Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

VẪN DUY Ý VÀ DUY TÂM CHỦ QUAN TRONG CÁC GIẢI PHÁP CHỈNH ĐỐN ĐẢNG - Tác giả: PHẠM VIẾT ĐÀO

 

 Lớn | Vừa | Nhỏ  
[Không rõ 29/02/2012 07:30 | by kytrung ]






Bài viết này công bố trên blog P.V.Đ tháng 2/2012 sau khi Nghị quyết TW 4 được ban hành; sau khi công bố  loạt bài viết này, P.V.Đ lúc đó đang là đảng viên của Đảng bộ Thanh tra Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đã bị Đảng bộ yêu cầu kiểm điểm, hạ bài và bị khiển trách trước BCH Đảng bộ và bị ghi vào lý lịch...
Trong kết luận của Cơ quan điều tra Hà Nội sau khi P.V.Đ bị bắt có nhắc đến " án" kỷ luật đảng này. Khi nhận kỷ luật, P.V.Đ đã chấp nhận hạ bài này trên blog nhưng vẫn bảo lưu những ý kiến trong bài viết...
( Sau khi bị tù, P.V.Đ đã bị khai trừ khỏi đảng )
Blog này của P.V.Đ đã bị đánh sập không lâu sau khi công bố bài này, nhưng may mắn bài viết đã được blog của nhà văn Trần Kỳ Trung lưu giữ hộ ( http://trankytrung.com/read.php?472 )...
Đối chiếu với các bài viết của tác giả Nguyễn Thế Nghĩa đăng trên Tạp chí Triết học tháng 3/1994 và , bài của PGS-TS Đoàn Minh Huấn, Học viện chính trị Khu vực 1, đăng trên TC Lý luận chính trị tháng 3/2016, bài của Nhị Lê-Phó Tổng Biên tập TC Cộng sản đăng 8/2016 thì ý kiến của P.V.Đ viết năm 2012 chưa có gì trái ngược, quá quắt: 

>Khắc phục chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí - ChúngTa.com;






































Trang 2 của Kết luận điều tra của CAHN...

Xin đưa lại bài viết này:

Kết quả hình ảnh cho Nhà văn Trần Kỳ Trung
Nhà văn Trần Kỳ Trung: 
Đây là bài viết tôi đọc thấy rất hay, chỉ rõ căn nguyên vì sao uy tín của Đảng lại xuống thấp như hiện nay, chỉ ra cách khắc phục. Không một thế lực nào có thể phá Đảng, nếu như Đảng được lòng dân, được dân ủng hộ. Cũng không ai phá Đảng bằng chính những Đảng viên có chức ,có quyền nhân danh " Đảng" để trục lợi cá nhân, tham nhũng, cướp đất của dân.
Dân là " THẦN" là " THÁNH" phải thờ phụng, phục vụ thành tâm may ra mới an toàn tính mạng và thanh thản tâm hồn.
            
Xin phép tác giả PHẠM VIẾT ĐÀO cho trankytrung.com đăng lại bài này.
------------------------------------------------------

VẪN DUY Ý CHÍ VÀ DUY TÂM CHỦ QUAN TRONG CÁC GIẢI PHÁP CHỈNH ĐỐN ĐẢNG ? ( Phần 1 )



Phạm Viết Đào.


Phần 1: Đảng muốn chỉnh đốn nhưng lại phờ lờ vai trò, nguồn sinh lực từ nhân dân ?

Nghiên cứu những ý kiến phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng tại Hi nghtoàn quc quán trit, trin khai Ngh quyết Trung ương 4 (khóa XI) thấy ông quán triệt 4 nội dung, trong đó có 2 nội dung quan trọng của hội nghị lần này:
- “Thứ nhất, công tác xây dựng Đảng luôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Đây là bài học lớn, là kết luận sâu sắc, đúc rút qua quá trình hơn 80 năm hoạt động của Đảng. Càng đi vào đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, càng cần phải coi trọng công tác xây dựng Đảng; đây là nhân tố đảm bảo thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
- Thứ tư, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá điên cuồng sự nghiệp đổi mới của đất nước ta nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh tình hình trên, Đảng ta luôn nhấn mạnh phải đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta.”
Như vậy là TBT coi nhiệm vụ chống các thế lực thù địch là "then chốt ", là một trong 4 nội dung quan trọng trong Nghị quyết chính đốn Đảng lần này; các thế lực thù địch siêu hình vẫn tiếp tục được coi là đang thách thức sự tồn tại cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng ?
Nghị quyết Trung ương 4 tập trung vào 3 vấn đề cấp bách: Thứ nhất, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Thứ ba, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Ba nội dung đó có quan hệ gắn bó, trong đó, nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt, mang tính cấp bách nhất.” 
Và nhóm 4 giải pháp: (1)Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong và gương mẫu của cấp trên; (2) Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt Đảng; (3) Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; (4) Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Tinh thần toát lên trong các nhóm giải pháp đó là: Xác định những việc cần làm, có thể làm ngay và những việc cần có thời gian chuẩn bị, nhất là về vấn đề xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện một cách kiên quyết, hiệu quả.”
Trong các nội dung trên không có dòng nào, câu nào đề cập tới vai trò của nhân dân trong việc góp phần chỉnh đốn Đảng; Muốn chỉnh đốn được Đảng phải dựa vào dân, tin dân, phải nghe dân; Có nghe dân, Đảng gần dân, hiểu được dân vì “ chở thuyền và lật thuyền cũng là dân” thì Đảng mới củng cố, mới đẩy lùi được suy thoái để mà tồn tại và phát triển ? Câu châm ngôn thời chống Mỹ: Khó vạn lần dân liệu cũng xong…trở thành câu nằm lòng của cả một dân tộc trong một giai đoạn cam go nhưng trong Hội nghị trung ương chỉnh đốn Đảng lại phớt lờ nguồn sức mạnh vĩ đại này ? Đảng có được ngày hôm nay là do trước đây từng dựa vào nhân dân, xương máu của nhân dân bao thế hệ thế mà giờ đây Hội nghị này, trong 4 nội dung và lại phớt lờ vai trò của nhân dân thì làm sao Đảng vững mạnh được, chỉnh đốn được. Khi một Ban chấp hành Trung ương coi thường dân như vậy, phớt lờ dân như vậy và mọi sai trái, suy thoái lại đổ cho thế lực thù địch thì nghe có thấu tình đạt lý không ?
Khi ra đời, Đảng hoàn toàn dựa vào nhân dân: nhân dân nuôi dưỡng, chở che; Để giành chính quyền về tay mình, Đảng cũng phải sử dụng sức mạnh bạo lực của toàn dân: Cuộc cách mạng tháng 8 giành được chính  quyền là do sức mạnh bạo lực của toàn dân vì năm 1945, cả nước chỉ có 5000 đảng viên ?! Rồi 2 cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nếu không có xương máu của nhân dân, tiền của của nhân dân liệu một mình tổ chức Đảng cùng với các vị đảng viên có gánh vác nổi không ?
Những việc làm làm tai ngược, tai hại mất uy tín của Đảng như Tham ô, cửa quyền, áp bức dân chúng quá đáng như vụ Vinashin, như PMU 18, như Tiên Lãng đều do cán bộ Đảng gây ra chứ không do một thế lực thù địch nào gây ra cả…Người dân mất lòng tin vào Đảng do bởi các hành vi suy đồi cụ thể đó chứ họ đâu có thời gian để đọc những luận thuyết trên trời dưới biển, họ đâu bị các thế lực thù địch tuyên truyền, xuyên tạc đường lối chủ trương hay, việc làm ích nước lợi dân của các tổ chức Đảng, của các ông đảng viên...
Về phương diện tuyên truyền: Rất mong các cơ quan tuyên giáo của Đảng chỉ ra các thế lực thù địch nào, đã có các hành vi cụ thể gì tác động vào cái gì cụ thể để chống lại Đảng, làm cho nhân dân mất lòng tin vào Đảng ? Vậy xin hỏi Đảng một bộ phận đảng viên suy thoái nghiêm trọng như ý kiến của TBT Nguyễn Phú Trọng là do thế lực thù địch chống phá điên cuồng cài vào, mua chuộc, dụ dỗ làm cho họ suy thoái, hay do nhân dân bị thế lực thù địch kích động nên đã làm ảnh hưởng tới một bộ phận đảng viên khiến cho các đồng chí ấy làm các việc làm giống như phường trộm cướp ?
Đảng ra đời, thoát thai từ nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng chở che, những điều này đã được văn kiện Đảng đề cập nhiều trong những năm 60 của thế kỷ trước, thế mà giời đây ??? Thế mà giờ đây đứng trước nguy cơ suy thoái, sụp đổ Đảng lại không nhận ra bài học vỡ lòng: Muốn củng cố Đảng, muốn xây dựng Đảng phải dựa vào dân, phải nghiên cứu xem tại sao nhân dân mất lòng tin; Đảng không những không hiểu vì sao nhân dân lại suy nghĩ về Đảng như hiện nay mà lại quay sang đổ cho thế lực thù địch, đổ cho các tác nhân khách quan làm hỏng Đảng ? Trong khi đó thì qua các chuyến thăm ngoại giao thấy Việt Nam có quan hệ hữu nghị với hầu hết các nước lớn trên thế giới ? Vậy xin hỏi các thể lực thù địch này nảy nòi từ đâu ra ?!
Đúng một con bệnh bị đổ bệnh rất nhiều trường hợp do tác nhân khách quan: bị phơi nhiễm do bị dịch lan truyền, thời tiết, khí hậu, môi trường…Nhưng xin hỏi tại sao cùng môi trường đó, hoàn cảnh đó số người bị mắc nhiễm bệnh chỉ chiếm phần nghìn, phần triệu; nếu là do khách quan chi phối thì tất cả bị nhiễm hết chứ ? Một điều sơ đẳng như vậy mà tại sao các bộ óc tinh túy nhất của Đảng cũng không nhận ra?
Xin thưa với Đảng rằng: nhân dân không chỉ là cái ngai bệ thờ để Đảng đặt lên đó những bức hoành phi sơn son thếp vàng vinh danh Đảng mà “ nhân dân “ còn là thị trường tiêu hóa các chủ trương chính sách của Đảng, è lưng ra để gánh, đóng thuế nuôi các ông Đảng viên ngồi lên đầu lên cổ mình ? Thế mà một hội nghị bàn về một việc đại sự; xem lại cách làm việc của Đảng lại không xem xét đến vai trò của nhân dân ?
Marx đã viết ( đại ý ): Quan hệ sản xuất không chỉ sản sinh ra vật phẩm tiêu dùng mà còn sản sinh ra người tiêu dùng; Bởi người tiêu dùng rất nhiều khi nó không phải là sản phẩm thụ động của quan hệ sản xuất mà nó còn tác động trở lại làm thay đổi quan hệ sản xuất…Điều này dễ hiểu vì đã quan hệ thì trường là “Cung-Cầu”; đây là một cặp phạm trù biện chứng, tác động qua lại hữu cơ chứ làm gì có chuyện áp đặt chủ quan một chiều ? Thế mà Đảng chỉ biết mình, chỉ biết trách nhiệm, vai trò của phía Cung mà bất cần biết hiện nay Cầu có còn như điều mình lập trình ? Khi thấy Cầu không như những điều đã lập trình trong “ bộ nhớ “ già nua, cổ lỗ, lỗi môd, quá đát do quan liêu, xa rời thức tế và không chịu học hỏi để nâng tầm mình lên… 
Đọc các văn kiện của Đảng những năm gần đây thấy các tổ chức Đảng, các cơ quan Đảng và các ông đảng viên bảo thủ rất dị ứng, hoảng hốt với phạm trù “ tự diễn biến hòa bình “…Báo Quân đội nhân dân đã dành hẳn chuyên mục thường xuyên viết các bài chống lại Tự diễn biến hòa bình ? Tại sao lại chống lại quy luật phát triển, sinh tồn tự nhiên như vậy ? Một cơ thể con người bình thường muốn duy trì sự sống hàng ngày phải ăn, ngủ, hít thở khí trời, phải thực thi một quá trình trao đổi chất thường trực, nghiêm minh thì mới duy trì được sự sống sinh vật; Một Đảng nhận là marxit, tồn tại và phát triển dựa vào 2 nguyên lý: Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử mà lại sợ sự tự diễn biến; về sinh học thực chất đó là quá trình trao đổi chất thuần túy sinh học… Trái tim nhỏ bé của cơ thể người hàng ngày phải bơm hàng trăm lít máu chở hồng cầu tới các bộ phận trong cơ thể và hút về các máu thải, máu đen để tinh luyện trở lại, để tái duy trì sự sống là điều mà một học sinh phổ thông cũng đã được dạy trên ghế nhà trường.
                                                
Những vụ án kinh tế lớn như PMU 16, Vinashin đã làm “ lộ hàng “, đã phơi bày cái mặt trái của cái cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ” ? Đảng lãnh đạo kiểu gì, nhà nước quản lý kiểu gì mà: cán bộ mang hàng trăm ngàn đôla tiền tham ô đi đánh bạc mà không biết, ( Bùi Tiến Dũng bị bắt không do cơ quan điều tra, quản lý phát hiện mà do vỡ lở từ một trùm tổ chức đành bạc bị bắt ); người tam rút ruột hàng tỷ USD ngân sách ( trong vụ VINASHIN ) trong một thời gian ngắn cho tới khi cạn kiệt rồi mới biết; một chủ tịch huyện ngang nhiên huy động trăm bộ đội, công an, dân phòng vào cướp phá tài sản của một nông dân làm ra bằng mồ hôi xương máu của mình giữa ban ngày lại có nguy cơ bị chìm xuồng nếu không có cư dân mạng, những nghĩa binh trong lĩnh vực thông tin nhảy vào cứu ? Nếu không có lực lượng này thì Đoàn Văn Vươn đã rũ tù chứ đâu phải nhờ vào sự sáng suốt của chính quyền và cấp ủy Hải Phòng ???


“CHỈNH ĐỐN ĐẢNG” HAY LIÊN HOAN “NGHỆ THUẬT CHỈNH ĐỐN ĐẢNG”? ( Phần 2 )
Chuyện Tiếu lâm: Tại một cơ quan nọ, chi bộ quyết định kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng một đảng viên thoái hóa biến chất; khi quyết định được ban ra lập tức bị quần chúng tại cơ quan này phản ứng, họ làm đơn kiến nghị không thải ông này ra quần chúng vì quần chúng không có ai xấu như ông đảng viên kia. Quần chúng đề nghị giữ ông này trong Đảng để giáo dục còn hơn là đưa ra quần chúng làm hỏng quần chúng…
Câu chuyện vui này cho thấy sự nghiêm trọng của sự thoái hóa biến chất của một bộ phận đảng viên; vậy thì làm cách nào để trị được đảng viên hư để chỉnh đốn Đảng ? Khi báo chí đưa tin rầm rộ về Nghị quyết 4 cùng với các nhóm giải pháp, nhiều quần chúng đã cho rằng: Nếu Bộ Chính trị thật lòng muốn chỉnh đốn Đảng thì phải nêu gương chỉnh từ trên xuống như lời ông Lê Khả Phiêu; tức là trong số các ủy viên Bộ Chính trị, Ban chấp hành TW kỳ này dứt khoát phải có ông đứng ra nhận lỗi là mình có sai sót và nhận kỷ luật ? Chả nhẽ Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương không ai có khuyết điểm gì, tốt đẹp cả thế thì tại sao đẩy Đảng vào tình thế nghiêm trọng, bê bết như hiện nay nên phải hè nhau chỉnh đốn ?
Chả nhẽ Hải Phòng bê bết như vậy, gây hậu quả nghiêm trọng như vậy, một Bí thư thành ủy như ông Nguyễn Văn Thành công khai bày tỏ ý kiến ngược với ý kiến kết luận của Thủ tướng mà không bị làm sao; trong khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được Bộ Chính trị giao giải quyết việc này ? Các cơ quan chức năng dưới sự lãnh đạo toàn diện của Thành ủy Hải Phòng vi phạm pháp luật nghiêm trọng như vậy mà không một lãnh đạo chủ chốt nào của thành ủy Hải Phóng bị kỷ luật về Đảng; Tại  Mục 4, Điều 9 của Điều lệ Đảng quy định về Nguyên tắc tổ chức Đảng:” Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.” Như vậy trong ý kiến phát biểu của BT Hải Phòng Nguyễn Văn Thành đã vi phạm mục 4, Điều 9 của Điều lệ Đảng; Kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là ý kiến đại diện cho 2 cơ quan: Người đứng đầu bộ máy hành pháp, tức Chính phủ và là người đại diện cho Bộ Chính trị đứng ra kết luận…
Thực ra truy quét và nghiêm trị đảng viên hư theo kiểu bắt tận tay day tận trán kiểu này vẫn là cách làm cò con; Để giải quyết các vấn đề thuộc nội bộ của một tổ chức, hơn nữa đây lại là tổ chức của một đảng cầm quyền thì phải làm bài bản hơn, khoa học hơn; tức là làm một cách có tổ chức chứ không phải tùy hứng hoặc duy ý chí mà phải lần tới từ gốc của vấn đề vì sao dẫn tới việc đảng viên suy thoái về đạo đức, lôi sống dẫn tới vi phạm kỷ luật, pháp luật nhà nước…
Nếu không làm một cách bài bản, đến nơi đến chốn thì cuộc chỉnh Đảng lần này sẽ rơi vào tình cảnh giống như các cuộc Liên hoan nghệ thuật – Liên hoan “nghệ thuật chính đốn Đảng”…Tại các Liên hoan mọi người đến tham gia và ra về đều vui vẻ cả, người bất tài thì sẽ được cấp chứng chỉ có mặt tại Liên hoan; người có các hoạt động nổi trội hơn một chút thì sẽ được cấp Huy chương vàng, bạc, bằng khen của hội đoàn này nọ; như vậy cái hoạt động chính trị nghiêm túc này sẽ biến thành hoạt động của cái đám phường tuồng, phường chèo…
Nghị quyết Trung ương 4 tập trung vào 3 vấn đề cấp bách: “Thứ nhất, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Thứ ba, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Ba nội dung đó có quan hệ gắn bó, trong đó, nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt, mang tính cấp bách nhất.” Và nhóm 4 giải pháp: (1)Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong và gương mẫu của cấp trên; (2) Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt Đảng; (3) Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; (4) Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Tinh thần toát lên trong các nhóm giải pháp đó là: Xác định những việc cần làm, có thể làm ngay và những việc cần có thời gian chuẩn bị, nhất là về vấn đề xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện một cách kiên quyết, hiệu quả…”
Xin bắt đầu vào 3 nhiệm vụ cấp bách mà ông Nguyễn Phú Trọng đã nêu;
1/“Thứ nhất, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
Đây là một cách đặt vấn đề mang nặng lối duy tâm chủ quan hay nói cách khác là “đặt cái cày trước con trâu”; triết học duy vật biện chứng mà Đảng Cộng sản vẫn lấy làm phương pháp luận từng đặt ra mệnh đề: Phạm trù tồn tại quyết định phạm trù ý thức; muốn “ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”…là những lĩnh vực thuộc phạm trù ý thức, thượng tầng kiến trúc, muốn cải biến nó thì phải bắt tay giải quyết hiện thực tồn tại khách quan vì cái tồn tại có trước ý thức… Một người đang đói thay việc động viên, khích lệ tinh thần suông thì phải thay bằng việc tìm hiểu xem anh ta là người có khả năng gì, sống trong môi trường nào và tìm cách chỉ cho anh ta cách kiếm tiền hoặc  gieo trồng cây trái để cứu đói; đó mới là duy vật biện chứng…
Nhóm giải pháp này đã không đi sâu tìm hiểu, phân tích đánh giá từ nguyên nhân, quan hệ thực tiễn nào dẫn tới, xô đẩy đảng viên vào những suy thoái trên? Điều này rất đơn giản: bởi các đảng viên được trao độc quyền, độc đoán, quyền lực được trao là quyền lực nhà nước, quyền lực đẻ ra tiền nhưng lại không có lực lượng đối trọng, lực lượng kiểm tra, giám sát, khống chế thì sự suy thoái, suy đồi là điều dễ hiểu vì nó bị sức mạnh, sức hút của vật chất cảm dỗ…
Muốn chỉnh đốn sự suy thoái này thì phải cải tạo cái quan hệ dẫn tới sự thoái chứ không thể dùng tư tưởng để chế ngự, cải tạo tư tưởng; làm cho tư tưởng tốt lên để quay sang cải biến thực tại…Từ cái tư tưởng đã được chấn chỉnh ấy để giúp cho các chủ thế của nó sẽ chuyển biến trong việc giải quyết các vấn đề thực tại là việc làm mang tính chất áp đặt, duy tâm chủ quan, đặt cày trước trâu…Tại sao một công thức sơ đẳng như vậy của phép biện chứng mà báo cáo của TBT Nguyễn Phú Trọng chắc đã qua nhiều bộ máy tham mưu để mắt mà vẫn không sạch nước cản…Với cái cơ chế Đảng lãnh đạo toàn diện, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ như hiện nay thì có chấn chỉnh giời, cán bộ Đảng tiếp tục vẫn sa vào suy thoái, làm bậy vì độc quyền quá đáng…
Về nhiệm vụ thứ 2: “Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế…” Đây là một thứ khẩu hiệu trống rỗng mang yếu tố hô hào mà không chứa đựng những ràng buộc về pháp lý và nguyên tắc Đảng…Bao nhiêu xã luận, bao nhiêu nghị quyết đã đưa khẩu hiệu này ra rồi Đảng vẫn cứ suy thoái, tụt hậu thì có tiếp tục hô phỏng có ích gì ?
Còn nhiệm vụ “Thứ ba, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị…” điều này trong Điều lệ đã quy định rồi, có gì mới đâu…Có thể coi nhiệm vụ thứ 3 là một tối kiến; trách nhiệm người đứng đầu ư, người đứng đầu không phân địn rõ rõ trách nhiệm thì điều hành cái gì, quản lý ai?
Còn đối với nhóm 4 giải pháp: (1)Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong và gương mẫu của cấp trên; (2) Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt Đảng; (3) Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; (4) Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Tinh thần toát lên trong các nhóm giải pháp đó là: Xác định những việc cần làm, có thể làm ngay và những việc cần có thời gian chuẩn bị, nhất là về vấn đề xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện một cách kiên quyết, hiệu quả…”
Đây vẫn là những giải pháp duy ý chí, nếu không muốn nói là ảo tưởng khi Đảng muốn tự túm tóc nâng mình lên.Trong tác phẩm Làm gì, V.I Lênin nói rằng: “Hãy cho tôi một tổ chức của những người cách mạng, tôi sẽ đảo lộn cả nước Nga, rằng vũ khí đấu tranh của giai cấp công nhân không có gì khác hơn là tổ chức…”
Lê Nin nói điều này trong hoàn cảnh Đảng Bolsevich Nga chưa nắm được chính quyền, còn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được quyền lãnh đạo nhà nước thì công tác tổ chức nằm trong tay Đảng. Công thức mà Lênin từng đưa ra: Nếu không có một tổ chức của những người cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng vững chắc được. Tổ chức của những người cách mạng có tính chất quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng…Chúng ta có thể hiểu muốn cải tạo một vấn đề nào đó thì phải dùng sức mạnh của một tổ chức thì mới làm được. Trong hoàn cảnh Đảng đang bét nhè như hiện nay, muốn chấn chỉnh phải có 2 cách: Tập hợp một bộ phận ưu tú trong Đảng, lập thành bộ tham mưu để chấn chỉnh cải tạo lại Đảng; Hai là sử dụng sức mạnh của nhân dân… Vậy Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương đã phải là bộ phận ưu tú, trung thành với quyền lợi dân tộc không; Nếu Đảng coi sự nghiệp mưu cầu hạnh phúc nhân dân là mục tiêu phấn đấu thì phải đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết…Nếu lấy tiêu chí này thì có không ít những vị là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban chấp hành trung ương có những hành tung đáng ngờ, khó tin…Vậy thì các ông hãy phê và tự phê trước xem có thành khẩn, có thành tâm không nào ? Khi các ông trong Bộ Chính trị cũng né nhau thì dại gì bên dưới lại đụng nhau ???
Mao Trạch Đông đã có lúc sử dụng sức mạnh hồng vệ binh để giải tán Đảng Cộng sản Trung Quốc; lịch sử Trung Quốc coi hành động của Mao là tội ác vì nó nhằm mục đích duy trì quyền lực cho cá nhân ông ta; song về phương pháp luận nhằm đạt một mục đích, mục tiêu chính trị nào đó không thể không ghi nhận cách làm của Mao Trách Đông là có hiệu quả nếu nhà chính trị thật sự muốn thay đổi tình thế ? Đối vởi Đảng cộng sản Việt Nam, nếu thật sự muốn chỉnh đốn để không bị sụp đổ thì có 2 cách: thay đổi từ từ hay là liệu pháp sốc ? Thay đổi từ từ thì rất dễ rơi vào tình cảnh đánh bùn sang ao ? Còn liệu pháp sốc thì trông vào dàn lãnh tụ cộng sản Việt Nam hiện nay khó tin có vị nào dám đứng mũi chịu sào như Gorbachiop, như Boris Elsin, chấp nhận những đổ vỡ đau đớn để làm lại…
Tóm lại cuộc chỉnh đốn Đảng lần này đang có nguy cơ rơi vào tình cảnh: Trên hô khẩu hiệu, dưới lại hô khẩu hiệu to hơn; khí thế thì nghe ngất trời nhưng rồi đâu vẫn hoàn đấy; và nếu như vậy thì cuộc chỉnh đốn Đảng được phát động rầm rộ này rất dễ bị biến tướng thành một dạng Liên hoan “nghệ thuật chỉnh đốn Đảng”…


TỰ DO THÔNG TIN CÓ THỂ GIÚP CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, VẠCH MẶT ĐẢNG VIÊN THOÁI HÓA, BIẾN CHẤT ( Phần cuối )

Bài  liên quan:

Có một cách có thể giúp Đảng chỉnh đốn được mà không gây nên sự xáo trộn, đổ vỡ lớn: Sử dụng tự do thông tin để làm chuyển biến xã hội và chuyển hóa Đảng; tự do thông tin có khả năng loại bỏ những phần tử cặn bã trong Đảng giống như ôxy khử loại CO2 ra khỏi máu. Qua vụ Tiên Lãng vừa qua thấy hiệu quả của thông tin có tác dụng tích cực trong việc lành mạnh xã hội như thế nào…
Đối với dịch cúm H5N1 xảy ra năm 2008 Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia ngăn chặn có hiệu quả; bí quyết của Việt Nam là không sử dụng hệ thống điều hòa tổng tại các bệnh viện chữa trị căn bệnh này; sử dụng sự thông thoáng tự nhiên, mở thông cửa sổ và quạt máy bình thường; kết quả sử dụng ánh sáng và không khí tự nhiên đã có tác dụng cô lập và hủy diệt được virus cúm H5 N1…
Kinh nghiệm dập dịch cúm H5N1 năm 2008 theo tôi có thể áp dụng cho đời sống thông tin báo chí hiện nay nhằm tạo điều kiện cho báo chí tham gia đấu tranh với các tiêu cực xã hội, chỉnh đốn Đảng.
Theo thiển ý của chúng tôi, việc điều chỉnh, lành mạnh xã hội, tạo điều kiện cho các nguồn lực xã hội được phát triển, tiền đề để “nguyên khí” được sinh, tụ đẩy lùi “tà khí”, “hung khí” và “thải khí” bằng phương cách sử dụng phương tiện thông tin, dư luận xã hội là giải pháp cấp thiết, ưu việt; còn như giải pháp điều chỉnh xã hội bằng việc sử dụng dùi cui, bộ máy cảnh sát và nhà tù là cách mà thế giới đương đại đang áp dụng phổ biến tại một số quốc gia kém văn minh là giải pháp hạ sách, cực chẳng đã, giải pháp cuối cùng…Dư luận lành mạnh xã hội giống như nguồn sáng của trời đất, nó giúp điều chỉnh sinh khí, tăng ôxy, tăng hồng cầu trong máu để tiếp dưỡng chất cho cơ thể sống; Đây là cách ít gây tổn thương nhất, đỡ tốn kém nhất cho xã hội…
Một thể chế chính trị xã hội không để đời sống thông tin được phát triển tự do, người dân không được công khai bày tỏ chính kiến thì khác gì một ngôi nhà thiếu hệ thống cửa sổ cung cấp ánh sáng và hệ thống thông gió lưu thông không khí…
Sử dụng phương tiện thông tin để điều chỉnh xã hội cũng giống như phương cách trị bệnh bằng day bấm huyệt, bằng thể dục dưỡng sinh, bằng chiếu các tia để diệt các tế bào phát sinh bệnh mà ngành y đang sử dụng là một giải pháp có nhiều ưu thế hơn phẫu thuật, hoặc chích uống thuốc !
Không một mô hình quản trị kinh tế-chính trị-xã hội nào muốn phát triển lành mạnh, đúng thực chất, được đa số người dân tự giác chấp nhận, ủng hộ và tuân theo mà không trải qua thể chế dân chủ, thể chế dân chủ; thể chế dân chủ là thể chế cho phép minh bạch hóa các mối quan hệ; một bộ máy nhà nước chỉ được dân chúng ủng hộ khi minh bạch được sự phân chia quyền lợi, nghĩa vụ một cách công bằng công khai với đa số nhân dân…
Cách đây hơn 2000 năm khi được vua Tần hỏi về chính sự, Vệ Ưởng đã trả lời: Luật pháp không nghiêm là do lỗi của kẻ cầm đầu; Người Việt có câu; Thượng bất chính thì hạ tắc loạn; Để giám sát quản, trị được kẻ cầm đầu thì nhà nước nhất thiết phải  thiết kế cho được cơ chế, bộ máy giám sát, kiểm soát những kẻ cầm đầu để kịp thời nghiêm trị, thải loại những kẻ tha hóa biến chất; Bộ máy giám sát này phải độc lập với bộ máy công quyền thì mới giám sát được; Còn như: Đã trót tương đồng trong một quán; Dẫu trà ôi rượu độc cũng là duyên… thì còn giám sát nhau cái nỗi gì…
Có 2 phương thức giám sát: thể chế hoạt động giám sát, kiểm soát thông qua quyền lực hành chính và thông qua dư luận xã hội…Muốn giám sát chuẩn thì nguồn thông tin là một dữ liệu không thể thiếu.
Trước khi thiết kế ra được một thiết chế giám sát độc lập những kẻ đứng đầu hữu hiệu, phải tạo điều kiện cho báo chí được tác nghiệp theo các quy định về sự minh bạch thông tin, được chịu trách nhiệm về nguồn tin khi đưa tin về các vấn đề chính trị-kinh – xã hội… Chúng tôi xin có 3 kiến nghị nhằm đảm bảo cho đời sống thông tin phát triển đúng thiên chức:
1/Xây dựng cơ chế để tạo điều kiện cho thông tin đa chiều được phát huy nhằm phá thế độc quyền, bóp nghẹt thông tin như hiện nay ( điều hòa tổng ); để tiến tới cấp phép cho báo tư nhân ra đời, trước mắt nhà nước cần khuyến khích việc thành lập các hiệp hội blogger và trang tin điện tử cá nhân; khuyến khích sự bảo trợ về phương diện kỹ thuật từ phía nhà nước và tư nhân cho các hoạt động thông tin mạng;
2/Xóa Điều 88 Bộ Luật Hình sự 2005: Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam…Đây là một chiếc vòng kim cô, một “ cửa tử “ đối với hoạt động thông tin báo chí…
Để tạo điều kiện cho hoạt động thông tin đa chiều, tạo điều kiện cho công dân được công khai bày tỏ chính kiến, phản biện và tranh luận với các cơ quan công quyền, các hiện tượng chính trị-kinh tế-xã hội đang xảy ra; Loại Điều 88 này để tránh hiện tượng: ” Hòn bấc ném đi, bom tấn ném lại “;
Đây là điều luật đã lạc hậu và trái với thông lệ của thế giới văn minh; quyền bày tỏ chính kiến kể cả chính kiến trái với chính quyền là một quyền tự do tối thiểu của công dân trong thế giới văn minh đương đại- “quyền ăn, quyền nói” là 2 quyền cơ bản làm người của một con người; nếu vận dụng cứng nhắc điều luật này thì 90 % các blogger Việt Nam đang tồn tại hiện nay sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Việt Nam đang đưa ra cương lĩnh: Xây dựng một nước Việt Nam “công bằng, dân chủ và văn minh” nhưng lại chưa tạo điều kiện cho người dân được công khai bày tỏ chính kiến là việc làm đi ngược với tiêu chí do mình đã đề ra;
3/Soạn lại Luật Báo chí để cho phép báo chí tư nhân ( thực chất là đã xuất hiện ) được bình đẳng như các báo của các cơ quan công quyền, các hiệp hội, đoàn thể chính trị ; Hoạt động báo chí-xuất bản phải được nhà nước nhìn nhận, quản lý giống như các hoạt động kinh tế-xã hội khác để các quan hệ kinh tế-xã hội-chính trị Việt Nam đích thực là một xã hội dân sự chứ không phải là chế độ đặc thù, dị biệt, đảng trị khác với thế giới văn minh đương đại…Mới đây chính TBT Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố: Hội nhập thế giới không có nghĩa là chỉ có hội nhập về kinh tế…
Cách điều hành, quản lý hoạt động báo chí-xuất bản của Ban Tuyên giáo trung ương và Bộ Thông tin-Truyền thông hiện nay đã chính trị hóa thái quá, cực đoan, duy ý chí hoạt động tác nghiệp quản lý báo chí; Ban Tuyên gióa đã tự biến mình thành một thứ giống như hệ thống “điều hòa tổng”; Cái "điều hòa tổng" này đang vận hành với cơ chế và thiết bị vận hành vừa cổ lỗ, xơ cứng làm hạn chế, chèn bóp sự tiến hóa tự nhiên, vừa tiêu tốn điện ( tiền thuế của dân) hiện đang được trang bị tại các khu chung cư, bệnh viện với hệ thống thông tin báo chí của Việt Nam…
Đây là một mô hình nguy hiểm khi gặp đại dịch như dịch cúm H5N1 ???
Với cung cách quản lý báo chí xuất bản như hiện nay có vẻ đang đẩy đời sống thông tin tại Việt Nam vào thời kỳ ” đồ đá “, thời kỳ thông tin được rò rỉ theo cơ chế “hang động” vì thiếu ánh sáng của thông tin, mặc dù Việt Nam có gần ngàn đầu báo; Điều này có thể kiểm chứng qua đại dịch tham nhũng đang hoành hành tại Việt Nam, báo chí gặp quá nhiều trở ngại khi xáp vô để chống đại dịch này…

P.V.Đ.


                      

TC Triết học: Khắc phục chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí

Nguyễn Thế Nghĩa

Tạp chí Triết học tháng 3/1994
06:22' CH - Thứ tư, 03/11/2010
Xem thêm:
Để thực hiện sự nghiệp đổi mới, một nguyên tắc hết sức quan trọng - nguyên tắc nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật và rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích "xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan".
Trên nguyên tắc đó, Đại hội VI của Đảng đã phân tích, đánh giá những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, kéo dài nhiều năm trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Những sai lầm, khuyết điểm ấy bắt nguồn từ những sai lầm trong quan điểm và lý luận cơ bản về CNXH, về thời kì quá độ của chúng ta. "Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan".
Tại Đại hội VII và trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH", Đảng ta đã chỉ rõ: "Trong cách mạng XHCN, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng XHCN. Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan: nóng vội trong cải tạo XHCN, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng, duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp…". Nhận định đó cho thấy chủ nghĩa chủ quan và duy ý chí là một trong những yếu tố chủ yếu dẫn đến những sai lầm, khuyết điểm trong việc hoạch định đường lối, chính sách, trong hoạt động thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta suốt một thời gian dài.
Cách đây hơn một thế kỷ, C. Mác đã khẳng định: “Trong tiến trình phát triển của mình, con người trước hết cần phải tạo ra những điều kiện vật chất của một xã hội mới và không một nỗ lực mạnh mẽ nào của tư tưởng hay ý chí lại có thể giải thoát họ khỏi số phận ấy". Trong quá trình xây dựng một chế độ xã hội mới, việc hoạch định đường lối chiến lược lâu dài và định ra đường lối sách lược, chính sách cụ thể cho từng giai đoạn là hết sức quan trọng. Song, như V.I. Lê nin đã từng cảnh tỉnh chúng ta: "Đối với một chính Đảng vô sản, không có sai lầm nào nguy hiểm hơn là định ra sách lược của mình theo ý muốn chủ quan... Định ra một sách lược vô sản trên cơ sở đó có nghĩa là làm cho sách lược đó bị thất bại. Thực tiễn cũng đã chỉ ra rằng sự can thiệp một cách duy ý chí vào các qúa trình kinh tế, văn hoá và khoa học – kỹ thuật, việc áp đặt ý muốn chủ quan vào việc hoạch định đường lối, chính sách vào hoạt động thực tiễn đã dẫn đến những biến dạng, "tha hóa" trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng kéo dài. Bởi vậy, việc khắc phục chủ nghĩa chủ quan duy ý chí trong việc hoạch định đường lối, chính sách và trong hoạt động thực tiễn luôn là một vấn đề mang tính thời sự cấp bách.
Lịch sử đã chứng minh rằng cơ sở khách quan cho việc hoạch định bất kỳ một đường lối, chính sách nào bao giờ cũng là lợi ích của giai cấp thống trị và những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. Chính lợi ích (đặc biệt là lợi ích kinh tế) của chủ thể chính trị là cái tạo ra đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Và, chính lợi ích kinh tế ấy đã quy định tính đặc thù của công cuộc cải tạo xã hội, quy định sự lựa chọn các biện pháp và phương tiện để đạt được mục đích đã đề ra. Lênin đã nhấn mạnh: "Những cội rễ sâu xa nhất của chính sách đối nội cũng như chính sách đối ngoại... đều do những lợi ích kinh tế, địa vị kinh tế của các giai cấp thống trị... quyết định". Ông đã coi đó là cơ sở của toàn bộ thế giới quan mácxít và những người cộng sản thường một giây phút nào được lãng quên" điều đó. Như vậy, theo Lênin, bất cứ đường lối, chính sách nào cũng thể hiện lợi ích và ý chí của giai cấp thống trị, nó cho thấy rõ lực lượng nào, bằng biện pháp phương tiện nào để thực hiện nó trong thực tiễn. Vấn đề quan trọng ở đây là:
- Thứ nhất, lợi ích của giai cấp thống trị có phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển xã hội không?
- Thứ hai đường lối, chính sách có phản ánh một cách đúng đắn và kịp thời quy luật khách quan và lợi ích của đông đảo quản chúng lao động không?
- Thứ ba, các biện pháp và phương tiện thực hiện đường lối, chính sách đó trong thực tiễn có đem lại hiệu quả không?
Rõ ràng là, trong bất cứ đường lối, chính sách nào ngoài cơ sở khách quan còn có mặt chủ quan. Mặt khách quan của đường lối, chính sách là hoàn cảnh kinh tế, chính trị - xã hội, mối quan hệ giữa các giai cấp và lợi ích của chủ thể đường lối, chính sách. Mặt chủ quan của đường lối, chính sách thể hiện trong ý chí, nguyện vọng của chủ thể, trong việc lựa chọn các biện pháp, phương tiện thực hiện nó trong thực tiễn. Bởi vậy, ngay trong những điều kiện hết sức thuận lợi (lợi ích và ý muốn của chủ thể phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển xã hội) thì trong bất cứ đường lối, chính sách nào và việc thực hiện nó trong thực tiễn vẫn cứ tồn tại nguy cơ của chủ nghĩa chủ quan, của ý chí luận. Nguy cơ đó là ở chỗ coi thường quy luật khách quan và lợi ích của quần chúng lao động, xuyên tạc tư tưởng và mục đích của công cuộc cải tạo xã hội, xem nhẹ kinh nghiệm lịch sử. Nó biểu hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, vi phạm nguyên tắc phân tích và đánh giá một cách khách quan khoa học các hiện tượng xã hội, hiểu không đúng mối liên hệ giữa quy luật phát triển của xã hội và lợi ích, nhu cầu của quần chúng.
Thứ hai, áp dụng biện pháp hành chính mệnh lệnh (thậm chí cả biện pháp bạo lực) trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội, bất chấp quy luật khách quan của sự phát triển xã hội.
Thứ ba, từ bỏ nguyên tắc dân chủ, say mê quyền lực, sùng bái cá nhân và coi thường quần chúng lao động.
Trong lịch sử, chủ nghĩa chủ quan và duy ý chí thường gắn liền với "lý luận bạo lực". Cơ sở của lý luận này là tuyệt đối hóa "phương pháp chiến tranh", sùng bái bạo lực và vai trò của cá nhân trong lịch sử. C. Mác và F. Engen đã chứng minh tính vô căn cứ của lý luận này và khẳng định sự phá sản tất yếu của nó.
Khi vạch ra phép biện chứng của nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, khắc phục chủ nghĩa ... trong lịch sử, các ông đã đưa ra luận cứ về khả năng và giới hạn của bạo lực trong đời sống xã hội. Và, khi phê phán quan niệm duy ý chí về những tiền đề của cách mạng xã hội, các ông đã chỉ rõ bạo lực không thể tạo ra một chế độ xã hội mới, sức mạnh và vai trò của nó thể hiện ở chỗ, "bà đỡ cho mọi xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới". Bạo lực là "bà đỡ” chứ không phải là "người mẹ", là "điều kiện" chứ không phải là "nguyên nhân" sinh ra "đứa trẻ” - xã hội mới. Bởi vậy, việc sử dụng bạo lực đòi hỏi phải có điều kiện nhất định, phải có nghệ thuật để không làm chết "đứa trẻ” mới sinh ra, để xã hội mới ra đời một cách khỏe mạnh và phát triển một cách bình thường. Khi vận dụng và phát triển lý luận bạo lực XHCN, Lênin cũng đã chỉ rõ bạo lực cần để đập tan Nhà nước tư sản và trấn áp bọn phản động, ăn bám, bóc lột, nhưng "thật là ngu xuẩn nếu tưởng tượng rằng chỉ dùng bạo lực cũng có thể giải quyết được vấn đề tổ chức khoa học và kỹ thuật mới trong công cuộc xây dựng xã hội cộng sản".
Trong cuộc đấu tranh kiên quyết chống lại mưu toan "chỉ huy" nền kinh tế bằng mệnh lệnh, "kìm kẹp" đời sống chính trị - xã hội, sử dụng biện pháp quân sự trong quản lý tác động đến quần chúng bằng phương tiện cưỡng bức, Lênin đã vạch rõ sự phát triển của lực lượng sản xuất - đó là một quá trình mang tính khách quan. Bởi vậy, theo ông, trong lĩnh vực kinh tế chúng ta "không thể đi bằng những cơn lốc và bằng những bước nhảy vọt". Đường lối kinh tế không thể xây dựng trên sự coi thường quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, không thể tách ra khỏi thực trạng của nền kinh tế. Một đường lối như vậy chỉ có thể dẫn đến một kết quả duy nhất - sự phá sản hoàn toàn công cuộc xây dựng kinh tế. Thực tiễn của công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta thời gian qua cũng đã khẳng định điều đó.
Trong quá trình xây dựng CNXH, chúng ta đã phạm phải sai lầm giáo điều, cứng nhắc và chủ quan duy ý chí khi áp đặt một mô hình CNXH được thiết kế không xuất phát từ thực tiễn nước ta. Đó là mô hình CNXH thuần khiết với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chỉ hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể được phép tồn tại với sự thống nhất tuyệt đối về chính trị và tinh thần. Do nhận thức mang tính chủ quan duy ý chí, xa rời thực tiễn, không tôn trọng quy luật khách quan nên đường lối, chính sách nhằm xây dựng mô hình đó và các biện pháp, phương tiện để thực hiện đường lối, chính sách này không có tác dụng cài tạo thực tiễn, làm cho thực tiễn kinh tế - xã hội của nước ta phát triển theo chiều hướng tiến lên mà ngược lại còn kìm hãm sự phát triển đó.
Chủ nghĩa chủ quan duy ý chí đã đưa chúng ta tới ảo tưởng có thể đưa ngay nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên CNXH. Do muốn "tiến thẳng", muốn quá độ trực tiếp lên CNXH, chúng ta đã bỏ qua chỉ dẫn của Lênin về hình thức quá độ gián tiếp để một nước mà nền kinh tế còn là sản xuất nhỏ đi lên CNXH. Chúng ta đã quên rằng chính Lênin đã khẳng định: "Nếu phân tích tình hình chính trị hiện nay, chúng ta có thể nói rằng chúng ta đang ở vào một thời kỳ quá độ trong thời kỳ quá độ. Toàn bộ nền chuyên chính vô sản là một thời kỳ quá độ, nhưng hiện nay có thể nói rằng chúng ta có cả một loạt thời kỳ quá độ mới". Do chủ quan duy ý chí, do áo tưởng, chúng ta đã không nhận thức đúng vị trí và vai trò của các bước quá độ gián tiếp và do đó chúng ta đã bỏ qua các hình thức kinh tế trung gian quá độ của một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH. Biểu hiện rõ nét nhất của sai lầm đó là đường lối xây dựng CNXH với bốn mục tiêu chủ yếu mà Đại hội IV đã đề ra, là kế hoạch hoàn thành thời kỳ quá độ trong vòng 20 năm, là mong muốn giải quyết mọi vấn đề kinh tế - xã hội cả bề rộng lẫn chiều sâu trong một khoảng thời gian ngắn, là sự phủ nhận nền sản xuất hàng hóa và thành kiến với quy luật giá trị, với mối quan hệ hàng - tiền, với cạnh tranh… "Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thực sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan, do đó không chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương, chính sách kinh tế.
Một biểu hiện nữa của sai lầm do mắc bệnh chủ quan duy ý chí là đường lối tiến hành công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp. Từ chỗ không đánh giá đầy đủ những đặc thù của một nước nghèo nàn và kém phát triển, nền kinh tế vẫn ở tình trạng nông nghiệp lạc hậu, trang bị kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém, chúng ta đã vội vàng tiến hành công nghiệp hóa XHCN, hơn nữa lại tập trung ngay vào công nghiệp nặng với vốn đầu tư lớn song hiệu quả chẳng thu được là bao. Đặc biệt, khi tiến hành tập thể hóa nông nghiệp chúng ta đã cứng nhắc, rập khuôn theo nước ngoài, không tính đến một cách đầy đủ sự lạc hậu, nặng tính tự cấp, tự túc và phân tán của nền nông nghiệp nước ta. Khi đó chúng ta đã quên rằng chính F. Engen đã chỉ rõ: "Bất cứ ở đâu, bản thân những biện pháp quá độ cũng sẽ phải thích ứng với những điều kiện sẽ có trong thời gian đó, những biện pháp quá độ đó, trong các nước có chế độ chiếm hữu ít ruộng đất, sẽ căn bản khác với những biện pháp quá độ trong các nước có chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất". Sai lầm đó đã được lặp lại sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Khi đó, với khí thế của một dân tộc vừa chiến thắng lại cộng thêm nhiệt tình mang nặng tính tiểu tư sản, chúng ta chỉ thấy một mầu hồng mà không lường hết khó khăn trong quá trình công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp.
Chủ nghĩa chủ quan duy ý chí đã dẫn chúng ta đến chỗ tạo ra chế độ hành chính mệnh lệnh, tạo ra cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Đến lượt mình, chế độ hành chính mệnh lệnh, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp lại trở thành "mảnh đất mầu mỡ" để chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí phát triển. Bởi lẽ, ở chúng luôn có cội nguồn kinh tế - xã hội, tâm lý và tư tưởng, có những tiền đề triết học và cơ sở phương pháp luận làm nảy sinh và nuôi dưỡng chủ nghĩa chủ quan duy ý chí.
Chế độ hành chính mệnh lệnh, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thể hiện dưới những hình thức hết sức đa dạng, bắt đầu từ thói độc đoán, gia trưởng đến bệnh hình thức, tệ quan liêu giấy tờ. Nguy cơ của căn bệnh trầm trọng này trong việc hoạch định đường lối, chính sách, trong hoạt động thực tiễn là ở chỗ:
Thứ nhất, nó dẫn đến chỗ tách đường lối, chính sách ra khỏi đời sống kinh tế - xã hội. Nó làm cho đường lối, chính sách không phản ánh đúng lợi ích sống còn và ý chí của quần chúng lao động mà thể hiện lợi ích, ý chí, ý muốn chủ quan của một nhóm người. Bởi vậy, nguy cơ mà nó dẫn đến không chỉ đơn giản là việc quản lý thiếu hiệu quả, tệ quan liêu giấy tờ, bệnh hình thức, sự thờ ơ... mà đó còn là nguy cơ của việc quan liêu hóa đời sống xã hội, là hiểm họa của việc tách các cơ quan nhà nước ở mọi góc độ ra khỏi lực lượng sáng tạo chân chính - quần chúng lao động.
Thứ hai, nó dẫn đến chỗ tuyệt đối hóa biện pháp hành chính, cưỡng bức trong việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa - xã hội, bất chấp những quy luật khách quan của đời sống kinh tế - xã hội.
Thứ ba, nó tạo ra thái độ bàng quan, thờ ơ, lãnh đạm ở những người lãnh đạo trước yêu cầu, nguyện vọng của quần chúng. Nó dẫn đến hiện tượng lạm dụng chức quyền để mưu đồ lợi ích cá nhân. Nó khiến cho phê bình và tự phê bình trở thành khẩu hiệu suông.
Và, thứ tư, nó dẫn đến chỗ coi thường ý kiến và khả năng sáng tạo của quần chúng lao động. Nó hạn chế tính công khai, dân chủ, hạn chế quyền tự do và các quyền công dân khác của quần chúng lao động.
Khi thực tiễn đã thay đổi, chế độ hành chính mệnh lệnh, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trở thành cung cách, phương pháp hoàn toàn xa lạ với bản chất đích thực của CNXH, của công cuộc đổi mới đất nước, của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu theo định hướng XHCN. Bởi lẽ, như Lênin đã khẳng định: Tính sáng tạo sinh động của quần chúng, đó là nhân tố cơ bản của xã hội mới... CNXH không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên ban xuống. Tính chất máy móc hành chính và quan liêu không dung hợp được với tinh thần của CNXH, CNXH sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân.
Chủ nghĩa chủ quan duy ý chí còn dẫn đến chỗ cường điệu hóa vai trò của nhân tố chủ quan, của yếu tố chính trị trong việc hoạch định đường lối, chính sách và trong hoạt động thực tiễn. Biểu hiện cụ thể của nó là ở chỗ chúng ta đã quá đề cao nhiệt tình của quần chúng. Chúng ta đã ảo tưởng khi cho rằng dựa vào nhiệt tình của quần chúng, vào ý chí và nguyện vọng chủ quan. Chúng ta sẽ đạt được tất cả những gì mong muốn, vượt lên trên cả những đòi hỏi của thực tiên, của những quy luật khách quan đang tác động trong đời sống kinh tế - xã hội. Đó là thứ ảo tưởng mà V.I. Lênin đã từng phê phán khi ông chỉ ra rằng nhiệt tình cách mạng chỉ là một trong những yếu tố chứ không phải là yếu tố duy nhất quyết định sự ra đời một chế độ xã hội mới, nó chỉ có thể phá vỡ được cái cũ chứ không thể xây dựng cái mới. Còn khi xem xét mối quan hệ giữa yếu tố chính trị và yếu tố kinh tế, chúng ta thường dành quyền ưu tiên cho yếu tố chính trị. Chính việc vi phạm mối quan hệ này, việc tuyệt đối hóa yếu tố chính trị đã dẫn chúng ta đến chỗ tuyệt đối hóa chuyên chính vô sản, coi nó là tất cả, có nó sẽ có tất cả và không thấy ràng nó chỉ là công cụ, là phương tiện cho sự ra đời một chế độ xã hội mới.
Có thể khẳng định rằng công cuộc đổi mới mà chúng ta đang tiến hành sẽ không thể thành công nếu chúng ta không kiên quyết khắc phục chủ nghĩa chủ quan duy ý chí. Chúng ta phải làm cho nó không còn là một căn bệnh trầm trọng như nó đã từng là như vậy. Nhưng khi khắc phục nó, xóa bỏ nó chúng ta phải đề phòng chủ nghĩa chủ quan mới, duy ý chí mới - sự bảo thủ, trì trệ, đổi mới nửa vời.
Đáng tiếc là việc khắc phục để đi đến chỗ xóa bỏ chủ nghĩa chủ quan duy ý chí trong việc hoạch định đường lối, chính sách, trong hoạt động thực tiễn luôn vấp phải những khó khăn, trở ngại khách quan của quá trình nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội. Khó khán là ở chỗ, một mặt, trong hiện thực lịch sử luôn "ẩn dấu” những mầm mống, khả năng, khuynh hướng khác nhau, mặt khác, lịch sử lại được thực hiện thông qua hoạt động của con người, mà hoạt động này lại có giới hạn nhất định và do đó con người không thể hiểu thấu và bao quát được tất cả các khả năng, khuynh hướng của quá trình phát triển. Bởi vậy việc lựa chọn khả năng khuynh hướng của sự phát triển, lựa chọn phương án cải tạo xã hội, hoạch định đường lối, chính sách cho phương án cải tạo đó và đưa nó vào thực tiễn là một công việc hết sức phức tạp, một quá trình lâu dài với sự tham gia của đông đảo quần chúng, nhân dân lao động. Công việc này không những đòi hỏi "học cách đánh giá khoa học" các sự kiện của đời sống xã hội, như Lênin đã khẳng định, mà còn phải biết khảo sát, những lợi ích của con người, nhóm người, tập đoàn người, giai cấp trong xã hội. Bởi lợi ích luôn chi phối, điều chỉnh và thúc đẩy hoạt động của con người. Vì thế mọi đường lối, chisnh sách được đưa ra phải phản ánh được quy luật khách quan và lợi ích của quần chúng, phải đúc kết được kinh nghiệm thực tiễn và có khả năng thực thi trong thực tiễn.

Biển Đông giảm nhiệt nhờ Duterte hòa hoãn với Trung Quốc ?

Trọng Nghĩa

mediaTổng thống Philippines R.Duterte (phải) bên thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tại thượng đỉnh ASEAN + 3 tại Vientiane ngày 7/09/2016.REUTERS/Soe Zeya Tun
Nhiều chuyên gia từng cho rằng Bắc Kinh sẽ lợi dụng thời cơ nước Mỹ bị « tê liệt » vì cuộc bầu cử để khuấy động tình hình Biển Đông trong khoảng thời gian từ sau hội nghị thượng đỉnh G20 ở Hàng Châu đầu tháng 9, cho đến tháng 11, là thời điểm diễn ra cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ. Thế nhưng cho đến nay, không thấy có sự cố đột biến nào xẩy ra, đặc biệt là từ phía Trung Quốc.
Một phân tích trên trang mạng viện nghiên cứu Úc ASPI ngày 10/10/2016, nhận định đó có thể là nhờ vào việc tân tổng thống Philippines đã cho thấy xu hướng « bỏ Mỹ theo Tàu », khiến Bắc Kinh phải tự kềm chế để xem diễn biến ra sao.
Theo nhận xét của chuyên gia Graeme Dobell, nếu thực sự là tân tổng thống Philippines xoay trục qua Trung Quốc thay vì qua Mỹ, Bắc Kinh sẽ có thể bất chiến từ nhiên thành tại Biển Đông, vừa có khả năng có được một thỏa thuận song phương với Philippines về Biển Đông, vừa phá được phần nào chính sách tái cân bằng của Mỹ qua vùng châu Á-Thái Bình Dương.
Chuyên gia này đã nhắc lại những dự báo « bi quan » gần đây, theo đó rất có thể là Mỹ và Trung Quốc sẽ đụng độ nhau trên vấn đề bãi cạn Scarborough, với Trung Quốc muốn chứng tỏ bằng hành động thực tế rằng phán quyết Biển Đông của Tòa Trọng Tài Thường Trực không có giá trị với họ, trong lúc Hoa Kỳ lại phải chứng minh rằng ông Obama không nói suông khi nói với ông Tập Cận Bình rằng Mỹ sẽ không khoanh tay nhìn Trung Quốc bồi đắp bãi Scarborough.
Xu hướng đối đầu Mỹ Trung rất nguy hiểm và có nhiều khả năng xẩy ra, nhưng sự kiện tân lãnh đạo Philippines, tác nhân chính trong vụ kiện Biển Đông, lại thay đổi thái độ, vừa có phát biểu chống Mỹ, vừa sẵn sàng hòa giải với Trung Quốc, đàm phán song phương về Biển Đông với Bắc Kinh mà không cần nhắc đến phán quyết của Tòa Trọng Tài, sẵn sàng nhận trợ giúp của Trung Quốc...
Theo chuyên gia Dobell, có lẽ chính điều đó đã giúp « giảm nhiệt độ » tại Biển Đông vì cho phép cả Mỹ lẫn Trung Quốc tạm dừng đối đầu để xem xét tình hình mới mà phía Philippines đặt ra.
Đối với Trung Quốc, triển vọng mới trong quan hệ với Philippines sẽ cho phép Bắc Kinh gỡ thể diện vì bị thua sát ván trong vụ kiện Biển Đông, đồng thời gây thêm được khó khăn cho Mỹ trong chủ trương xoay trục, mà mục tiêu được cho là nhằm chống lại Trung Quốc.
Trong khi chờ đợi ông Duterte làm rõ hơn chính sách đối ngoại mới của Philippines, Bắc Kinh có dấu hiệu là tiếp tục sách lược hòa hoãn, từng thể hiện với Philippines từ ngày ông Duterte đắc cử tổng thống, và với Việt Nam, một tác nhân quan trọng khác trong hồ sơ Biển Đông.
Giải thích về những yếu tố có thể khiến cho ông Duterte hòa hoãn với Bắc Kinh, chuyên gia Dobell nêu bật nhiều giải thích của ông Mark Williams, cựu đại sứ Úc ở Manila từ 1989 - 1994, theo đó có nguyên nhân chính là Philippines không muốn phải đối đầu quân sự với Trung Quốc, một nguy cơ đặc biệt lớn nếu Philippines bị Mỹ sử dụng như cơ sở quân sự.
Ngoài ra tại Biển Đông, Manila quan tâm đến quyền đánh bắt cá và tiềm năng dầu khí tại khu vực tranh chấp hơn là quyền tự do lưu thông hàng hải quốc tế.
Về phần Trung Quốc, cho đến nay, nước này rất bực tức trước việc không biến được sức mạnh kinh tế thành lợi ích chiến lược rõ ràng trong khu vực Đông Nam Á, nhất là tại Philippines.
Ông Duterte có thể biếu cho Trung Quốc diều mà Bắc Kinh luôn mong muốn : Một thỏa thuận song phương về Biển Đông với một nước tranh chấp quan trọng. Bên cạnh đó, là làm suy yếu được liên minh tại Châu Á của đối thủ số một là Hoa Kỳ.
Có lẽ vì thế mà vào lúc này, Trung Quốc tránh những hành vi quá thô bạo có thể khiến Philippines đổi ý.