Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

Việt Nam đề nghị Trung Quốc trao đổi thông tin về ba nhà máy điện hạt nhân

Bộ Ngoại giao Việt Nam cho rằng việc Trung Quốc vận hành nhà máy điện hạt nhân cần đảm bảo an toàn cho láng giềng và đề nghị Bắc Kinh sớm có cơ chế trao đổi thông tin.

viet-nam-de-nghi-trung-quoc-trao-doi-thong-tin-ve-ba-nha-may-dien-hat-nhan
Ba nhà máy hạt nhân mới của Trung Quốc nằm sát biên giới Việt Nam. Đồ hoạ: Tiến Thành
"Việt Nam đã đề nghị Trung Quốc sớm cùng Việt Nam xây dựng cơ chế trao đổi thông tin thường xuyên về ba dự án điện hạt nhân ở gần biên giới", người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình cho biết trong cuộc họp báo chiều nay.
Theo Bộ Khoa học và công nghệ Việt Nam, Trung Quốc vừa đưa vào vận hành ba nhà máy điện hạt nhân gồm Phòng Thành (Quảng Tây) công suất 1000 MW, Trường Giang (Quảng Đông) 600 MW và tổ máy 650 MW của Sương Giang (đảo Hải Nam).
Các nhà máy này đều nằm gần biên giới phía bắc Việt Nam, gần nhất là Phòng Thành chỉ cách Móng Cái, Quảng Ninh 50 km, cách Hà Nội dưới 500 km.
Các chuyên gia Việt Nam cho rằng các sự cố từ hạt nhân đều rất nguy hiểm, bởi nó phát tán phóng xạ trong vùng rộng lớn, do đó Việt Nam cần tăng cường quan trắc và đưa ra giải pháp kịp thời khi xảy ra sự cố, đồng thời có cơ chế trao đổi thường xuyên với Trung Quốc.
Ông Vương Hữu Tấn, Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (Bộ Khoa học Công nghệ) cho hay, Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của Công ước an toàn hạt nhân, mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu thành viên khác báo cáo tình trạng an toàn của bất kỳ nhà máy nào. Sắp tới, Cục sẽ làm việc với cơ quan an toàn hạt nhân Trung Quốc để thỏa thuận việc trao đổi thông tin về vấn đề này.
Người phát ngôn Lê Hải Bình nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam là các nước xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân cần đảm bảo tuân thủ Công ước an toàn hạt nhân và các quy định liên quan của cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), bảo đảm không ảnh hưởng đến an toàn và môi trường của các nước láng giềng.
Việt Anh

Số 2 thế giới: Người Việt ăn thịt 5 triệu con chó mỗi năm

13/10/2016 14:57

Số 2 thế giới: Người Việt ăn thịt 5 triệu con chó mỗi năm

Theo ước tính, mỗi năm người Việt giết thịt khoảng 5 triệu con chó, đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Trung Quốc về việc tiêu thụ thịt chó.

Theo Liên minh bảo vệ chó châu Á (ACPA), thịt chó được tiêu thụ nhiều ở các khu vực trên thế giới, nhưng phổ biến rộng rãi nhất ở châu Á.
Ngành sản xuất thịt chó đã phát triển từ mô hình kinh doanh hộ gia đình, giết mổ ít thành nền công nghiệp trị giá hàng tỷ đô la.
Quá trình thương mại hóa đã dấy lên nhiều lo ngại về vấn đề phúc lợi động vật và sức khỏe con người.
Theo ước tính, ở châu Á, Trung Quốc là nước tiêu thụ nhiều thịt chó nhất với số lượng 20 triệu con, sau đó là Việt Nam với số lượng ước tính khoảng 5 triệu con, tiếp đến là Hàn Quốc với số lượng 2-3 triệu con.
Số 2 thế giới: Người Việt ăn thịt 5 triệu con chó mỗi năm - Ảnh 1.
Người Việt giết thịt 5 triệu con chó mỗi năm
Đáng lo ngại là phần lớn chó đều bị bắt sống từ các nước khác như Lào, Campuchia. 
Số liệu này cũng chưa được xem là chính xác vì buôn bán thịt chó là hoạt động phi pháp (ở Philippines, Đài Loan, Thái Lan và Hong Kong) hoặc hợp pháp nhưng phần lớn không được kiểm soát (ở Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc).
ACPA cũng cho biết, vô số cuộc điều tra ở khắp châu Á đã ghi nhận sự tàn nhẫn trong tất cả các giai đoạn của hoạt động bán thịt chó, thu mua, vận chuyển và giết mổ.
Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam thường biện hộ rằng thịt chó là "nền văn hóa" hoặc "truyền thống", nhưng xét về khía cạnh nhân đạo và phúc lợi, thịt chó vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi, bức xúc.
theo Vietnamnet

"Quy định kinh doanh đang chặn dân doanh, mở cửa cho "quan doanh"

Dân trí "Các quy định kinh doanh hiện nay đang “chặn” các doanh nghiệp dân doanh, và mở cửa cho các doanh nghiệp “quan doanh”. Mặc dù một số quan chức không được kinh doanh nhưng họ có sân sau, nên tha hồ kinh doanh", ông Trương Thanh Đức nói.
 >> Quyết tâm "làm sạch" môi trường kinh doanh của Thủ tướng gặp rào cản ở cấp dưới
 >> Công chức tạo ra rào cản, gây khó dễ để vụ lợi

(Ảnh minh hoạ).
(Ảnh minh hoạ).
Tại buổi tọa đàm "Ngày Doanh nhân bàn về xoá bỏ rào cản kinh doanh” do Bizlive tổ chức sáng 11/10, ông Trương Thanh Đức - Chủ tịch Công ty Luật Basico cho biết: "Tôi chuyên đi tư vấn về thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp, nhưng động đến thủ tục hành chính nào cũng “chết”.
Theo vị luật sư này, các rào cản hành chính hiện nay rất lẫn lộn với rào cản kinh doanh. Dù chính sách là không quan trọng các doanh nghiệp tự sản xuất hay thuê ngoài, miễn là đáp ứng được các tiêu chuẩn nhưng muốn thỏa mãn được điều kiện kinh doanh, các doanh nghiệp lại phải qua nhiều thủ tục hành chính.
"Làm tù mù nhất là pháp lý, còn các thủ tục hành chính hiện nay rất nhiều. Thủ tục hành chính của chúng ta chỉ có một nghị định nhưng các Bộ “vẽ” ra các thủ tục, làm bộ luật cho Quốc hội. Các quy định kinh doanh hiện nay đang “chặn” các doanh nghiệp dân doanh, và mở cửa cho các doanh nghiệp “quan doanh”. Mặc dù một số quan chức không được kinh doanh nhưng họ có sân sau, nên tha hồ kinh doanh", ông Đức nói.
Trước phát biểu trên về các rào cản kinh doanh, ông Đức có nói tới trường hợp Thông tư 20 quy định về những điều kiện nhập khẩu ô tô.
"Vừa rồi, Bộ Giao thông Vận tải đã có vài dự thảo để thay thế Thông tư 20, nhưng những dự thảo này có xu hướng giống Thông tư 20, thậm chí quản chặt hơn việc nhập ô tô với quan điểm bảo vệ người tiêu dùng. Doanh nghiệp họ cũng phản ánh là không thấy có sự thay đổi nào cả mà chỉ thấy đang chuyển Thông tư 20 thành Thông tư 21 và Thông tư 21 thì chẳng dễ thở hơn Thông tư 20 một chút nào", ông nói.
Với trường hợp Thông tư 20, ông Đức cho rằng, với lý do quản chặt nhập khẩu để bảo vệ người tiêu dùng là không hợp lý. "Ô tô không phải là thực phẩm, ăn vào là chết mà loại sản phẩm này có chứng nhận của nhà sản xuất, nhiều loại giấy tờ chứng nhận đi kèm, không “mượn” nhà nước lo thay lo hộ. Người tiêu dùng đủ thông minh để lựa chọn những gì họ cần, họ muốn và của họ", ông nhấn mạnh.
Trao đổi về vấn đề này, ông Võ Trí Thành - nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho rằng: "Có một số lĩnh vực cần điều kiện kinh doanh. Ví dụ như Thông tư 20 gắn với thương mại quốc tế nên có hai góc nhìn về rào cản. Thứ nhất là để bảo hộ thông qua áp thuế cao, hạn ngạch. Thứ hai là bảo hộ bằng cách dùng các biện pháp kỹ thuật, quy định rõ ràng".
Theo ông Thành, việc áp dụng kỹ thuật là nhằm ba mục đích: Đảm bảo sức khỏe an toàn con người; đảm bảo an ninh quốc gia và cuối cùng là bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để áp dụng biện pháp kỹ thuật này phải chứng minh về mặt khoa học là hợp lý.
"Tuy nhiên, hiện nay có nhiều quốc gia do bảo hộ chính thống giảm dần nên dùng quy trình hành chính để bảo hộ. Về cơ bản, như vậy không vi phạm cam kết quốc tế. Việt Nam đang sử dụng biện pháp này. Nhưng với Thông tư 20 thì chúng ta lại không giải trình được mục đích, bởi nếu muốn bảo hộ phát triển ngành ô tô phải nêu rõ là bảo hộ. Bảo hộ thì sẽ có những hạn chế như ít doanh nghiệp có thể tham gia", ông nói.
Ông cũng nói thêm rằng: "Hiện nay, dựa trên tiêu chuẩn đặt ra rào cản kỹ thuật dành cho ngành nhập khẩu ô tô thì chúng ta đang không chứng minh được mục đích khi đặt ra rào cản. Chúng ta đang nhầm lẫn giữa rào cản bảo hộ và kỹ thuật, thiếu giải trình về lý do đặt điều kiện. Điều này sẽ ảnh hưởng tới sự sáng tạo của doanh nghiệp, thị trường bị đè nén và tạo điều kiện cho nhiều đối tượng trục lợi".
Liên quan tới Thông tư 20, trước đó, phát biểu tại hội nghị đối thoại với các doanh nghiệp ngành công thương, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh khẳng định, Thông tư 20 không phải điều kiện đầu tư kinh doanh và việc Bộ Công Thương đề xuất bãi bỏ Thông tư 20 là vì bất hợp lý chứ không phải do văn bản bất hợp pháp.
Việc tới nay văn bản này vẫn còn hiệu lực được Thứ trưởng lý giải là do Thông tư 19/2012 của Bộ Giao thông Vận tải đã được bãi bỏ theo Luật Đầu tư 2014, trong tình huống này không còn văn bản nào quy định trách nhiệm bảo hành, bảo dưỡng, triệu hồi xe của thương nhân nhập khẩu.
“Chúng ta đang ở trong vùng trũng chính sách, trong tình huống này Thông tư 20 là điều kiện duy nhất ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp, bảo vệ người tiêu dùng”, lãnh đạo Công Thương nói.
Phương Dung

Công văn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tĩnh thông báo về tình hình Formosa



h1



h1

h1

h1

h1


h5

h6
h7
h8

Những ngày cuối cùng của Joseph Stalin

Ở tuổi 75, Joseph Dzhugashvili (Stalin) bị xơ gan và xơ vữa động mạch trên diện rộng. Tài liệu khám nghiệm tử thi cho thấy, nguyên nhân trực tiếp là nhà độc tài bị đột tài bị đột quỵ do uống nhiều rượu.

Joseph Stalin. Nguồn: internet
Joseph Stalin. Nguồn: internet
Cuộc sống thiếu lành mạnh, nghiện rượu và kết quả là một cú đột quỵ hay là một vụ giết người được che đậy một cách khéo léo? Vẫn còn nhiều câu hỏi.

Nhân kỷ niệm 60 năm ngày bạo chúa ra đi, người ta đã cho công bố một số văn kiện khẳng định một cách rõ ràng rằng nguyên nhân làm ông ta chết là sức khỏe quá kém và lối sống thiếu lành mạnh. Sau khi khám nghiệm tử thi – được thực hiện vài giờ sau khi Stalin qua đời ngày 5 tháng 3 năm 1953 – đã xuất hiện tài liệu dài 11 trang mô tả nguyên nhân dẫn tới cái chết của “bệnh nhân số một” của Liên Xô.

Báo cáo trông như một tài liệu đáng tin cậy. Có cảm giác rằng các sự kiện hoàn toàn không bị che dấu và các thông tin quan trọng về cách sống của nhà độc tài để xác định nguyên nhân làm ông ta chết cũng không bị làm cho lu mờ đi. Ở tuổi 75, Joseph Dzhugashvili (Stalin) bị xơ gan và xơ vữa động mạch trên diện rộng. Tài liệu khám nghiệm tử thi cho thấy, nguyên nhân trực tiếp là nhà độc tài bị đột tài bị đột quỵ do uống nhiều rượu.

Những buổi nhậu nhẹt do nhà độc tài làm chủ xị

Ngày hôm đó Stalin uống rượu vang Gruzia. Trong những lúc rỗi việc, nhà độc tài này thường uống rất nhiều và thích pha nhiều loại rượu với nhau: ông thường pha rượu vang với rượu vodka Nga. Món nhắm của ông khá tinh tế, nhưng thường có nhiều mỡ… (bỏ một đoạn nói về tiểu sử đang ngờ của Stalin)

Những buổi tiệc tùng của Stalin thường bắt đầu vào khoảng 8 giờ tối và kết thúc vào lúc 3 hoặc 4 giờ sáng, khi giới ăn trên ngồi trốc của nhân dân Liên Xô đã say khướt và nằm ngay trên những thứ mà mình vửa nôn ra bên dưới gầm bàn trong phòng ăn của lãnh tụ. Nhưng chính Stalin thì lại không bao giờ say đến mức mất kiểm soát cả bản thân mình lẫn môi trường xung quanh. Sau khi các bạn nhậu đã gục vì rượu, Stalin mới loạng choạng đi vào phòng ngủ hay nằm trên chiếc ghế dài trong phòng làm việc của ông. Sau này Nikita Khrushchev nói rằng, mục đích của những bữa ăn tối như thế là chuốc cho khách uống saý và khiêu khích để họ nói ra những nhận xét ngu ngốc hay thiếu suy nghĩ. Stalin, Khrushchev nói, đơn giản là làm cho mọi người say bét nhè, và người ta càng uống thì ông ta càng khoái. Mọi người lần lượt nâng cốc chúc mừng. Sức khỏe hay người nào đó không uống được rượu không phải là vấn đề. Người không uống rượu là kẻ đáng ngờ: rượu làm cho ngay cả những người thận trọng nhất cũng nói thật.

Những miếng thịt nhiều mỡ, các loại rượu khác nhau và hàng chục bao thuốc lá mỗi ngày đã giánh một đòn nặng vào sức khỏe của Stalin, hơn cả những đơn vị quân Đức khi họ tấn công Liên Xô năm 1941. Giá mà ông ta phải trả cho cách sống như thế là vụ đột quỵ, đã xảy ra sau buổi tiếp khách hoàng tráng cuối cùng, sáng ngày 01 tháng 3 năm 1953, làm cho nhà lãnh đạo này rơi vàng tình trạng tê liệt. Dữ liệu chính thức của vụ khám nghiệm tử thi không nói như đinh đóng cột rằng Stalin chết là do đột quỵ. Các tài liệu đó khẳng định rằng Stalin chết là do thiếu ô xy, nhưng không nói rõ rằng đấy là quá trình tự nhiên hay một vụ giết người.

Hoang tưởng thời hậu chiến

Giai đoạn rối loạn tâm thần thời hậu chiến của Stalin bắt đầu từ ngày 6 tháng 8 năm 1945, đấy là khi người ta báo cáo với ông rằng một quả bom nguyên tử đã được thả xuống Hirosima. Đây là lần đầu tiên người ta nghe thấy những lời cảm thông về dân tộc khác hay nhà nước khác: “Chiến tranh là dã man, nhưng sử dụng bom nguyên tử thì quá dãn man! Hơn nữa, không cần làm thế. Nhật Bản đã thất bại rồi”. Ông coi số phận của Hiroshima như một lời cảnh cáo dành cho cá nhân mình. Kể từ đó, ông ta coi các chính sách của Mỹ, đối thủ của ông ta, chỉ còn là đe dọa bằng hạt nhân mà thôi.

Mối đe dọa bên ngoài làm gia tăng sự sợ hãi từng ám ảnh Stalin về những kẻ phản bội, đang lập kế hoạch đảo chính ở Liên Xô. Ngày 7 Tháng 8 năm 1945, ông ra lệnh cho Beria tập hợp các nhà khoa học đang nghiên cứu vật lý hạt nhân và đưa họ tới họp ở Kuntsevo. Ở đây ông ta hăng hái nhấn mạnh vấn đề ưu tiên là bằng mọi cách phải chế tạo được bom hạt nhân. Ông ta đe dọa các nhà khoa học, nhưng đồng thời cũng hứa cho họ hàng núi vàng. “Tất nhiên, có thể tạo điều kiện để mấy ngàn người sống tốt và thậm chí tốt hơn là tốt, – ông nói và sau đó còn vừa nói thêm vừa đăm đăm nhìn vào mặt của các viện sỹ: “Con không khóc thì mẹ không biết nó muốn gì. Hãy nói các vị muốn gì. Không bao giờ các vị bị từ chối”. Trên thực tế, từ đó cộng đồng khoa học đã trở thành đối tượng nghi ngờ mang tính bệnh hoạn của Stalin. Bạo chúa coi những nhà khoa học gốc Do Thái là đáng ngờ nhất, ông ta coi họ là không kiên định về tư tưởng. Người đứng đầu NKVD (Bộ Nội Vụ – ND) Lavrentiy Beriya tự nắm quyền chỉ huy chương trình hạt nhân, dưới quyền lãnh đạo của ông này là 460.000 nhân viên, trong đó có 10.000 kỹ thuật viên.

Tin tức từ Nagasaki và Hiroshima làm Stalin thất vọng đến mức ngày 9 tháng 11, Molotov và Malenkov gần như buộc ông phải đi Biển Đen nghỉ vài ngày. Khi chuyến tàu đặc biệt chở nhà độc tài đã đi theo hướng của Sochi, Stalin cảm thấy đau nhói ở ngực. Vài ngày sau, ông bị một cơn đau tim nặng ngay tại nhà nghỉ mùa hè. Ở Moskva có tin đồn rằng Beria, Mikoyan và Malenkov đã giành quyền lực vào tay mình và có thể, trong khi tìm cách chia nhau quyền lực, họ đã che dấu, không để mọi người biết rằng Stalin đã chết. Stalin phục hồi khá chậm. Ông ngủ nhiều và thường đi bách bộ. Cảnh giác chỉ bừng tỉnh sau khi ông đọc bài viết trên trang nhất của tờ báo địa phương ra ngày 10 tháng 10, trong đó có thông báo của hãng tin TASS nói rằng “Đồng chí Stalin đi nghỉ mát”. Lửa được đổ thêm dầu khi tờ Chicago Tribune tung ta báo cáo với tiêu đề rõ ràng “Những tin đồn trên báo chí nước ngoài về tình trạng sức khỏe của đồng chí Stalin”. Tác giả bài báo cho rằng Stalin đã bị mất khả năng làm việc và quyền lực được chuyển cho các nguyên soái Liên Xô. Quyết định cuối cùng để lãnh tụ cắt đứt kì nghỉ là bài phỏng vấn Zhukov trên tờ báo của Mỹ, trong đó vị nguyên soái này đã gán cho mình tất công lao trong cuộc chiến chống Đế chế thứ ba và gần như lờ đi vai trò của Stalin.

Lòng tin của Stalin vào Molotov cũng ngày càng giảm đi, uy tín trên trường quốc tế của ông này làm Stalin ghen tức. Lãnh tụ nắm được bản sao bức thư Molotov viết cho vợ, trong đó có đoạn: “Ở đây, anh nằm ở tâm điểm chú ý của bọn tư sản. Trong khi chẳng ai để ý đến các bộ trưởng khác. Anh rất nhớ em và con gái của chúng ta. Đôi khi anh rất muốn được gần gũi và được em âu yếm”. Đối với Stalin, những câu chữ như thế có thể có nghĩa là muốn chạy sang phương Tây. Molotov cho người ta hiểu rằng nếu có cuộc thanh trừng mới trong Bộ Chính trị thì ông ta sẽ có người giúp, sẽ có chỗ ở và đưa gia đình sang. Người ta cho rằng lúc đó Stalin đã cố tình cho Molotov nhiều tự do hơn trong lĩnh vực đối ngoại của Liên Xô. Molotov là một người thực tế và thực dụng, sớm muộn gì cũng sẽ xung đột với lãnh tụ.

Stalin đã làm Molotov mất cảnh giác, ông này đã xây dựng được những mối quan hệ thân thiện với một số chính trị gia phương Tây, và thế là, Stalin bất ngờ tấn công Molotov ngay trong cuộc họp của Bộ Chính trị ngày 8 tháng 11 năm 1945. Stalin sử dụng đại từ “вы” (ông – ND) với người mà ông ta vẫn gọi là “ты” (anh, cậu – ND), đã tung ra một bài diễn văn gay gắt, cáo buộc Molotov là tìm cách xa lánh chính phủ và thể hiện bản thân như là người theo phái tự do. Những người chứng kiến sau nói rằng Molotov bệch ra như phấn, ông ta từ từ đứng dậy, lưng gập lại, và theo đúng nghi lễ trong Điện Kremlin, ông ta vừa nhìn chằm chằm xuống sàn nhà vừa tự phê bình, bắt đầu bằng những từ ngữ như sau: “Tôi thừa nhận rằng tôi đã để xảy ra sai lầm nghiêm trọng”. Molotov, trong nhiều năm vốn được hưởng đặc quyền là được gọi Stalin là “Koba”, đã trở thành thành phần bị nghi ngờ là phản quốc và bù nhìn của chủ nghĩa tư bản. Đối với những những nhà lãnh đạo hàng đầu của đất nước có mặt trong phòng – đó là tín hiệu rõ ràng rằng bệnh hoang tưởng của Stalin đã bắt đầu diễn ra dưới hình thức mới và cực kì nguy hiểm.

Có lẽ, ngay lúc đó một số ủy viên Bộ Chính trị đã nghĩ rằng cần phải loại bỏ kẻ tâm thần này, nhưng phải chờ vài năm mới thực hiện được kế hoạch, để tất cả các yếu tố đều cho thấy rằng ông ta chết một cách tự nhiên.

Nhân chứng quá trình hấp hối

Không ai chứng minh được rằng các chính trị gia quan trọng nhất trong Điện Kremlin đã âm mưu chống lại vị tổng tư lệnh của mình. Tuy nhiên, có những manh mối chỉ ra rằng sự kiện ngày 5 tháng 3 năm 1953 có những dấu hiệu của một vụ ám sát chính trị. Giấy chứng tử chính thức của Joseph Vissarionovich Dzhugashvili viết rằng trái tim của “Lãnh tụ Kính yêu” và “vầng thái dương của nhân loại tiến bộ” đã ngừng đập vào lúc 21 giờ 50 phút. Nhưng, 48 giờ trước đó trong cuộc đời nhà lãnh đạo thì được giữ kín. Phiên bản chính thức nói rằng trước đó Stalin uống loại rượu Gruzia mà ông vẫn thích, sau đó ngã gục xuống sàn nhà và rơi vào tình trạng hôn mê. Chúng ta không biết, tối hôm đó giới chóp bu Liên Xô có kế hoạch tới Kuntsevo ăn nhậu hay không. Chỉ biết rằng lúc Stalin chết, ở đó có mấy chục người, trong đó có cô con gái, tên là Svetlana, con trai tên là Vasily, cũng như những người khách thường xuyên có mặt trong những buổi ăn nhậu, đứng đầu là Molotov, Beria và Khrushchev. Trong nhà và xung quanh nhà là đội bảo vệ và nhân viên y tế chuyên chăm sóc sức khỏe cho nhà độc tài.

Cô con gái Svetlana Alliluyeva, 27 tuổi, lúc đó còn mang họ Stalin, là người duy nhất khóc khi nhà độc tài này qua đời. Nhưng, nhiều năm sau bà này viết: “Năm 27 tuổi, tôi đã chứng kiến quá trình suy sụp về mặt đạo đức của cha mình, ngày nào tôi cũng nhìn thấy ông đang đánh mất hết nhân tính con người và trở thành tượng đài ảm đạm cho chính mình”. Bà không bao giờ tha thứ cho những việc mà cha đã làm với mẹ mình, nên sau khi nhà độc tài chết, bà đã đổi sang họ mẹ. “Tôi cho rằng cái chết của mẹ, mà ông coi là sự phản bội, đã tước đi của ông những tàn tích còn lại của tình người”, – cô cáo buộc ông như thế. Nhưng, cái chết của Stalin không mang lại cho bà niềm vui và không làm cho bà cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Bà vẫn là con tin của cha mình.

Mô tả về cái chết của Stalin có vẻ khá thực tế, rất khó nghi ngờ rằng đây là trò bịp bợm: “Mặt tối dần và thay đổi, nét mặt ông dần dần trở thành không thể nhận ra được nữa (…) Đau đớn thật là khủng khiếp. Nó bóp nghẹt ông ngay trước mắt mọi người. Có một lúc – tôi không biết có thực sự xảy như như thế không, nhưng dường như – ông đột nhiên mở mắt ra, và nhìn tất cả những người đang đứng xung quanh. Đó là một cái nhìn khủng khiếp, có thể là mất trí hay tức giận và đầy sợ hãi trước cái chết. (…) Rồi ông giơ tay trái của mình lên và dường như chỉ vào cài gì đó ở bên trên hay là đe dọa tất cả chúng tôi. Sau đó, linh hồn, làm một nỗ lực cuối cùng và thoát ra khỏi cơ thể … (…) Mặt nhợt nhạt dần và trở lại hình dạng quen thuộc. Vài giây sau, khuôn mặt trở thành bình lặng, yên tĩnh và đẹp. Tất cả những người đứng xung quanh đều như trời trồng, họ cứ đứng im như thế mấy phút, tôi không biết bao lâu – dường như khá lâu”.

Đoạn mô tả bên trên chỉ ra rằng nguyên nhân là đột quỵ, lúc đó gọi là nhồi máu, đồng thời cũng cho thấy rằng Stalin đã không được những người có chuyên môn giúp đỡ. Thậm chí người ta còn không đưa ông tới bệnh viện. Ông chết trong phòng đầy khói thuốc lá trong nhà nghỉ của mình ở Kuntsevo. Những người mà trước đó vài ngày chỉ cần ông ra hiệu bằng ngón tay là đã sẵn sàng chết, im lặng chứng kiến cơn hấp hối của ông. Nhưng có thực sự là họ không làm gì hay không?

Cái chai bí ẩn

Năm 2008, nhà văn kiêm nhà sử học Nga, Nikolai Dobryuha, được quyền tiếp cận với các biên bản mật của của Cục An Ninh (FSB), liên quan đến cái chết của Stalin. Kết luận sau khi đọc các tài liệu này được ông công bố trong tác phẩm Người ta đã giết Stalin như thế nào (Как убивали Сталина). Dobryuha, cũng như nhiều người viết tiểu sử Stalin nổi tiếng khác (đặc biệt là nhà sử học người Anh Simon Sebag Montefiore), khẳng định rằng Lavrenti Beria giành được quyền lực của chính phủ trong ngày 3 tháng 3 năm 1953, vì lãnh tụ đã ở trong tình trạng hôn mê. Dobryuha đã phát hiệu tài liệu chứng minh rằng ngày 3 tháng 3 Beria đã chuẩn bị xong bài báo đầy cảm hứng về cái chết của vầng thái dương của nhân loại. Đêm 2 tháng 3, Stalin, vẫn ở trong căn hộ của mình ở Moskva, đã bị xuất huyết não do huyết áp cao và xơ vữa động mạch, Dobryuha nhấn mạnh như thế. Điều này có nghĩa là toàn bộ câu chuyện về các sự kiện ở Kuntsevo có thể là trò bịp bợm, và tất cả các nhân chứng thực ra là đồng phạm của âm mưu lớn nhất trong lịch sử nước Nga.

Dobryuha cũng chỉ ra các biên bản thẩm vấn lực lượng bảo vệ của Stalin về tình hình của bệnh tật của ông, được lập ngày 3 tháng 3. Từ lời khai của họ, thấy rằng nhà độc tài được tìm thấy đang nằm bên cạnh một cái bàn vào ngày 1 tháng 3. Trên bàn có một cái chai đã uống hết một nửa. Cái chai biến mất mà không để lại dấu vết này sau đó đã trở thành đối tượng chính của mối nghi ngờ của những người đi tìm dấu vết của tội ác dẫn tới cái chết của Stalin. Dobryuha nhấn mạnh rằng trong phòng còn có hai chai nữa, nhưng chỉ có cái này biến mất mà thôi, mặc dù, theo lệnh của Gregory Mayranovskiy, trưởng phòng độc dược của NKVD, phải mang nó tới Lubyanka (trụ sở Bộ nội vụ – ND). Đáng chú ý là Mayranovskiy, người đòi phải phân tích thành phần chai nước, đã bị bắt ngay trong ngày hôm đó – theo lệnh của Beria.

Ngoài ra còn có phiên bản thứ ba, kết hợp chính sử với những phát hiện của các nhà sử học, như Dobryuha. Có lẽ, người ta đã đưa Stalin, lúc đó đã sắp chết tới nhà nghỉ và bịa ra câu chuyện về rượu vang Gruzia và vụ đột quỵ.

Dù sao cũng là Beria

Chả lẽ tất cả những sự kiện ngày 5 tháng 3 năm 1953 được mô tả trong tất cả các sách giáo khoa lịch sử – chỉ là chuyện bịa đặt của một nhóm người sợ hãi bệnh hoang tưởng lão suy của Stalin? Những tài liệu mới xuất hiện chỉ ra rằng những sự kiện xảy ra ở Kuntsevo chỉ có thể là đoạn kết hoàn hảo của một âm mưu chống lại con người quyền lực nhất thế giới. Nhiều năm sau, con trai của Lavrentiy Beriya kể lại: “Năm 1952, cha tôi nhận ra rằng ông không còn gì để mất … Ông ấy không phải là một người hèn nhát và cũng không phải là một con cừu, ngoan ngoãn đi đến lò mổ. Tôi không loại trừ khả năng là ông đã dự định làm một cái gì đó. Trong các cơ quan của ông bao giờ cũng có những người sẵn sàng làm việc này. Ngoài ra, ông có cơ quan tình báo của riêng mình, không phụ thuộc vào cơ cấu hiện có”. Ký ức của ông này xác nhận những sự kiện mà Svetlana Alliluyeva mô tả.

Ngày 22 tháng 12 năm 1952, Stalin mời tới Kuntsevo bộ ba không thể tách rời trong những cuộc nhậu nhẹt ban đêm: Beria, Khrushchev và Malenkov. Trong khi ăn, ông bất ngờ quay sang Khrushchev: “Các ông nghĩ rằng tôi không biết tất cả các ông đều báo cáo cho Molotov và Mikoyan hay sao? Tôi không thể chấp nhận chuyện này”. Hai người bạn lâu năm của Stalin, Vyacheslav Molotov và Anastas Mikoyan, đã bị nhà độc tài không thích từ lâu rồi. Nhưng, bây giờ, họ, cùng với tất cả bộ máy chính trị có nguy cơ bị tiêu diệt.

Khởi đầu cho vụ thanh trừng đã được lên kế hoạch và được chuẩn bị trong vòng năm năm làn sóng bài xích người Do Thái, bắt đầu vào ngày 13 tháng 1 năm 1953, là bài báo của Stalin trên tờ “Pravda” về việc bắt giữ các bác sĩ Do Thái, mà ông ta gọi là “những kẻ giết người và gián điệp ghê tởm khoác mặt nạ giáo sư-bác sĩ”. Lời tuyên bố nói rằng các cơ quan an ninh đã mất cảnh giác cũng là lời kết án Beria. Nhưng Beria không muốn có số phận giống như những người tiền nhiệm của mình là Yezhov và Yagoda. Chỉ có một cách có thể chặn đứng bàn tay của kẻ điên rồ này: tổ chức vụ ám sát được suy nghĩ tới từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. Những kẻ âm mưu đã lợi dụng cơn cuồng loạn chống lại các “bác sĩ sát thủ” mà nhà độc tài đã gây ra. Ngày 2 tháng 3, đáng lẽ phải cứu Stalin thì họ lại đưa vị bác sĩ riêng của Stalin vào ngục tối ở Lubyanka vì sơ suất trong khi thi hành nhiệm vụ.

Rõ ràng, những kẻ âm mưu đã phân phối vai diễn một cách rất cẩn thận. Beriya phải cho vào rượu chất ngừa đông máu, trong vài ngày sẽ gây ra đột quỵ, còn Khrushchev và những khác – thì hạn chế đến mức tối thiểu việc chăm sóc y tế. Bằng chứng hỗ trợ cho luận điểm này là lời của Beria, tại cuộc họp đầu tiên của Bộ Chính trị sau đám tang. Ông ta đã phá vỡ sự im lặng đầy tang tóc, và đã làm mọi người ngạc nhiên, khi nói thẳng ra rằng: “Một tên vô lại, một tên khốn kiếp! Cảm ơn Chúa, chúng ta đã thoát được hắn. Hắn chẳng thắng cuộc chiến nào hết, chúng ta đã giành chiến tranh. Không chỉ có thế – có thể tránh được cuộc chiến”.

Tác giả: Paweł Łepkowski

Dịch giả: Phạm Nguyên Trường

Bản gốc trên Rzeczpospolita, dịch từ bản tiếng Nga tạihttp://inosmi.ru/history/20161009/237994318.html

Quỹ BHXH thất thoát hơn ngàn tỉ, ai chịu trách nhiệm ?

(NLĐO) - Trong khi cơ quan soạn thảo lo lắng vỡ quỹ bảo hiểm xã hội, đề nghị nâng tuổi nghỉ hưu thì các ĐB Quốc hội chất vấn về chuyện quỹ BHXH thất thoát hơn 1.000 tỉ đồng nhưng đến nay chưa rõ trách nhiệm thuộc về ai.


ĐB Trần Thanh Hải: Lo vỡ quỹ BHXH nhưng lại tính khắc phục bằng cách đổ lên đầu người đóng bảo hiểm là không công bằngThảo luận tại tổ về dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) sửa đổi sáng 29-5, đại biểu (ĐB) Quốc hội Nguyễn Văn Hưng (đoàn TP HCM) bức xúc việc BHXH dùng tiền cho công ty cho thuê tài chính vay, thất thoát cả ngàn tỉ đồng nhưng đến nay không giải trình rõ trách nhiệm thuộc về ai, lấy đâu tiền bù lại số tiền này ?
ĐB Trần Thanh Hải: Lo vỡ quỹ BHXH nhưng lại tính khắc phục bằng cách đổ lên đầu người đóng bảo hiểm là không công bằng

Đồng tình, ĐB Trần Thanh Hải - Phó Chủ tịch thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cho rằng BHXH là cơ quan sự nghiệp nhưng lại được quyền lấy tiền người lao động đóng góp để chi cho việc khác thì cần phải xem lại. Dự thảo luật chưa đưa ra được chế tài đối với trường hợp người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm hoặc lợi dụng để chiếm đoạt tiền BHXH. “Tôi thấy có những thay đổi trong dự thảo luật còn gây băn khoăn. Ban soạn thảo lo vỡ quỹ BHXH nhưng lại tính khắc phục bằng cách đổ lên đầu người đóng bảo hiểm là không công bằng” - ông Hải nói.
ĐB Lê Trọng Sang cho biết BHXH đang đầu tư ra ngoài “gớm lắm” nhưng lại mất khả năng thu hồi. “Trước đây tôi hình dung chỉ có doanh nghiệp đầu tư ra ngoài nhưng quỹ BHXH cũng đầu tư ra ngoài ngành. Nếu sử dụng tiền đó vào công trình quan trọng của quốc gia, công cộng, cổ phiếu trái phiếu của nhà nước thì còn được. Còn bây giờ thì lại lo lắng vỡ quỹ” - ông Sang bức xúc.
ĐB Huỳnh Ngọc Ánh thẳng thắn: “Tôi hay bất cứ ĐB Quốc hội nào cũng thế thôi. Mấy bữa nữa tôi nghỉ hưu mà lương hưu thấp hơn thì tôi không chịu. Lúc về hưu mà hưởng lương chỉ bằng 50% bây giờ thì chắc chắn không ai đồng tình rồi. Tôi hỏi nhiều nhà khoa học thì họ đều nói không hiểu nghiên cứu kiểu gì mà lấy năm 2034 vỡ quỹ BHXH và phải điều chỉnh như vậy. Vỡ quỹ hay không vỡ quỹ do anh quản lý. Các anh tính đúng tính đủ, thu đúng, thu đủ để đảm bảo quỹ. Không thể nói lo người về hưu như tôi hưởng nhiều mà phải điều chỉnh”.
Dẫn ra tình trạng nợ bảo hiểm nhiều, chi phí cho đội ngũ làm bảo hiểm quá lớn dẫn tới nguy cơ thâm hụt, thiếu, ông Huỳnh Ngọc Ánh cho rằng nếu giải quyết bài toán hiện nay tốt hơn thì không thể dẫn nỗi lo vỡ quỹ BHXH. “20 năm nữa thế hệ hiện nay mới bắt buộc đóng bảo hiểm thì phải bổ sung vào quỹ. Họ cũng đóng đủ thì sao vỡ quỹ được. Nhiều nhà khoa học nói với tôi rằng câu chuyện ban soạn thảo đề ra không thực tế, không thể từ lo lắng vỡ quỹ bảo hiểm rồi lại nói tới câu chuyện nâng tuổi nghỉ hưu được” - ông Ánh bày tỏ.
"Không khắc phục được chuyện nợ đọng như bây giờ. Bảo hiểm như thuế, đến tháng không đóng thì phải khấu trừ ngay tại ngân hàng" - ĐB Huỳnh Ngọc Ánh đề xuất.
Công đoàn có quyền khởi kiện bảo hiểm để bảo vệ người lao động nhưng không biết khởi kiện ai?. Công đoàn đại diện cho người lao động mà lại đi kiện doanh nghiệp đóng bảo hiểm, công đoàn có dám kiện giám đốc không, như thế là bất hợp lý ? Tôi đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu lại cách thiết kế, làm sao để đảm bảo đóng đúng, đóng đủ không có chuyện nợ nần như bây giờ. Không thấy có câu nào cơ quan bảo hiểm đi đòi nợ, nếu mai mốt có nợ nần bảo hiểm kiện ra tòa thì chả có luật nào điều chỉnh cả" - ĐB Ánh thẳng thắn.
ĐB Ngô Ngọc Bình (đoàn TP HCM), nhận xét đọc dự thảo Luật BHXH thấy mất đi nhiều hơn được nên cần nghiên cứu lại. "Việc mở rộng đối tượng thì đối tượng thế nào, bởi đi sâu vào mới thấy phần đông người lao động hiện nay rất khốn khó. Quan điểm của Đảng trong nghị quyết 21 Trung ương, mở rộng các hình thức bảo hiểm bắt buộc, tự nguyện nhưng phải bổ sung vấn đề còn bất cập trong bảo hiểm. Như vấn đề tách bảo hiểm xã hội khỏi đơn vị hành chính ra khỏi khu vực doanh nghiệp, sự nghiệp khác, tách riêng luật bảo hiểm với bộ máy công quyền như các nước trên thế giới; đưa nội dung bảo hiểm xã hội vào luật công chức, viên chức, nghĩa vụ quân sự, công an nhân dân, phải quy định về chế độ hưu trí của bộ máy công quyền.
Không đồng tình với đề xuất nâng độ tuổi lao động, ĐB Phạm Khánh Phong Lan (TP HCM) phân tích: Khi còn trong độ tuổi lao động thì không chấp nhận cào bằng lương bởi lúc này là làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Nhưng khi đến tuổi nghỉ hưu thì không thể xảy ra câu chuyện có người hưởng lương hưu cao chót vót, cao gấp 3-4 lần so với người khác như hiện nay được. Bà Lan cho rằng đây là vấn đề an sinh xã hội. “Lương của công nhân hiện nay còn không đủ sống thì đừng đòi hỏi có thể giúp họ sống no đủ với lương hưu. Chúng ta phải làm sao để xây dựng chính sách có sự hòa đồng” - bà Lan nêu quan điểm.
Thế Kha

‘Bao nhiêu vụ tham nhũng hầu hết do quần chúng và báo chí phát hiện, tổ chức Đảng không phát hiện vụ nào

Nguyên nhân và giải pháp chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống:

Bao che, dung túng “quan tham” sẽ dẫn đến kết cục xấu

 ‘Bao nhiêu vụ tham nhũng hầu hết do quần chúng và báo chí phát hiện, tổ chức Đảng không phát hiện vụ nào. Chủ động vẫn là cần nhưng phải chủ động tích cực, có bản lĩnh, có trí tuệ.’
LTSTiếp tục bàn về nguyên nhân và giải pháp chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, TS Vũ Ngọc Hoàng quả quyết, các nhóm giải pháp quan trọng nhất gồm: Kiểm soát quyền lực; tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và minh bạch thông tin; đổi mới cơ chế quản lý; cải cách bộ máy và đổi mới công tác cán bộ; xử lý nghiêm minh các vụ tiêu cực.
Những năm gần đây Nghị quyết của Đảng có nói đến việc dựa vào dân để xây dựng Đảng. Hồ Chí Minh đã nói lâu rồi. Tư duy ấy tiến bộ, nhưng thực hiện còn quá ít, chỉ mới coi như một kênh thông tin tham khảo. Không ít trường hợp ở dưới nói, trên không nghe, lại còn định kiến, đối phó, thậm chí cả trù dập. Ở dưới chán, và sợ, không nói nữa. Cấp trên cũng ngại động chạm với cấp dưới, mà trên – dưới cũng đều bị bệnh giống nhau nên cùng “dễ người dễ ta”. Cuối cùng cấp nào lại quay về với cấp ấy. Và lại “tự mình”. “Tự mình” cũng không sai, cũng đúng – phải chủ động, không để bị động. Bị động thì kết quả thấp, thậm chí có lúc hỏng việc.
Đồng thời cần lưu ý việc “tự mình” chỉ đạt kết quả khi cán bộ và tổ chức còn lành mạnh, sinh hoạt nội bộ có tính chiến đấu và tính giáo dục cao; còn khi đã hư hỏng thì “tự mình” không có kết quả, kiểm điểm phê bình chỉ là hình thức cho qua chuyện hoặc là nhân cơ hội ấy mà đấu đá lẫn nhau. Nói chung không nên quá mong đợi một người đã hư hỏng bỗng “tự mình” tốt lên. Bao nhiêu vụ tham nhũng hầu hết do quần chúng và báo chí phát hiện, tổ chức Đảng không phát hiện vụ nào. Chủ động vẫn là cần nhưng phải chủ động tích cực, có bản lĩnh, có trí tuệ.
Từ nay, một mặt vẫn quan tâm tính chủ động “tự mình” nhưng mặt khác phải thật sự dựa vào dân. Đây cũng là tư tưởng lấy dân làm gốc. Phải lấy dân để rèn Đảng, nếu không muốn Đảng hư. “Tự mình” và “dựa dân” như hai mặt của một vấn đề, song song, “cân đối”, quan trọng ngang nhau, không xem nhẹ việc dựa dân, không phải là tham khảo nhân dân, mà là hỏi dân, xin ý kiến nhân dân để nhân dân quyết định. Không coi dân là cấp dưới. Luôn luôn giữ vững tính chất nhân dân của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước đều vì dân và của dân. Quay trở lại đúng tư tưởng Hồ Chí Minh: Đảng là con nòi của dân tộc. Cuộc sống của nhân dân là mục tiêu cao nhất của Đảng và Nhà nước.
Trịnh Xuân Thanh, Đảng lãnh đạo, Đổi mới, Cải cách thể chế chính trị, kiểm soát quyền lực
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xử lý một số vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng.
Đổi mới mạnh mẽ và căn bản phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước theo hướng thực hành dân chủ rộng rãi và không chồng chéo công việc giữa Đảng với nhà nước. Đảng lãnh đạo bằng những giá trị chứ không phải bằng quyền lực, như cách trước đây Đảng nhờ nó mà thành lãnh đạo, không can thiệp sâu vào công việc của Nhà nước, tập hợp trí tuệ, thuyết phục và nêu  gương, đối thoại bình đẳng để cảm hóa  bằng lẽ phải, không dùng mệnh lệnh hành chánh hoặc quyền lực, không áp đặt độc quyền chân lý; phát hiện và giới thiệu hiền tài cho nhân dân xem xét lựa chọn chứ không phải “Đảng cử dân bầu” với nghệ thuật sắp đặt.
Đảng phải luôn giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ mà Đảng đã nêu ra từ ngày thành lập, sau này nhiều lúc đã lãng quên và không ít vi phạm. Lấy dân làm thước đo để đánh giá Đảng. Thường xuyên điều tra và công bố kết quả điều tra dư luận xã hội đánh giá về tổ chức và cán bộ của Đảng và nhà nước, kể cả việc sử dụng các tổ chức đánh giá độc lập.
Theo tôi, các nhóm giải pháp quan trọng nhất gồm: Kiểm soát quyền lực; tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và minh bạch thông tin; đổi mới cơ chế quản lý; cải cách bộ máy và đổi mới công tác cán bộ; xử lý nghiêm minh các vụ tiêu cực. Trong năm nhóm giải pháp nêu trên, mỗi nhóm đều có ý nghĩa và vị trí riêng, không cần phải xác định cái nào quan trọng hơn cái nào. Tuy nhiên, nếu bị buộc phải chọn một giải pháp duy nhất thì tôi sẽ chọn vấn đề kiểm soát quyền lực, đồng thời đề nghị thêm giải pháp thứ hai thuộc về tự do tư tưởng, ngôn luận và minh bạch thông tin.
Đã có nhiều Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về chống tham nhũng, suy thoái. Gần nhất có Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đồng tình. Các Nghị quyết ấy nhìn chung không có gì sai trái và cũng đã được tổ chức thực hiện một cách tích cực, khá vất vả, tốn nhiều công sức. Nhưng kết quả vẫn hạn chế, chưa có chuyển biến đáng kể, về cơ bản tình hình vẫn vậy, thậm chí có mặt còn xấu hơn.
Phải xem lại trong các Nghị quyết ấy còn thiếu điều gì? đã trúng chưa? Theo tôi, còn thiếu những biện pháp cụ thể về kiểm soát quyền lực ; thực thi dân chủ rộng rãi, tự do ngôn luận và minh bạch thông tin; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ. Như phần trên đã nói, quyền lực không được kiểm soát tất yếu sẽ dẫn đến lộng quyền và tha hóa. Tham nhũng và “lợi ích nhóm” thường gắn với quyền lực, liên quan đến cán bộ có chức quyền, có sự liên kết chặt chẽ giữa tiền và quyền. Nước ta, việc kiểm soát quyền lực và tự do ngôn luận, minh bạch thông tin và công tác cán bộ hầu như còn khuyết điểm ở rất nhiều khâu.
Cần sớm nghiên cứu kinh nghiệm kiểm soát quyền lực của các mô hình phân quyền ở các nước tiên tiến giữa ba nhánh quyền lực (mà lâu nay ta gọi họ là tam quyền phân lập) nhằm kiểm soát chéo và điều chỉnh lẫn nhau, chống lạm quyền, khi đã sai thì sớm phát hiện và kịp thời sửa chữa; kể cả kinh nghiệm phân quyền giữa các cơ quan trong cùng một nhánh quyền lực, nhất là hành pháp và tư pháp. Tổ chức Đảng không sử dụng quyền lực nhà nước và phải chịu sự kiểm soát của nhân dân, của nhà nước và của cơ quan giám sát do đại hội cử ra.
Tiếp tục thực hiện tốt hơn việc bỏ phiếu đánh giá hằng năm của cấp ủy và hội đồng nhân dân các cấp, Trung ương và Quốc hội đối với các chức danh do các cơ quan ấy bầu cử và phê chuẩn. Ban hành luật trưng cầu dân ý; về tự do ngôn luận, tự do thể hiện chính kiến. Nghiên cứu sửa đổi các điều luật về tội tuyên truyền chống nhà nước nhằm bảo đảm cho “ông chủ” nhân dân được quyền phê phán “các đầy tớ” khi họ làm sai, làm hỏng hoặc gian lận, lộng quyền mà “ông chủ” không bị “đầy tớ” tống giam.
Nghiêm cấm việc bịa chuyện vu cáo, qui chụp, xúc phạm nhân phẩm, vi phạm nhân quyền và tự do cá nhân của người khác, kể cả lãnh đạo và nhân dân; ra qui định về đạo đức công vụ; về trách nhiệm giải trình và minh bạch thông tin; về sự lành mạnh, nhân văn và mở rộng tự do trong truyền thông. Chính tự do ngôn luận sẽ góp phần tích cực đưa nhân dân lên vị trí làm chủ, tham gia kiểm soát quyền lực và thúc đẩy đổi mới lý luận và công tác tư tưởng để không bị lạc hậu và gắn với thực tiễn; đồng thời lại giúp cho nhân dân có thông tin về tư cách cán bộ, để không chọn nhầm người vào bộ máy lãnh đạo.
Trong đổi mới cơ chế quản lý, cần tiếp tục thực hiện Kinh tế thị trường đầy đủ, không để bị biến dạng, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để các nhà đầu tư tham gia quản trị doanh nghiệp; lấy kinh tế tư nhân làm động lực chính để tiến lên; thực hiện bình đẳng giữa các loại doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau; lực lượng công an, quân đội nói chung không nên làm kinh tế; kiên quyết bỏ cơ chế chủ quản các doanh nghiệp; xóa bỏ cơ chế xin – cho; cải cách chế độ thuế bất động sản theo hướng đánh thuế lũy tiến về đất đai nhằm chống đầu cơ và khắc phục bất bình đẳng quá mức trong khoảng cách giàu nghèo ngày càng phân hóa lớn; nghiên cứu chế độ đa sở hữu đối với đất ở, đất vườn và đất nông nghiệp.
Trước mắt cần thay đổi căn bản cách thu hồi đất nhân dân đang sử dụng. Theo đó, chỉ thu hồi cho dự án trực tiếp phục vụ quốc phòng, phúc lợi xã hội, xây dựng hạ tầng công cộng. Ngoài ra, đối với các dự án khác thì nhà đầu tư phải thỏa thuận mua bán với người dân. Lâu nay, lợi dụng chế độ quản lý đất đai hiện hành, tham nhũng và “lợi ích nhóm” về đất đai là khá phổ biến, cần sớm khắc phục tiêu cực do cơ chế quản lý đất đai và tạo điều kiện cho người nông dân có sở hữu đối với tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, để trên cơ sở đó mà tham gia làm chủ xã hội.
Để có thể nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng; Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Thường vụ các cấp ủy cần có kế hoạch cụ thể để ngày càng mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội, tập hợp nhân tài, trí thức vào bộ máy lãnh đạo các cấp với ý thức rằng trí thức chính là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất trong thời đại hậu công nghiệp, kinh tế tri thức. [Tôi muốn nói đến trí thức chân chính và thực chất, chứ không phải những người chạy theo bằng cấp vì trong quy hoạch đã ghi một cách rất hình thức ấy].
Trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, tự do tư tưởng và đa dạng về văn hóa, các cấp ủy Đảng phải thường xuyên đổi mới tư duy, nâng cao trí tuệ, để đủ sức tham gia công cuộc khai hóa văn minh của dân tộc thay cho các tư tưởng bảo thủ, giáo điều, xa rời thực tế. Đặc biệt lưu ý đổi mới căn bản tư duy lý luận và công tác lý luận, thay đổi hẳn cách tiếp cận, lấy tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, cộng với cập nhật thường xuyên các tư tưởng mới và tiến bộ khoa học công nghệ làm nền tảng, thực hiện đối thoại bình đẳng giữa các quan điểm khác nhau, tập họp anh chị em trí thức để đồng hành và hợp tác trong phát triển bền vững đất nước.
Cải tổ bộ máy, bỏ trùng lắp và chồng chéo về chức năng nhiệm vụ giữa hệ thống Đảng và hệ thống nhà nước, hệ thống dân vận, thật sự khắc phục tình trạng ở nước ta cùng lúc có 3 bộ máy đều được trả lương bằng ngân sách nhà nước (tức là tiền thuế của dân). Trên cơ sở đó mà bỏ bớt các bộ phận dư thừa trong hệ thống chính trị, tinh gọn biên chế và làm rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân từng người lãnh đạo, từ đó dễ xử lý trách nhiệm trong các sai trái. Nước ta có rất nhiều việc làm hư hại uy tín của Đảng, Nhà nước và tài sản của quốc gia, nhưng quá ít trường hợp bị xử lý về trách nhiệm, không thấy ai từ chức và cũng ít thấy ai bị cách chức. Cần phải nghiêm túc sửa chữa tình trạng vô trách nhiệm này.
Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ theo hướng phải tranh cử gắn với mở rộng quyền đề cử của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội, cũng như quyền ứng cử của các cá nhân. Không có tranh cử thì cơ chế ấy sẽ dẫn đến tha hóa đội ngũ cán bộ, giống như muôn loài khi tách khỏi “chọn lọc tự nhiên”. Trong điều kiện một Đảng thì tất nhiên là khó hơn. Nhưng không có nghĩa là hoàn toàn không làm được. Và nhất thiết phải làm.
Trịnh Xuân Thanh, Đảng lãnh đạo, Đổi mới, Cải cách thể chế chính trị, kiểm soát quyền lực
Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: TTXVN
Trong khi một Đảng lãnh đạo thì Đảng ấy nhất thiết phải giương cao ngọn cờ dân chủ, tổ chức Đảng chủ yếu là lãnh đạo, thuyết phục về tiêu chuẩn cán bộ, hạn chế tối đa việc giới thiệu nhân sự cụ thể, chỉ tổ chức hiệp thương giới thiệu một số ít trường hợp để làm chủ chốt với các phương án khác nhau không có quân “xanh” quân “đỏ”; khắc phục tối đa tình trạng “một mình một sân”, “Đảng cử dân bầu”, đồng thời phát huy cao nhất vai trò tự chủ của các đoàn thể chính trị xã hội và các hội trong việc chọn người ra tham gia tranh cử. Đó cũng là nói về vai trò của xã hội dân sự lành mạnh.
Đối với cán bộ lãnh đạo, cán bộ qua bầu cử, là vậy. Còn đối với cán bộ chuyên môn thì phải thông qua thi cử công khai và công bằng. Giảm mạnh bộ máy và nâng lương cao lên cho cán bộ, không để cán bộ sống chủ yếu bằng các nguồn “thu nhập khác” như hiện nay. [Xin hãy đừng nói với tôi rằng không có ngân sách lấy gì mà nâng lương ? Chẳng qua chỉ là thay đổi cách quản trị quốc gia].
Việc xử lý nghiêm minh các vụ tiêu cực là hết sức cần thiết, nhất định không được bỏ qua vụ nào, dù phải động chạm đến bất kỳ ai. Mọi sự bao che hoặc dung túng cho “quan tham” đều là con đường dẫn đến kết cục xấu. Tập thể các Ban Chấp hành và những đảng viên chân chính không được thụ động, thả tay, thừa nhận bất lực, mà phải kiên cường và chủ động tham gia cuộc chiến chống tham nhũng, “ lợi ích nhóm” - ủng hộ mạnh mẽ những việc làm đúng, nhất là trong việc chống “ lợi ích nhóm” và chống bảo thủ (thúc đẩy đổi mới) của Tổng Bí thư và tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong cuộc chiến này.
Trong số các nhóm giải pháp, việc xử lý các vụ tiêu cực viết sau không có ý rằng nó ít quan trọng, mà vì nó chủ yếu là giải quyết hậu quả, giải quyết cái đã xảy ra rồi, vẫn rất quan trọng, nếu xử lý nghiêm sẽ có tác dụng răn đe. Nhưng dù sao thì nó vẫn không phải là cách trực tiếp ngăn chặn từ đầu.
Nếu chúng ta chỉ tập trung công sức cho việc xử lý cái đã xảy ra, thì đề phòng trong khi giải quyết được vài ba vụ, có thể đã phát sinh thêm năm bảy vụ mới, tổng số tồn đọng vẫn cứ không giảm, mà có thể nhiều hơn. Cho nên phải tập trung nhiều nhất cho việc ngăn chặn đầu vào, giải quyết từ gốc cái điều kiện và tác nhân sinh ra tiêu cực, đồng thời xử lý một cách kiên quyết, không dung túng, không khoan nhượng, không thỏa hiệp các vụ tiêu cực đã xảy ra, minh bạch tất cả thông tin cho nhân dân biết để lấy lại lòng tin.
Trong nhiều trường hợp, việc minh bạch thông tin còn công hiệu hơn kỷ luật, vì cái xấu không còn nơi ẩn nấp. Nếu không minh bạch thông tin, cứ để mập mờ, thì mọi người sẽ nghi ngờ tất cả, người tốt và liêm khiết cũng bằng nhau với người xấu và tham nhũng, không còn ai tốt cả, vậy thì nhân dân biết tin vào đâu.
Hà Nội 10/2016
TS. Vũ Ngọc Hoàng