Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Bộ trưởng Bộ Nội vụ: “Giảm 50% không lo lương cho viên chức thì đỡ lắm!”

Thứ 2, 07:00, 24/10/2016

VOV.VN - “Khối viên chức 2,1 triệu người mà giảm được 50% không lo lương là đỡ lắm. Còn công chức chỉ có hơn 600.000 người thì đâu phải nhiều gì”.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân nêu số liệu ví dụ khi trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội về việc tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ, tổ chức, sắp xếp lại chức năng... sẽ làm cơ sở tốt để cải cách tiền lương, không lo vỡ quỹ bảo hiểm thay vì đặt vấn đề tăng tuổi nghỉ hưu.
PV: Trước đề xuất nâng tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ công chức lên 60-62, ông có thể cho biết quan điểm về vấn đề này?
Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân: Bộ Nộ vụ thì lại còn khuyến khích nghỉ sớm, vì đang thực hiện đề án tinh giản biến chế để cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Quan điểm của tôi là chúng ta phải làm đúng quy định của Bộ luật Lao động, quy định tuổi nghỉ hưu của nam là 60, nữ 55. Quan trọng nữa là ta phải thực hiện theo Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ của bộ máy công chức, viên chức.
Làm đúng như vậy thì mới nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy hành chính Nhà nước và giải quyết được vấn đề cơ chế để tăng lương.
bo truong noi vu noi ve quyet tam tinh gian bien che hinh 1
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân
PV: Theo ông, lý do giải thích tăng tuổi nghỉ hưu để tránh nguy cơ vỡ quỹ lương hưu có hợp lý, thuyết phục?
Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân: Tuổi thọ bình quân của người Việt Nam hiện là hơn 73 tuổi rồi. Lý do giải thích như trên thuộc quan điểm của mỗi người, còn phép tính đưa ra là của cơ quan quản lý quỹ.
Tôi thì vẫn quan điểm phải giữ đúng Bộ luật Lao động và thực hiện đúng Nghị quyết 39 thì sẽ giải quyết được vấn đề tiền lương, không phải lo vỡ quỹ. Và giải quyết việc này không phải bằng vấn đề tăng tuổi hưu.
PV: Tuy nhiên việc tinh giản biên chế mới chỉ nhắm đến nhóm công chức viên chức sắp tuổi hưu thì không giảm được bao nhiêu chi trả ngân sách cho lương, thưa ông?
Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân: Nội dung của Nghị quyết 39 của Bộ chính trị là tinh giản biên chế gắn với việc cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức nhưng thực ra lâu nay mình mới đi sâu vào tinh giản mà chưa tính việc cơ cấu lại đội ngũ, tổ chức, sắp xếp lại chức năng chồng chéo, cơ cấu cho đúng vị trí việc làm và chức danh của công chức.
Làm được như vậy mới ra được đối tượng tinh giản. Tinh giản đây là những người không đảm bảo điều kiện, không đủ sức khoẻ, cần bố trí sắp xếp công việc khác chứ không phải là thu chưa đủ thì không tinh giản.
Tinh giản cho đúng quy trình và tỷ lệ theo Nghị định 188 của Thủ tướng Chính phủ là bình quân mỗi năm giảm 5%. Năm nay Bộ Nội vụ đã giao chỉ tiêu biên chế sớm cho các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các tổ chức chính trị xã hội – những tổ chức có biên chế Nhà nước giao.
Bộ đã ký văn bản giao sớm theo đúng tinh thần Nghị quyết 39. Năm nay không có tình trạng như mấy năm trước là để xong họp HĐND tỉnh mới giao, vì như vậy làm sao người ta có cơ sở tổ chức bộ máy kết hợp với ngân sách. 
Giải quyết vấn đề tiền lương theo tôi là thế. Giờ khối viên chức 2,1 triệu người, nếu mình giảm được 50% trong số đó thôi, bằng cách xã hội hoá hay giao cơ chế tự chủ thì con số này mình không phải lo lương, như thế là đỡ lắm. Còn công chức thì hiện mình chỉ có hơn 600.000 người kể từ cán bộ cấp xã trở lên thôi, đâu phải nhiều gì.
Nhưng giờ chuyển đổi xã hội hoá và vận động của các đơn vị theo tinh thần tự chủ quá chậm nên sẽ từng bước để tính. Năm 2017, Chính phủ giao Bộ Nội vụ làm công tác tham mưu và sẽ tính theo lộ trình để xã hội hoá việc này. Tinh thần là làm đúng quy định của pháp luật và định hướng lãnh đạo của Đảng.
PV: Như Bộ trưởng phân tích, chưa thực hiện được việc cơ cấu bộ máy nhưng vẫn phải tính đến chuyện tăng lương cơ sở, như kế hoạch đề ra cho năm tới là tăng lên mức 1,3 triệu đồng/tháng?
Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân: Phải dứt khoát làm được việc cơ cấu thì mới ra được diện đối tượng tinh giản, mà có tinh giản được mới cải cách tiền lương đáng kể.
Năm nay, việc tăng lương công chức đã bàn tới bàn lui “găng” lắm, hết phương án này tới phương án khác nhưng cuối cùng cũng chỉ chọn được phương án tăng thêm 7% thôi. Và thực chất là mình đang “nợ” tới 16% do ngân sách không đảm bảo, không cân đối được.
Nếu không đẩy mạnh tinh giản biên chế gắn với giao quyền tự chủ, xã hội hoá thì không thể cải cách tiền lương được.
PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng!./.
Ngọc Thành/VOV.VN

Bài liên quan

Video đang được xem nhiều
Minh Hằng làm việc liên tục 25 tiếng và gặp sự cố khi quay MV
VOV.VN - Là một ca sĩ – diễn viên đa phong cách nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên khán giả thấy một Minh Hằng cá tính, lạ lẫm đến vậy.
No compatible source was found for this video.

Tái cơ cấu nền kinh tế không phải ở việc huy động nguồn lực

Thứ 2, 05:59, 24/10/2016

VOV.VN - Phân bố và sử dụng hiệu quả sẽ khơi thông dòng chảy nguồn lực cần thiết trong tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Khi bàn luận về tái cơ cầu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thời gian qua có nhiều nhận định được đưa ra là phải cần nhiều nguồn lực với những con số rất lớn, trong khi khả năng huy động nguồn lực của nền kinh tế nước ta đang hết sức hạn chế.
Những phân tích của Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) sẽ đưa đến cái nhìn khác về về việc huy động và sử dụng nguồn lực hiệu quả trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
PV: Thưa ông, trong một nhận định gần đây ông có cho rằng, tư duy huy động nguồn lực để tái cơ cấu nền kinh tế hiện đang không còn phù hợp. Ông có thể cho biết vì sao ông lại đưa ra nhận định này và các nguồn lực hiện nay đã được huy động đến mức độ nào?
TS. Nguyễn Đình Cung: Trên thực tế trong những năm qua, chúng ta đã huy động rất tốt các nguồn lực trong xã hội. Trong đó, huy động đầu tư xã hội đã đạt đến mức 34 – 35% GDP; Huy động thu ngân sách đạt tới 22 – 23% GDP; Chi ngân sách đạt tới 28% GDP; Huy động hệ thống ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế đã hơn 100% GDP và hằng năm vẫn tăng thêm ở mức 17 – 20%; huy động đầu tư nước ngoài cũng đã chiếm tới 28% tổng đầu tư xã hội…
tai co cau nen kinh te khong phai o viec huy dong nguon luc hinh 1
Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương -CIEM (Ảnh: Internet)
Đây là những có số huy động nguồn lực hết sức rất lớn theo chuẩn mực quốc tế, trong khi bội chi ngân sách nước ta ở mức cao và vẫn đang tiếp tục gia tăng. Nếu xét về mức huy động nguồn lực, Việt Nam đứng trong số những quốc gia hàng đầu trên thế giới.
Cho nên vấn đề của Việt Nam hiện nay để tái cơ cấu nền kinh tế không phải là ở việc huy động nguồn lực. Vấn đề trọng tâm cần xem lại là việc phân bố nguồn lực sai lệch và sử dụng nguồn lực hết sức kém hiệu quả, gây lãng phí.
Bởi lẽ, nếu cứ tiếp tục huy động thêm trong khi sử dụng nguồn lực kém hiệu quả, lãng phí sẽ không những không làm cho thịnh vượng quốc gia tăng thêm, mà còn làm sói mòn nguồn lực quốc gia, kéo giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Từ những thực tế này tôi cho rằng, trước tiên chúng ta phải làm sao phân bố lại nguồn lực để sử dụng một cách có hiệu quả. Khi đã sử dụng có hiệu quả thì chắc chắn nguồn lực sẽ tự chảy về, còn cứ sử dụng không hiệu quả thì có huy động bao nhiêu rồi đến lúc các kênh, nhánh, suối nguồn lực cũng sẽ khô cạn dần.
PV: Báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng có đưa ra con số cần khoảng 480 tỷ USD. Theo ông thì nguồn lực này sẽ được huy động từ đâu?
TS. Nguyễn Đình Cung: Trong đề án tái cơ cấu nền kinh tế được Bộ trưởng trình trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nêu trọng tâm là phân bố lại và sự dụng có hiệu quả nguồn lực hiện có, sau đó mới tính đến việc huy động các nguồn lực xã hội.
Có thể mọi người đọc không kỹ đề án vì chúng tôi đã giải thích rất rõ là trọng tâm của tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng không phải là việc huy động nguồn lực. Cách tiếp cận của đề án trước hết phải phân bố lại nguồn lực và sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả.
Con số 480 tỷ USD đề án đưa ra chẳng qua chỉ là sự ước lượng rằng, nếu khi cần phải huy động thì sẽ huy động, nhưng đó không phải con số để tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng mà đó chỉ là một con số giả định. Nếu đọc kỹ đề án này sẽ thấy, việc huy động nguồn lực chỉ đứng hàng thứ yếu, nhất định không phải là ưu tiên hàng đầu để tái cơ cấu nền kinh tế.
Chỉ khi chúng ta phân bố lại và sử dụng thật hiệu quả nguồn lực hiện có, nếu cần phải huy động, chỉ tính riêng khu vực nhà nước, nếu tính sơ bộ theo giá sổ sách thì con số cần huy động cũng phải lên tới trên 500 tỷ USD, hoặc cao hơn con số này rất nhiều.
Tôi muốn khẳng định lại, chỉ khi sử dụng nguồn lực hiệu quả thì vòng phát triển mới có cơ hội nới rộng ra, từ đó con số huy động sẽ là rất lớn. Điều này cũng là muốn nhấn mạnh một điều, khi sử dụng nguồn lực hiệu quả sẽ khơi thông dòng chảy nguồn lực, từ đó làm tăng tiềm năng phát triển của nền kinh tế, tăng tính cạnh tranh và thịnh vượng quốc gia.
PV: Theo lý giải và phân tích của ông thì chúng ta sẽ cần phải phân bố và sử dụng nguồn lực như thế nào mới có hiệu quả?
TS. Nguyễn Đình Cung: Hiện nay cơ chế phân bố nguồn lực của chúng ta phần lớn vẫn là cơ chế hành chính xin – cho, trong khi thị trường đóng vai trò rất thứ yếu.
Muốn thay đổi lại phân bố nguồn lực trước tiên phải xây dựng lại thể chế phân bố nguồn lực, trọng tâm là cải cách những thể chế của thị trường nhân tố sản xuất, đặc biệt là thị trường vốn, đất đai, lao động và thị trường khoa học công nghệ…để những thị trường đặc biệt là đất đai và tài nguyên khoáng sản phải đóng vai trò ngày càng lớn hơn trong phân bố và sử dụng nguồn lực.
Đặc biệt là chúng ta phải lấy giá của các yếu tố này là giá thị trường, không phải giá do quyết định hành chính xin – cho tạo nên. Từ đó tín hiệu của thị trường sẽ chỉ dẫn đâu là dự án hiệu quả và đâu là dự án không hiệu quả để nguồn lực chảy vào chỗ nào.
Để thực hiện điều này sẽ không hề dễ dàng, thậm chí hết sức khó khăn và phức tạp, bởi vì cơ chế hành chính xin – cho đang gắn với “quyền” và “lợi” của rất nhiều cơ quan, của rất nhiều người.
PV: Giả định khi cần phải huy động và phân bổ nguồn lực ở con số 480 tỷ USD cho tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), chúng ra sẽ phải làm thế nào mới là phù hợp để tận dụng được mức đầu tư này, thưa ông?
TS. Nguyễn Đình Cung: Tái cơ cấu DNNN là một trọng tâm của tái cơ cấu nền kinh tế được nêu ra tại Đại hội Đảng lần trước cũng như Đại hội Đảng lần này. Tái cơ cấu là việc thay đổi lại sự phân bố nguồn lực. Tái cơ cấu DNNN cũng như khu vực Nhà nước không phải là thu hẹp phạm vi của kinh tế nhà nước mà ở đây là thay đổi lại danh mục đầu tư của Nhà nước.
Thoái vốn hay cổ phần hóa DNNN chẳng qua là rút vốn từ DNNN để tạo ra dòng chảy từ nguồn lực xã hội lấp vào nơi vốn Nhà nước đã được rút ra. Điều này sẽ tạo cho khu vực kinh tế tư nhân và xã hội có được những cơ hội đầu tư và phát triển.
Tuy nhiên, để tăng tính hiệu quả của nguồn lực, Nhà nước sau khi lấy vốn từ các DNNN không được đưa vào chi ngân sách thường xuyên. Cần phải hình thành một danh mục các dự án đầu tư, đặc biệt là đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế cũng như hạ tầng xã hội để Nhà nước tập trung đầu tư vào các dự án đó.
Lấy ví dụ, nước ta đang cần vốn đầu tư cho dự án Sân bay Long Thành. Nhiều người nói rằng dự án rất thiếu vốn và không biết huy động từ đâu, nhưng tôi lại thấy rằng vốn đang có rất nhiều ở trong nền kinh tế.
Cụ thể là chúng ta chỉ cần thoái vốn ở một số DNNN sẽ có vài chục tỷ USD, rất dễ dàng để tập trung vào dự án Sân bay Long Thành hoàn thành sớm trong thời gian ngắn từ 2 – 3 năm. Trên thế giới người ta đã làm thế rồi, tại sao chúng ta cứ chần chừ với câu hỏi phải huy động vốn ở đâu?
Do đó, khi Nhà nước đã có sẵn nguồn lực từ tái cơ cấu và phân bố lại danh mục đầu tư của Nhà nước sẽ là 1 mũi tên đạt được 2 mục đích. Mục đích thứ nhất là huy động được thêm nguồn lực xã hội và mục đích thứ hai là sử dụng nguồn lực đó một cách có hiệu quả hơn. Đồng thời với đó là chúng ta mở rộng được vòng phát triển to hơn theo cấp số nhân.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!./.
Nguyễn Quỳnh/VOV.VN

Giáo sư Thayer: « Các phát biểu của ông Duterte phá hoại liên minh Mỹ-Philippines »

media
Tổng thống Philippines trong cuộc họp báo ở sân bay quốc tế Davao sau chuyến thăm Trung Quốc, ngày 21/10/2016.
 REUTERS/Lean Daval Jr.

Trả lời các câu hỏi của báo giới, ngày 21/10/2016, giáo sư Carlyle A. Thayer, thuộc học viện Quốc phòng Úc, đưa ra một số nhận định về hậu quả việc tổng thống Philippines Rodrigo Duterte có thể « xoay trục » sang Trung Quốc.

1/ Liệu có thể nói chiến lược xoay trục sang châu Á của Mỹ đã thất bại ?

GS Thayer : Chiến lược tái cân bằng sang châu Á của tổng thống Obama còn sống thêm được hơn hai tháng nữa một chút. Người sẽ lên làm tổng thống Hoa Kỳ sẽ đưa Mỹ dấn thân vào khu vực với một cái tên gọi mới.

Có thể nói, các phát biểu của tổng thống Duterte đã phá hoại liên minh Mỹ-Philippines. Điều này tạo ra làn sóng bất ổn chiến lược trong toàn khu vực. Hải quân và Không quân Mỹ vẫn có thể duy trì sự hiện diện mạnh mẽ trong vùng. Nhưng có thể ông Duterte sẽ giảm bớt sự hiện diện này nếu như không hủy bỏ Thỏa thuận Tăng cường Hợp tác Quốc phòng với Hoa Kỳ.

Lực lượng Mỹ cũng sẽ chấm dứt sự hiện diện luân phiên và sẽ không còn có khả năng đối phó với mọi tình huống ở Biển Đông. Về khía cạnh kinh tế trong chiến lược tái cân bằng của Obama, hiệp định tự do mậu dịch TPP thực sự đã chết bởi tư tưởng chống toàn cầu hóa mạnh mẽ tại Hoa Kỳ.

2/ Vậy giờ đây Washington có thể làm được gì ?

GS Thayer : Chắc chắn chính quyền Obama sẽ không làm cho các vấn đề trở nên tồi tệ hơn đối với tân tổng thống Mỹ. Do vậy, Hoa Kỳ sẽ có thái độ ôn hòa kín đáo. Các phát ngôn viên của Hoa Kỳ chỉ nói là chính phủ Mỹ chưa được thông báo chính thức về bất kỳ phát biểu nào của tổng thống Duterte.

Cũng như giai đoạn 1991-1992 khi Philippines hủy bỏ các hợp đồng thuê căn cứ Vịnh Subic và căn cứ không quân Clark, Hoa Kỳ sẽ phải tôn trọng chủ quyền của Philippines. Các nhà ngoại giao Mỹ sẽ giữ liên lạc với các quan chức ngoại giao và quốc phòng Philippines, những người xử lý tốt nhất mối quan hệ song phương để tìm hiểu những gì đang thực sự diễn ra.

3/ Vấn đề Biển Đông sẽ bị tác động ra sao ?

GS Thayer : Điều trớ trêu là sự xoay trục hiện nay của ông Duterte dường như sẽ làm giảm thái độ quyết đoán cũng như tiến trình quân sự hóa của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa. Triển vọng hai bên bắt đầu thương lượng về vấn đề Biển Đông cũng là một động thái tích cực. Ông Duterte đã nói là ông phải tôn trọng Hiến Pháp Philippines (liên quan đến việc hạn chế sự tham gia của đối tác nước ngoài trong hoạt động thăm dò dầu khí) và ông sẽ không thể bỏ qua phán quyết của Tòa Trọng Tài.

Giờ đây, Trung Quốc có được sự khích lệ thúc đẩy các biện pháp ngoại giao nhằm củng cố sự hiện diện của họ tại Biển Đông. Điều này có thể giúp duy trì nguyên trạng ổn định tương đối. ASEAN và các thành viên của khối này chỉ có thể thoái lui và ủng hộ hoặc không can thiệp vào cuộc đàm phán song phương giữa Trung Quốc và Philippines. Philippines sẽ sớm làm chủ tịch luân phiên ASEAN với hậu quả là có thể Manila cùng với Phnom Penh chống lại mọi sáng kiến mà Trung Quốc không đồng tình.

4/ Việt Nam sẽ phải chịu “vạ lây” ra sao ?

GS Thayer : Trong quá khứ, Việt Nam đã hưởng lợi bằng cách để Philippines đi hàng đầu (hoặc dẫn đầu) trong hồ sơ Biển Đông. Giờ đây, Việt Nam sẽ chịu áp lực ngày càng gia tăng để thúc đẩy nhanh các thảo luận với Trung Quốc về hợp tác và cùng phát triển trong các vùng biển nằm ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Quan hệ đối ngoại « đa dạng hóa và đa phương hóa » của Việt Nam sẽ phải đối mặt với một vài khó khăn do Philippines có những hành động phá hoại cam kết của Mỹ đối với vùng Đông Nam Á.

Thứ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đã tái khẳng định chính sách lâu dài của Việt Nam là ủng hộ sự hiện diện của Mỹ trong khu vực chừng nào sự hiện diện này đóng góp một cách tích cực – theo quan điểm của Việt Nam – vào sự ổn định khu vực. Đối với Việt Nam và tất cả các thành viên khác của ASEAN, các hành động của ông Duterte sẽ càng làm gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc trong toàn vùng.

(RFI)
 

Nước uống nhiễm chì là do... doanh nghiệp

Tuệ Minh | 

Nước uống nhiễm chì là do... doanh nghiệp
Có nhiều sản phẩm nước uống Rồng Đỏ bị nhiễm chì chưa thể thu hồi được (Ảnh: Tuổi trẻ)

Theo Cục trưởng Cục ATTP, trong vụ nước uống nhiễm chì, lỗi thuộc về doanh nghiệp bởi lô nguyên liệu khi được kiểm nghiệm thì đảm bảo nhưng sản xuất thì sản phẩm lại vượt ngưỡng.

Là một trong 8 vấn đề mà Bộ trưởng Bộ Y tế cần lưu ý ngoài những nhiệm vụ được Thủ tướng giao, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm thêm một lần nữa Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhắc đến.
Cụ thể, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng - Tổ trưởng tổ công tác của Thủ tướng cho biết nhắc đến việc dư luận vẫn bức xúc với việc sử dụng chất cấm, chất bảo quản trong chế biến thực phẩm.
Nước uống nhiễm chì là do... doanh nghiệp - Ảnh 1.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng, Tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng, truyền đạt ý kiến của Thủ tướng đến Bộ Y tế (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)
Ông Mai Tiến Dũng đề cập trách nhiệm của Cục Quản lý dược – cơ quan quản lý có thẩm quyền cho phép nhập khẩu Salbutamol đã sở hở để 6/9 tấn chất này nhập về bị lưu hành trôi nổi trên thị trường, bị sử dụng cho mục đích chăn nuôi nhằm tạo nạc cho gia súc.
Ngoài ra, vụ lô hàng nước C2 và Rồng Đỏ của Công ty URC nhiễm chì khiến dư luận bức xúc vừa qua cũng là một việc Thủ tướng yêu cầu đoàn kiểm tra nhắc nhở Bộ Y tế. Cho đến giờ, lượng lớn số nước nhiễm chì đó vẫn chưa được thu hồi hết.
Hôm nay, 19/10, trao đổi với với chúng tôi, ông Nguyễn Thanh Phong - Cục trưởng Cục an toàn thực phẩm, Bộ Y tế cho biết ngày hôm qua ông đã có trình bày về vấn đề nước giải khát nhiễm chì này.
Theo đó, ông Nguyễn Thanh Phong đã giải thích thêm việc Viện kiểm nghiệm cho doanh nghiệp nhập nguyên liệu làm phát sinh hiện tượng nước giải khát URC nhiễm chì.
Theo vị Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm này, "lỗi" trong sự việc này nằm ở phía doanh nghiệp. Cụ thể, khi mang lô sản phẩm đi kiểm nghiệm, chất lượng đảm bảo nhưng khi đưa vào sản xuất thì lô nước C2, Rồng Đỏ lại để vượt quá hàm lượng cho phép.
Liên quan đến việc này, Bộ Y tế cũng đã từng phạt URC 5,8 tỷ đồng - số tiền lớn nhất từ trước tới nay cho một vụ việc liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm.
Cũng liên quan đến vấn đề này, cho đến thời điểm này, một phương án đền bù cho những người tiêu dùng đã mua hoặc sử dụng những chai nước C2 và Rồng Đỏ nhiễm chì (không thể thu hồi được) vẫn chưa được quyết định.
Trước đó, ngày 18/10, tại buổi làm việc giữa Tổ Công tác của Thủ tướng với Bộ Y tế, bên cạnh vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cũng đã truyền đạt ý kiến của Thủ tướng về 7 vấn đề khác.
Cụ thể, đó là vấn đề báo chí và người dân rất quan ngại tình trạng bệnh viện và người bệnh câu kết để trục lợi từ chính sách bảo hiểm y tế, dẫn tới mất công bằng, thiếu minh bạch, bất bình đẳng trong thụ hưởng chính sách, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế.
Thứ hai là vấn đề chấm dứt tình trạng bệnh nhân nằm ghép. Thứ ba, là tiến độ giải ngân vốn ODA, vốn ngân sách chậm, nhất là trong việc xây dựng 5 bệnh viện lớn đã có khoản kinh phí 20.000 tỷ đồng.
Thứ tư là chất lượng hệ thống y tế tuyến xã, phường vẫn có nhiều bất cập. Thứ năm là vấn đề đấu thầu thuốc.
Thứ sáu, có những vụ việc người nhà bệnh nhân, bệnh nhân có thái độ không tốt, thậm chí đe dọa, hành hung cán bộ, vì thế Bộ Y tế cần được quan tâm, chấn chỉnh, tăng cường an ninh tại các bệnh viện.
Cuối cùng là một số vấn đề liên quan tới công tác cán bộ ngành y, như thông tin liên quan tới Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ đã được báo chí phản ánh.
theo Trí Thức Trẻ

Xôn xao về việc lãnh thổ Việt Nam bị thu hẹp từ 1999

Hôm nay trên mạng Facebook có lan truyền một thông tin về việc diện tích lãnh thổ VIệt Nam bất ngờ bị thu hẹp trong năm 1999, từ 325000 km² xuống 310000 Km². Cần lưu ý rằng năm 1999 cũng là mộc thời gian của việc ký kết "Hiệp định biên giới Việt-Trung".

Dư luận mạng đưa ra câu hỏi, liệu việc Ngân hàng Thế giới World Bank đưa ra các số liệu này có liên quan đến việc chính phủ VN đã nhân nhượng cho phía Trung Quốc trong suốt quá trình đàm phán về phân định biên giới Việt Trung và bình thường hóa quan hệ giữa hai nuớc, kể từ sau Hội nghị Thành Đô năm 1990.
Một thực tế không thể chối cãi là từ lâu nay, những người lãnh đạo nhà nuớc CHXHCH Việt Nam và đảng CSVN vẫn đang nợ nhân dân Việt Nam về toàn bộ văn bản của Hiệp địn Biên giưới Việt Trung và các thỏa thuận trong Hội nghị Thành Đô.
15.420 km2 đất đã biến đi đâu mất vào năm 1999?
Đây là con số công bố của World Bank về diện tích lãnh thổ của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với 2 mốc để so sánh là năm 1961 và 2015.
Theo đó, lãnh thổ đất nước Việt Nam năm 1961 là 325.490 km2. Vậy mà đến năm 2015 chỉ còn lại 310.070 km2 (hình 1). Thời điểm diện tích lãnh thổ Việt Nam bị "teo tóp" một cách đột ngột xảy ra là vào năm 1999 (hình 2).
Vậy 15.420 km2 kia đã chạy đi đâu mất vào năm 1999 đó???
Mời bà con vào xem xét.
Đừng bảo thế lực "phản động" xuyên tạc nhé. Nguồn chính thống từ World Bank đó
FB'ker Giang Kiến Phương đặt câu hỏi:
Hồi xưa học Địa lý: Nước Việt Nam cong hình chữ S...diện tích 326.000 km2 (có số lẽ, hơn chút xíu). Sau 1975 đọc sách giáo khoa của mấy đứa em thì thấy diện tích của VN là 330.000 km2, nhiều hơn mấy km2. Nghĩ, có thể sách của VNCH không chính xác do không đo đạc được diện tích miền Bắc.
Hôm nay dân mạng phát hiện ra, theo tài liệu của Ngân hàng dữ liệu thế giới (World Data Bank) thì diện tích của VN là 310.070 km2. Chênh lệch hơn mười lăm ngàn km2, không biết đi đâu?
http://databank.worldbank.org/data/reports.aspx