độ của 3 khu vực biển sẽ được Bộ NN&PTNT thông báo chính thức sau khi có công bố của Bộ TN&MT.
Đồng thời không sử dụng các nghề khai thác tầng đáy như nghề lưới kéo, rê đáy, lặn, câu đáy, lồng bẫy, khai thác nhuyễn thể hai mảnh vỏ tự nhiên trong vùng biển 20 hải lý trở vào bờ từ thuộc các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên - Huế.
Bổ sung đối tượng được bồi thường 
Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình tại cuộc họp về tiến độ triển khai công tác xác định, bồi thường thiệt hại sự cố môi trường biển do công ty Formosa gây ra.
Formosa, sự cố môi trường biển, cá chết, bồi thường thiệt hại, 4 tỉnh miền Trung
Formosa xả thải gây cá chết tại 4 tỉnh miền trung gây thiệt hại lớn. Ảnh: Duy Tuấn
Phó Thủ tướng đồng ý bổ sung các đối tượng gián tiếp bị thiệt hại là chủ tàu và người lao động làm thuê trên tàu cá lắp máy công suất từ 90CV trở lên; chủ các cơ sở và người lao động làm thuê tại cơ sở (thu mua) tạm trữ thủy sản có kho đông, kho lạnh, cơ sở chế biến nước mắm, làm mắm tôm, các cơ sở nuôi trồng thủy sản phải tạm dừng sản xuất do nguồn nước biển bị ô nhiễm tại Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.
Đối với lượng thủy sản đang lưu trong các kho lạnh, kho cấp đông chưa tiêu thụ được thì tổ chức lấy mẫu, xét nghiệm. Các lô hàng đảm bảo an toàn thực phẩm thì cấp giấy xác nhận đảm bảo an toàn thực phẩm để lưu thông, tiêu thụ. Các lô hàng không đảm bảo an toàn thực phẩm thì tiêu hủy theo quy định và hỗ trợ theo quyết định của Thủ tướng.
Liên quan đến việc tại 4 tỉnh còn tồn kho 3.900 tấn hải sản, ông Nguyễn Ngọc Oai - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản cũng cho biết, Bộ NN&PTNT cùng các địa phương sẽ tổ chức lấy mẫu xét nghiệm các lô hàng.
"Lô hàng nào đảm bảo ATTP sẽ được cấp giấy xác nhận ATTP để tiêu thụ bình thường, lô hàng nào không đảm bảo sẽ bị tiêu hủy. Tuy nhiên, chủ lô hàng bị tiêu hủy sẽ được hưởng chế độ hỗ trợ với mức không quá 70%", ông Oai nói.
H.Nhì - B.Hân

Doanh thu Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Trung Quốc lần đầu tiên xuất hiện tăng trưởng âm

2016-08-28 14:57:04     Xin Hua

Theo Tân Hoa xã: Bảng xếp hạng Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Trung Quốc năm 2016 do Hiệp hội doanh nghiệp Trung Quốc, Hội Doanh nhân Trung Quốc ngày 27/8 công bố tại Trường Sa, Hồ Nam Trung Quốc cho thấy, tổng doanh thu của các doanh nghiệp nằm trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Trung Quốc giảm 0,07% so với năm trước, lần đầu tiên giảm trong 15 năm liên tiếp công bố Top 500 doanh nghiệp Trung Quốc. Tuy nhiên, kết cấu ngành nghề ngày một ưu hóa, thể hiện động lực mới và điểm sáng mới.Tuy doanh thu Top 500 doanh nghiệp Trung Quốc lần đầu tiên xuất hiện tăng trưởng âm, nhưng cũng có nhiều điểm sáng mới trong bảng xếp hạng. Đặc trưng công nghiệp hóa chất nặng trong Top 500 doanh nghiệp Trung Quốc tiếp tục yếu đi, trong khi đó ngành dịch vụ hiện đại lại phát triển nhanh chóng. Tỷ trọng của doanh thu ngành dịch vụ tăng lên tới 40,53%, tỷ trọng của doanh thu ngành chế tạo giảm xuống còn 39,17%, doanh thu của ngành dịch vụ lần đầu tiên vượt ngành chế tạo.

Cơ quan tham vấn Trung Quốc: 10 năm tới Trung Quốc sẽ chào đón thời kỳ vàng tiêu dùng

2016-08-29 16:30:18     Hãng tin TQ
Theo Hãng tin Trung Quốc: Ngày 29/8, tại Bắc Kinh, Trung tâm Giao lưu kinh tế quốc tế Trung Quốc công bố báo cáo tham vấn nêu rõ, 10 năm tới, Trung Quốc sẽ trở thành nước tăng trưởng nhanh nhất về quy mô thị trường toàn cầu, kinh tế Trung Quốc sẽ chào đón thời kỳ vàng tiêu dùng, nhu cầu tiêu dùng trong nước có thể sẽ tiếp sức từ đầu tư và xuất khẩu, trở thành động lực tăng trưởng kinh tế.
Trung tâm Giao lưu kinh tế quốc tế Trung Quốc cho rằng, 10 năm tới, kết cấu tiêu dùng của Trung Quốc sẽ tiếp tục được ưu hóa, tiềm năng tiêu dùng của người dân sẽ được giải phóng hơn nữa, quy mô tổng thể của thị trường trong nước sẽ đứng đầu thế giới.
Trung tâm này dự báo, 10 năm tới, Trung Quốc sẽ trở thành nước lớn nhất thế giới về thương mại và điểm đến quan trọng của sự chuyển dịch ngành nghề, tổ hợp yếu tố và vốn đầu tư quốc tế, và từng bước trở thành nước lớn về đầu tư ra nước ngoài.