Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

Trung Quốc có đổ tiền cứu Việt Nam?

18/03/2017

Phạm Chí Dũng
18-3-2017
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Trụ sở Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hà Nội, ngày 5/11/2015. Ảnh: Reuters.
Câu hỏi này, thậm chí mang ý nghĩa đối với một phần sự sống còn của dân tộc Việt Nam, đã tồn tại từ rất lâu và giờ đây lại một lần nữa đặc biệt xáo động trong tâm thức nhiều người đang lo lắng việc Bắc Kinh sẽ đổ tiền để cứu vãn chế độ Hà Nội – như một cách nhằm bảo vệ ý thức hệ độc đảng chuyên quyền và phản dân chủ.
Ngửa bài đe dọa
Quá nhiều người Việt vừa không thích Trung Quốc, vừa lo sợ lịch sử về nguy cơ Trung Quốc sẽ biến Việt Nam thành một thứ tỉnh lỵ thuộc Bắc Kinh vào một thời điểm nào đó, nhất là sau khi Hội nghị Thành Đô đặt mọi chuyện vào sự đã rồi và luôn là một cái cớ để Bắc Kinh tấn công Việt Nam bất kỳ lúc nào thuận lợi.
Năm 2016, một trung tâm nghiên cứu có uy tín của Hoa Kỳ là Pew đã chứng thực và lượng hóa tâm lý “thoát Trung” ấy. Khi Pew đặt câu hỏi đối với 1.000 dân Việt được hỏi nước nào là mối đe dọa lớn nhất, có tới 74% chọn Trung Quốc. Và khi Pew đề cập quốc gia nào có thiện cảm nhất, chỉ có 16% dân Việt chọn Trung Quốc.
Nhưng ở Việt Nam đương đại, chủ nghĩa “thân Trung” vẫn tồn tại từ thời Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống. Chỉ có một điểm khác biệt cơ bản: nếu ít năm trước loại chủ nghĩa này còn cố gắng che giấu ý đồ và hành vi của nó, thì nay một số nhân vật người Việt đại diện cho khuynh hướng và tổ chức “thân Trung” ở Hà Nội thậm chí còn công khai tuyên truyền cho khả năng “không có chuyện chế độ (Việt Nam) sụp đổ vì Trung Quốc sẽ đổ tiền để cứu”.
Hầu như không khác với giới tuyên huấn Bắc Kinh mà từ lâu vẫn hô hào về một “Trung Quốc đang trỗi dậy” để người dân nước này không nên ngả theo phương Tây và cũng chẳng cần phải đấu tranh giành các quyền con người, các nhân vật “thân Trung” ở Hà Nội muốn lật ngửa bài để đe dọa những quan chức manh nha theo đường lối đồng minh quân sự với Mỹ và Nhật, cùng lúc khống chế phong trào dân chủ nhân quyền và tinh thần kháng Trung ở Việt Nam.
Không biết vô tình hay hữu ý, hành động “thân Trung” trên càng gia tốc và nguy hiểm hơn sau chuyến làm việc của ông Nguyễn Phú Trọng tại Trung Quốc vào tháng Giêng năm 2017, kéo theo 15 hiệp định song phương và ngay lập tức vốn đầu tư của Trung Quốc vọt lên hàng thứ hai trong các kênh đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Vì sao phải ‘cứu Việt Nam’?
2017 – năm bị xem là “cực kỳ khó khăn” đối với nền kinh tế Việt Nam mà thậm chí một quan chức cao cấp là Nguyễn Xuân Phúc đã phải cảnh báo về “sụp đổ tài khóa quốc gia”.
Hẳn là thế và hình như không còn lối thoát nào khác nếu chiếu theo luận thuyết “kinh tế quyết định chính trị” của Mác mà Việt Nam vẫn hàng ngày truyền tụng trong các cơ sở đào tạo “lý luận chính trị cao cấp”.
Sau triều đại bị xem là “phá chưa từng có” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sự thật về một nền kinh tế suy sụp và cận kề khủng hoảng đã không còn lời nào để bào chữa. Nếu trước đây Thủ tướng Dũng, dàn tham mưu bộ ngành của ông ta, và kể cả dàn đồng ca phụ họa của những người bên đảng còn tự an ủi rằng những “khó khăn kinh tế” như nợ xấu, nợ công, ngân sách không phải là chuyện lớn và “vẫn còn dư địa để vay tiếp và phát triển”, làm thế nào có thể lý giải được một sự thật trần trụi là ít nhất 25 tỷ USD nợ xấu trong hệ thống ngân hàng vẫn hoàn toàn bế tắc trong xử lý trong khi nợ công quốc gia không phải chỉ gần 65% GDP như đủ loại báo cáo “nâng lên một tầm cao mới” mà đã vọt lên đến 210% GDP – gấp hơn 3 lần ngưỡng nguy hiểm?
Kinh nghiệm của các quốc gia từng suýt vỡ nợ nhưng cuối cùng không vỡ là cho dù nợ công cao nhưng ngân sách và dự trữ ngoại hối vẫn còn đủ bù đắp. Cách đây vài năm, giới chuyên gia nhà nước vẫn thường lấy Nhật Bản như một bài học kinh nghiệm về tỷ lệ nợ công vượt hơn 200% GDP nhưng vẫn an toàn để cho rằng Việt Nam… cũng sẽ ổn. Nhưng lại theo kinh nghiệm của những quốc gia đã từng thực sự vỡ nợ như Argentina, nợ công kinh khủng mà ngân sách lại cạn kiệt là những tiêu chí chắc chắn dẫn đến một kịch bản vỡ nợ chắc chắn, có khi còn kéo theo sự sụp đổ của cả một chính phủ.
Việt Nam lại đang bước vào năm suy thoái kinh tế thứ 9 liên tiếp, trong lúc các kênh “ngoại viện” gần như đóng lại. Ngay cả Hiệp định TPP mà giới lãnh đạo Việt Nam từng trông đợi để được “tăng 25% GDP” cũng gần như tan vỡ. Trong khi đó, một hiệp định khác – Hiệp định tự do thương mại giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu – cũng chưa tới đâu, cho dù đã được ký kết từ cuối năm 2015. Nghe đâu Nghị viện châu Âu còn đang rất cân nhắc có nên thông qua việc triển khai hiệp định này hay không khi chính quyền Việt Nam vẫn thẳng tay đàn áp nhân quyền.
Thậm chí vào năm 2016, lượng kiều hối của “kiều bào ta” gửi về quê hương đã sụt đến 3 tỷ USD – giảm hơn 30% so với năm 2015, báo hiệu một thời kỳ “đen tối”…
Việt Nam đang hội tụ gần như đầy đủ các yếu tố đủ lớn cho một sự ra đi về “ổn định kinh tế tức ổn định chính trị”: từ năm 2015, ngân sách trung ương đã bị cảnh báo là “có thể trống rỗng”, để đến năm 2017, bên cạnh lời cảnh báo “cực kỳ khó khăn” là bắt đầu xuất hiện dự báo về khả năng nền ngân sách này “không trụ nổi đến hết năm 2018”.
Đó là nguyên do sâu xa để chế độ một đảng ở Trung Quốc, nếu không thật sự khó khăn tài chính, đã và sẽ phải đổ tiền để cứu chế độ độc đảng tại Việt Nam.
Thực chất kinh tế Trung Quốc ra sao?
Rất nhiều người cho rằng những nhân vật sâu hiểm và có tầm như Tập Cận Bình sẽ chỉ “cứu Việt Nam” nếu Trung Quốc có đủ sức.
Khách quan mà xét, Trung Quốc đã vượt qua được một thử thách rất lớn về kinh tế vào giai đoạn những năm 2012 – 2013. Từ năm 2011, người được giải Nobel kinh tế là Tiến sĩ Nouriel Roubini đã đưa ra dự báo rằng kinh tế Trung Quốc sẽ “hạ cánh cứng vào năm 2013”. Tốc độ suy giảm GDP, nợ chính quyền địa phương và tình hình thiếu khả quan của các thị trường bất động sản và chứng khoán… là một số cơ sở cho nhận định bi quan như vậy của Rounini và cả một số tổ chức phân tích tài chính phương Tây. Tuy thế đến năm 2013, Trung Quốc lại bất ngờ vượt qua vực thẳm kinh tế và tài chính để sau đó nhịp độ tăng trưởng GDP có phần phục hồi. Cho tới nay, nền kinh tế quốc gia này vẫn có vẻ “ổn” và không bị quá nhiều dư luận nghi ngờ như trước đây.
Nhưng vẫn có một tử huyệt của nền tài chính Trung Quốc mà chính quyền nước này chưa bao giờ dám công bố: tỷ lệ nợ công quốc gia vọt lên đến 237% GDP, tức đến 28 ngàn tỷ USD vào năm 2016 – theo phân tích của tờ Financial Times vào tháng 4/2016 – vượt xa tỷ lệ nợ của các nước đang phát triển khác. Tình trạng này có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính hoặc trì trệ kinh tế kéo dài ở Trung Quốc.
Tất nhiên, giới lãnh đạo Trung Quốc hoàn toàn có thể tự an ủi rằng họ có một kho dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới – lên đến 4.000 tỷ USD vào năm 2016. Chỉ có điều, con số 4.000 tỷ này chỉ bằng 1/7 so với gánh nặng nợ công 28 ngàn tỷ.
Chưa kể vào đầu năm 2017, Trung Quốc phải thừa nhận dự trữ ngoại hối của mình đã giảm mạnh từ 4.000 tỷ về dưới mốc 3.000 tỷ USD.
Gần đây, những tin tức phản biện mới nhất về thực chất nền kinh tế Trung Quốc đến từ ông Gordon G. Chang, tác giả của cuốn sách Sự sụp đổ sắp đến của Trung Quốc. Vị luật sư kiêm nhà bình luận người Mỹ này nhận định “kinh tế Trung Quốc sắp rơi tự do” trong một cuộc phỏng vấn mới đây với trang Đại Kỷ Nguyên, theo đó ông cho rằng Trung Quốc chỉ ổn định trên bề mặt trong năm 2017, nhưng tiềm ẩn bất ổn thực sự dưới bề mặt.
Hai thông tin đặc biệt mà ông Gordon G. Chang cho biết là: Trong năm 2015, luồng vốn chuyển ra nước ngoài là cao chưa từng thấy, từ 900 tỷ đến 1.000 tỷ USD; và theo nguồn tin của ông, chỉ có 500 tỷ USD trong số 3.000 tỷ USD dự trữ ngoại hối là còn có thể sử dụng được. Cũng theo ước tính của ông, Trung Quốc chỉ còn 1,5 nghìn tỷ USD tiền khả dụng để bảo vệ đồng Nhân dân tệ.
Ông Gordon G. Chang có ít nhất một cơ sở cho nhận định về tiền khả dụng chỉ chiếm một nửa so với con số dự trữ ngoại hối mà chính quyền Trung Quốc công bố: vào năm 2011, chính một cục trưởng thống kê của Trung Quốc, người sau đó đã về hưu, đã phải thừa nhận rằng nhiều thống kê của quốc gia này không phản ánh đúng sự thật. Cũng vào năm đó, con số nợ của các chính quyền địa phương ở Trung Quốc được công bố chỉ khoảng 1.550 tỷ USD, nhưng đến năm 2014 thì Trung Quốc đã phải thừa nhận loại nợ này đã tăng gấp đôi, tức 3.000 tỷ USD.
Vài nhà phân tích ở Hồng Kông cũng cho rằng GDP thực sự ở Trung Quốc không thể tăng đến 7% như báo cáo, mà chỉ khoảng 4-5% hàng năm.
Việt Nam lại rất thường “đồng tình” với Trung Quốc về phương thức tuyên truyền về các số liệu kinh tế. Vào những năm 2009 – 2010, giới lãnh đạo Việt Nam cũng “nâng” tăng trưởng GDP lên đến 9 – 9,5% như Trung Quốc, để đến gần đây phải “co” về còn 6-6,5%.
Nhưng nói gì thì nói, tình hình kinh tế và tài chính ở Việt Nam là tồi tệ hơn nhiều so với Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc có đến 3.000 tỷ USD dự trữ ngoại hối mà đã phải “gánh” 237% tỷ lệ nợ công, tỷ lệ nợ công ở Việt Nam vẫn lên đến 210% nhưng kho dự trữ ngoại hối chỉ có khoảng 40 tỷ USD theo báo cáo của Ngân hàng nhà nước (về thực chất số khả dụng trong kho dự trữ ngoại hối của Việt Nam là thấp hơn khá nhiều vì có đến 1/3 trong đó là trái phiếu chính phủ Mỹ, số còn lại không được minh bạch).
Có muốn cũng không cứu được!
Trong bối cảnh đầy nguy cơ tiềm ẩn về nợ công như thế, làm thế nào Trung Quốc có thể “cứu Việt Nam”, cho dù Bắc Kinh muốn làm điều đó vào một thời điểm nào đó?
Có một bằng chứng tương đối rõ ràng về khả năng hạn chế của Trung Quốc: vào cuối năm 2016, chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã phải quyết định chọn nhà đầu tư trong nước làm dự án đường cao tốc Vân Đồn – Móng Cái mà không vay vốn của Trung Quốc, cho dù vốn đầu tư của dự án này chỉ khoảng 300 triệu USD và đã được Bộ Giao thông Vận tải nhiệt tình “vận động” cho vụ vay mượn này.
Một chuyên gia phản biện độc lập là ông Lê Đăng Doanh đã nói toạc thực chất nguồn gốc rất đặc biệt của số vay 300 triệu USD trên: số tiền này được lấy ra từ quỹ hỗ trợ xuất khẩu của Trung Quốc, chứ không phải là hỗ trợ xuất nhập khẩu. Nghĩa là điều kiện đi kèm của khoản vay này là Việt Nam phải nhập khẩu hàng hoá của Trung Quốc.
Một thông tin khác cũng cho biết việc vay vốn từ Trung Quốc cho dự án cao tốc Vân Đồn – Móng Cái không phải là dễ dàng và cũng chẳng có ưu đãi nào, còn nếu có ưu đãi (ví dụ: không cần chính phủ Việt Nam phải bảo lãnh) thì lại gắn liền với nguy cơ thao túng về kinh tế và cả chính trị mà một số quốc gia như Campuchia và ở châu Phi đã bị Bắc Kinh “gài bẫy”. Nhiều khó khăn như thế đã khiến giới lãnh đạo Việt Nam chùn tay trong vay vốn. Thực tế này cũng dẫn đến một kết luận khác có thể rất quan trọng: chính sách của Trung Quốc cho Việt Nam vay tín dụng vẫn chưa thể mở rộng.
Dù có đồn đoán về việc Trung Quốc đã cho Việt Nam vay mượn hàng trăm tỷ đô la trong nhiều năm qua, nhưng từ sau chuyến đi Trung Quốc của ông Nguyễn Phú Trọng vào tháng 1/2017 đến nay, vẫn chưa có dấu hiệu rõ ràng nào về khả năng “Trung Quốc đổ tiền cứu Việt Nam”. Thay vào đó, dấu hiệu rõ hơn nhiều là Trung Quốc đã và đang tăng cường đầu tư vào các dự án ở Việt Nam để khống chế dự án dể từ đó mở rộng thao túng kinh tế Việt Nam lẫn chiến thuật “lấn đất”.
Trong 2 tháng đầu năm 2017, các nhà đầu tư đến từ Trung Quốc đã đăng ký thực hiện 123 dự án tại Việt Nam và 174 lượt mua cổ phần, chiếm 21,1% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, trở thành nước đầu tư lớn thứ hai vào Việt Nam, sau Singapore.
Trên bình diện quốc tế, một dấu hiệu mang tính tham khảo đang diễn ra ở phía bên kia bán cầu. Ở nơi đó, đồng minh thân cận của Trung Quốc là “Venezuela xã hội chủ nghĩa tươi đẹp” đã chìm dưới cơn sóng thần lạm phát 700% nhanh đến mức có những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc có vẻ như đang tính toán lại mối quan hệ liên minh với Venezuela – quốc gia mà nước này đã cho vay khoảng 60 tỷ đôla…
Một nguồn tin quốc tế cho biết một cơ quan Trung Quốc đã nêu quan điểm: “Các cuộc họp đã đi đến nhất trí là [Trung Quốc] sẽ không đầu tư thêm vào Venezuela”, “Có một thông điệp rõ ràng từ trên xuống: cứ để mặc họ gục ngã”. Cũng theo nguồn tin này, các công ty Trung Quốc ở Venezuela đang chuyển nhân viên sang Colombia và Panama vì lý do an ninh, và cũng vì nhiều dự án của Trung Quốc ở nước này đã bị đình trệ.
Từ nhiều năm qua, chính sách cho vay tín dụng của Trung Quốc phụ thuộc phần lớn vào mưu tính và mưu toan chính trị. Nếu chi phối được đối tượng vay, Trung Quốc mới sẵn sàng bỏ ra một số tiền lớn cho vay với lãi suất ưu đãi. Giới lãnh đạo Việt Nam nghĩ thế nào nếu ngay cả một chế độ thể được coi là “thần phục thiên triều” như chế độ Hun Sen ở Campuchia mà cũng chỉ được Trung Quốc viện trợ hơn 600 triệu USD trong năm 2015?

Việt Nam lại là “ca” khó hơn nhiều so với Campuchia. Muốn kinh tế Việt Nam tạm tránh khỏi sụp đổ, nền kinh tế nước này phải được bơm lập tức ít nhất 100 tỷ USD, tương đương 50% GDP của Việt Nam, để cứu hệ thống ngân hàng và trả một phần nợ công. Trung Quốc sẽ lấy ở đâu số tiền khổng lồ đó, cho dù Bắc Kinh có đủ tin cậy và muốn rót tài chính cho một phe nào đó ở Việt Nam?

Mafia kiểm soát tài nguyên Việt Nam

Sau khi Thủ tướng Việt Nam yêu cầu, Bộ trưởng Công an loan báo đã chỉ đạo Tổng cục Cảnh sát điều tra vụ hàng chục viên chức tỉnh Bắc Ninh bị hăm dọa vì cản trở khai thác cát.

Dự án nạo vét luồng đường thủy quốc gia (Hình: Zing.vn)

Cách nay vài ngày, Chủ tịch tỉnh Bắc Ninh công bố với báo chí văn bản đề nghị Thủ tướng Việt Nam chỉ đạo Bộ Công an Việt Nam điều tra xem những ai trong hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương đang đứng phía sau “Dự án nạo vét luồng đường thủy nội địa quốc gia kết hợp tận thu sản phẩm trên sông Cầu”.

Tuần trước, sau khi chính quyền tỉnh Bắc Ninh tiếp tục đề nghị tạm ngưng thực hiện dự án, vì việc tận thu cát khiến hữu ngạn sông Cầu bị sạt lở nghiêm trọng, hàng chục chuyên viên, lãnh đạo Sở Tài nguyên – Môi trường, kể cả Chủ tịch tỉnh bị hăm dọa.

Trong văn bản vừa kể, Chủ tịch tỉnh Bắc Ninh lập lại đề nghị: Thủ tướng Việt Nam yêu cầu Bộ Giao thông – Vận tải thẩm định lại toàn bộ “Dự án nạo vét luồng đường thủy nội địa quốc gia kết hợp tận thu sản phẩm trên sông Cầu”, xác định thiệt – hơn, lợi – hại.

Tháng 11 năm 2015, theo đề nghị của chính quyền tỉnh Bắc Ninh, chính phủ Việt Nam đã từng nêu yêu cầu đó nhưng Bộ Giao thông – Vận tải không thực hiện.

Câu chuyện vừa kể chỉ là một giọt thêm vào ly nước “khai khoáng” của Việt Nam. Chưa rõ giọt nước đó đủ làm tràn ly hay chưa?

Singapore vẫy, Việt Nam tan hoang

Trong thập niên vừa qua, bất kể các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực tại Việt Nam liên tục nhắc nhở rằng, cát không chỉ là khoáng sản hay vật liệu xây dựng mà còn là nền móng lãnh thổ, chính quyền Việt Nam vẫn làm ngơ, để mặc giới hữu trách từ trung ương đến địa phương thi nhau cấp giấy phép hoặc “thỏa thuận miệng” cho một số doanh nghiệp thi nhau khai thác cát.

Ngoài việc móc cát từ lòng sông, suối, giới hữu trách tại Việt Nam tiến thêm một bước, cho phép móc cát ở khu vực ven biển để xuất cảng dưới chiêu bài “khai thông, nạo vét luồng lạch, tận thu cát nhiễm mặn”.

Hậu quả đến ngay lập tức, sạt lở ở sông, suối, bờ biển xảy ra khắp nơi, không thể ngăn chặn. Trong vài năm gần đây, mỗi năm, riêng khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã mất năm cây số vuông mặt đất do sạt lở tại sông rạch và bờ biển. Với tốc độ sạt lở như hiên nay, sau vài thập niên nữa, Cà Mau sẽ biến mất.

Khai thác cát không chỉ khiến lãnh thổ bị thu hẹp mà còn hủy hoại tài sản và hủy diệt sinh kế của dân chúng ở những khu vực bị giới hữu trách gật đầu cho một số doanh nghiệp móc cát. Đó cũng là lý do dẫn tới hàng trăm cuộc biểu tình, một số biến thành bạo động suốt từ ngoài Bắc vào tới trong Nam.

Hồi đầu tháng này tờ Tuổi Trẻ công bố loạt bài điều tra về “khai thông, nạo vét luồng lạch, tận thu cát nhiễm mặn” để xuất cảng sang Singapore.

Từ 1960 Singapore liên tục mua cát ở khắp nơi trên thế giới để mở rộng lãnh thổ. Đến nay, diện tích lãnh thổ của Singapore đã tăng thêm 24%. Phần lớn cát giúp Singapore mở rộng lãnh thổ đến từ Việt Nam.

Theo các số liệu do Tổng cục Hải quan Việt Nam thống kê, từ 2007 đến 2016, Việt Nam đã xuất cảng 67 triệu mét khối cát.

Trong giai đoạn từ 2007 đến 2009, cát xuất cảng chủ yếu được móc từ lòng các con sông ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long với khối lượng khoảng 24 triệu mét khối.

Do bị các chuyên gia và dân chúng phản ứng kịch liệt, cuối năm 2009, chính phủ Việt Nam cấm xuất cảng cát. Đến năm 2013, Bộ Xây dựng Việt Nam tìm ra một con đường mới để tiếp tục móc cát mang đi bán: Giao cho một số doanh nghiệp tự bỏ tiền “khai thông, nạo vét luồng lạch” rồi được “tận thu, xuất cảng” cái gọi là “cát nhiễm mặn” để trang trải chi phí. Bộ Xây dựng Việt Nam gọi con đường mới này là “xã hội hóa hoạt động bảo đảm hàng hải”!

Dẫn đầu “xã hội hóa hoạt động bảo đảm hàng hải” là Bộ Quốc phòng Việt Nam với những dự án nạo vét luồng lạch tại các quân cảng. Kế đó là chính quyền 11 tỉnh ven biển: : Kiên Giang, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam, Thừa Thiên – Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh. Các chủ đầu tư bao gồm Bộ Quốc phòng và chính quyền 11 tỉnh đã trình 40 dự án, nhằm móc khoảng 250 triệu khối cát từ lòng biển để xuất cảng.

Từ 2013 đến cuối năm 2016, Việt Nam tiếp tục xuất cảng 43 triệu khối cát nhiễm mặn sang Singapore.

Sau khi Thủ tướng Việt Nam “yêu cầu chấn chỉnh” việc xuất cảng cát nhiễm mặn, trách nhiệm của Bộ Giao thông – Vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Quốc phòng, chính quyền các tỉnh trong việc moi nền của lãnh thổ mang đi bán coi như đã xong!

Hỗn loạn vì bị cả trên lẫn dưới, trong lẫn ngoài thao túng

Ngoài cát, hệ thống công quyền Việt Nam còn cho phép khai thác đủ thứ khoáng sản. Chẳng hạn titan. Trong vòng năm năm gần đây, riêng tại Bình Thuận có năm vụ hồ chứa nước tuyển quặng titan bị vỡ. Ngoài những thiệt hại như đã kể, khai thác titan tại các tỉnh phía Nam miền Trung Việt Nam (Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Định) đang kéo theo vô số hậu quả khôn lường.

(Người Việt)

CON NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG "SA MẠC HÓA" KHÔNG CHỈ 1 VÙNG ĐẤT NHƯ SAHARA MÀ CÒN "SA MẠC HÓA" TRÍ TUỆ CỦA MỘT DÂN TỘC

Có phải con người tạo ra sa mạc Sahara?

Nghiên cứu mới về sự biến đổi của sa mạc Sahara từ một vùng đất cây cối tươi tốt cách đây 10000 năm thành một vùng sa mạc với điều kiện khô cằn như hiện nay cho thấy con người có thể đã là một nhân tố gây ra quá trình sa mạc hoá.

Sahara là sa mạc lớn nhất thế giới với diện tích tương đương Hoa Kỳ và Trung Quốc nhưng chỉ có 2,5 triệu người sinh sống. Theo khảo cổ học thì sa mạc Sahara từng là một bình nguyên cỏ mọc (savanna) rồi biến thành sa mạc tùy theo lượng gió. Tuy nhiên từ khi con người có mặt và thay đổi môi trường thiên nhiên, các vùng sa mạc ngày càng lớn rộng với tốc độ nhanh chưa từng có.
Các nhà khoa học từ lâu đã cố gắng tìm hiểu các điều kiện khí hậu và sinh thái dẫn đến sự sa mạc hóa của sa mạc Sahara. Hầu hết các nghiên cứu được thực hiện cho đến nay đã cho rằng những thay đổi của quỹ đạo trái đất cũng như những thay đổi tự nhiên của thảm thực vật như là động lực chính của sự sa mạc hóa của sa mạc Sahara. Tuy nhiên, nghiên cứu mới của nhà khảo cổ học David Wright đến từ Đại học Quốc gia Seoul đã đưa ra kết luận rằng con người có thể đã đã là một nhân tố gây ra quá trình sa mạc hoá gây thách thức các giả thuyết trên.
"Ở Đông Á có những lý thuyết kinh điển về cách thức quần thể thời đồ đá mới thay đổi cảnh quan đến mức gió mùa ngừng thổi vào đất liền", Wright giải thích trong bài báo của mình rằng bằng chứng về sự thay đổi về sinh thái và khí hậu của con người đã được chứng minh ở Châu Âu , Bắc Mỹ và New Zealand. Wright tin rằng các kịch bản tương tự cũng đã có thể diễn ra ở Sahara.
Để kiểm tra giả thuyết của mình, Wright đã xem xét các bằng chứng khảo cổ ghi lại những lần xuất hiện đầu tiên của dân du mục ở khu vực Saharan và so sánh nó với những gi nhận chỉ ra sự biến mất dần của thảm thực vật như là một chỉ thị về sự biến đổi sinh thái đối theo hướng sa mạc hoá. Những phát hiện này khẳng định suy nghĩ của ông. Bắt đầu từ khoảng 8000 năm trước tại các khu vực bao quanh sông Nile, các cộng đồng du mục đã bắt đầu xuất hiện và lan rộng về phía tây đồng thời cùng lúc với sự gia tăng việc biến mất của các thảm thực vật.
Sự gia tăng nông nghiệp đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh thái của khu vực. Việc chăn thả gia súc làm giảm dần các thảm thực vật đồng thời làm tăng bề mặt đất tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, điều này dần đủ lớn để gây ảnh hưởng đến điều kiện khí quyển và đủ để giảm lượng mưa gió mùa. Gió mùa suy yếu làm cho quá trình sa mạc hóa và mất thảm thực vật trở nên trầm trọng hơn, thúc đẩy một vòng lặp phản hồi mà cuối cùng lan toả ra toàn bộ sa mạc Sahara hiện đại.
Vẫn có rất nhiều câu hỏi cần phải trả lời nhưng Wright tin rằng có rất nhiều thông tin nằm ẩn bên dưới bề mặt sa mạc: "Có nhiều hồ nước ở khắp mọi nơi trên sa mạc Sahara hiện nay và chúng sẽ có ẩn chứa các thông tin về thảm thực vật đang thay đổi. Chúng ta cần phải khoan sâu ở các hồ di tích trước đây để lấy hồ sơ khảo cổ về các thực vật, khảo sát khảo cổ và các hoạt động của con người qua các giai đoạn đó. Rất khó để mô hình hoá sự ảnh hưởng của thảm thực vật lên hệ thống khí hậu và đó là việc của các nhà khảo cổ học và sinh thái học
Mặc dù việc sa mạc hoá đã diễn ra cách đây vài ngàn năm nhưng những tác động của con người đến sự xuống cấp của môi trường và khí hậu là rất dễ nhìn thấy. Với khoảng 15% dân số thế giới hiện đang sinh sống trong các vùng sa mạc, những hệ lụy về cách chúng ta thay đổi hệ thống sinh thái có ảnh hưởng trực tiếp đến việc con người còn có thể tiếp tục sinh sống trong các vùng sa mạc hay không.

Nguồn

  • Did humans create the Sahara desert?
  • David K. Wright. Humans as Agents in the Termination of the African Humid Period. Frontiers in Earth Science, 2017; 5 DOI: 10.3389/feart.2017.00004

Bài liên quan

  • « Mới nhất
  • ‹ Mới hơn

3 + 1 lý do khiến sự kiện chính trị quan trọng nhất trong năm của TQ diễn ra "kỳ lạ"

Thủy Thu | 

3 + 1 lý do khiến sự kiện chính trị quan trọng nhất trong năm của TQ diễn ra "kỳ lạ"
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) và Thủ tướng Lý Khắc Cường chủ trì kỳ họp Lưỡng hội 2017. Ảnh: Reuters

Giới phân tích nhận định, Lưỡng hội Trung Quốc 2017 tương đối "im ắng", thậm chí có phần "kỳ lạ" so với kỳ họp 5 năm trước.

Theo giới chuyên gia, nhận định trên hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế tại Trung Quốc và hiện tượng này xuất phát ít nhất từ ba nguyên nhân.
Thứ nhất, Đại hội XVIII đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2012 đã đạt được đồng thuận về tư tưởng, xác định mục tiêu chung rõ ràng.
ĐCSTQ đã xác lập được các mục tiêu chính trị. Sau khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình lên nắm quyền đã lập tức đề xuất khái niệm "Giấc mộng Trung Hoa" - được miêu tả là "cuộc phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Quốc".
Trong đó, báo cáo Đại hội XVIII đã đề cập đến "hai mục tiêu 100 năm". Hội nghị trung ương 3 năm 2013 xác định phương án cải cách sâu rộng toàn diện.
"Không nói chuyện suông ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, nỗ lực làm việc nhằm phục hưng dân tộc" được ông Tập nhấn mạnh tại một cuộc họp báo quốc tế trong những ngày đầu nhậm chức.
3 + 1 lý do khiến sự kiện chính trị quan trọng nhất trong năm của TQ diễn ra kỳ lạ - Ảnh 1.
7 Ủy viên thường vụ Bộ chính trị Trung Quốc tham gia kỳ họp Lưỡng hội 2017. Ảnh: Reuters
Thứ hai, Trung Quốc đã xây dựng nên một trật tự chính trị ổn định mới. Tập Cận Bình được xác lập trở thành "hạt nhân lãnh đạo" mới của ĐCSTQ. Cơ chế "cửu long trị thủy" và vấn đề "chính lệnh không từ Trung Nam Hải" dưới thời cựu Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã được giải quyết.
"Cửu long trị thủy" là cơ chế lãnh đạo mà 9 Ủy viên thường vụ Bộ chính trị Trung Quốc như dưới thời ông Hồ Cẩm Đào được phân chia quyền lực tương đối đồng đều.
Mỗi người gần như trở thành "quyền lực tuyệt đối" trong hệ thống do mình quản lý.
"Chính lệnh không từ Trung Nam Hải" tức chỉ bộ phận quan chức cấp dưới nhằm đạt lợi ích riêng đã không chấp hành thực thi chính sách do trung ương chỉ thị.
Theo giới phân tích, đội ngũ quan chức địa phương trên toàn Trung Quốc đã được cải tổ đáng kể, một số khu vực, đơn vị mang dấu hiệu như "vương quốc độc lập" đã được phá bỏ.
Thứ ba, chiến dịch chống tham nhũng do ông Tập khởi xướng vẫn chưa kết thúc, hàng loạt "hổ lớn" tiếp tục bị điều tra.
Đồng thời, quyền lực của Ủy ban kiểm tra kỷ luật trung ương Trung Quốc (CCDI) - cơ quan phụ trách chống tham nhũng của đảng - ngày càng được khẳng định và nâng cao. Các quan chức Trung Quốc nói chung đều chịu sự ràng buộc về kỷ luật.
Ngoài ra, giới quan sát cũng cho rằng, nguyên nhân khiến Lưỡng hội (kỳ họp Quốc hội và Chính hiệp toàn quốc thường niên của Trung Quốc) 2017 trở nên "buồn tẻ" còn xuất phát từ một nguyên nhân sâu xa khác nếu so sánh với Lưỡng hội 5 năm trước.
Trước thềm Lưỡng hội 2012, vụ Bí thư thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai bị phanh phui hành vi tham nhũng, cùng với đó là nhiều thông tin về việc tranh giành quyền lực đã làm chấn động dư luận Trung Quốc, tạo thành hiệu ứng dây chuyền.
Trong khi hiện nay, nước Mỹ vừa trải qua cuộc bầu cử Tổng thống 2016 tốn nhiều giấy mực của báo chí, còn châu Âu đang bước vào "năm bầu cử" khi nhiều nước lớn như Pháp, Đức... có khả năng thay đổi ban lãnh đạo, nên Lưỡng hội Trung Quốc 2017 vô hình trung trở nên "tẻ nhạt", thậm chí "kỳ lạ".
"Có lẽ, biểu hiện chính trị ổn định, trầm lắng hiện nay mới là trạng thái vốn có của chính trị Trung Quốc, phù hợp với bản sắc văn hóa hướng nội của đất nước tỷ dân", Đa chiều bình luận.
theo Trí Thức Trẻ

Ba thanh niên say rượu đi xả lũ gây ngập úng cả vùng; ( Có bọn không say nhưng "dìm" trí tuệ của cả dân tộc vào "bãi lầy" thì sao?)

PLO  2 đăng lại 3 liên quan

Ba thanh niên ở Phú Yên say rượu tự ý mở van xả lũ hồ chứa nước, làm hơn 2 triệu m3 nước đổ xuống, gây ngập úng, cuốn trôi nhiều tài sản, hoa màu của người dân.
Chiều 17-3, trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Tô Phương Bắc, Phó Chủ tịch UBND huyện Sơn Hòa (Phú Yên), cho biết công an huyện này đã xác định ba thanh niên ở xã Suối Bạc, huyện Sơn Hòa tự ý mở van xả lũ của hồ chứa nước Suối Vực làm ngập úng, cuốn trôi, hư hại nhiều tài sản, hoa màu của người dân.
“Chiều nay, công an huyện báo cáo với UBND huyện đã làm rõ sự việc. Ba thanh niên say rượu vào khu vực hồ chứa nước Suối Vực, tự ý bấm nút van xả lũ làm nước chảy qua tràn, gây ngập úng. Nguyên nhân là do việc quản lý hồ chứa nước lỏng lẻo” - ông Bắc nói.
Thượng tá Nguyễn Quang Tuyên, Phó Công an huyện Sơn Hòa, cũng cho hay cơ quan này đang tiếp tục điều tra để xử lý hành vi của các thanh niên trên.
Ba thanh nien say ruou di xa lu gay ngap ung ca vung - Anh 1
Cửa xả lũ hồ chứa nước Suối Vực
Theo thông tin ban đầu, tối 14-3, ba thanh niên đồng bào dân tộc ở xã Suối Bạc trong tình trạng say rượu đi vào khu vực hồ chứa nước Suối Vực, đập phá khóa nhà vận hành, tủ điện, bật cầu dao điện, mở van xả lũ. Do đó, từ tối 14 đến sáng 15-3, một lượng lớn nước trong hồ liên tục chảy qua đập, đổ xuống các khu vực bên dưới, gây ngập úng nhiều khu vực thuộc hai xã Sơn Nguyên, Suối Bạc.
Theo ông Đặng Văn Thiện, Chủ tịch UBND xã Sơn Nguyên, trong thời gian dài, nước từ hồ Suối Vực bất ngờ đổ xuống, cuốn trôi hàng chục tấn mía, làm ngập úng, hư hại hơn 2.000 m 2 hoa màu, làm hỏng sáu máy bơm điện của người dân, bồi lấp nhiều ruộng mía.
Tại xã Suối Bạc, nước xả xuống bất ngờ cũng gây ngập úng nhiều hecta mía, hỏng nhiều máy bơm điện của người dân. Theo thống kê ban đầu của UBND huyện Sơn Hòa, nước đổ xuống ngờ từ hồ Suối Vực đã cuốn trôi 15 tấn mía đã thu hoạch, 18 máy bơm điện, ba cộ bò, một chiếc xuồng; làm hư hại gần 20 ha mía, hoa màu của người dân… ước thiệt hại hơn 300 triệu đồng. Theo ông Bắc, hiện chính quyền các địa phương này đang tiếp tục thống kê, xác minh thiệt hại để có hướng xử lý.
Ba thanh nien say ruou di xa lu gay ngap ung ca vung - Anh 2
Một góc hồ chứa nước Suối Vực
Trong khi đó, giải thích với Pháp Luật TP.HCM về việc để các thanh niên say rượu tự đi vào khu vực hồ, mở van xả lũ, ông Trần Tiến Anh, Giám đốc Công ty TNHH MTV Thủy nông Đồng Cam - đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa nước Suối Vực, cho rằng do nhà quản lý cách tháp điều hành hồ chứa nước 800 m nên các công trực không thể phát hiện sớm sự việc.
Ông Anh cũng thừa nhận thời điểm xảy ra sự việc có bốn công nhân của công ty đang trực tại nhà quản lý hồ chứa nước. “Sau khi phát hiện van xả nước bị mở, các công nhân phải nhờ người dân hỗ trợ, mất mấy tiếng đồng hồ mới đóng lại được nên nước chảy ra ngoài nhiều” - ông Anh nói.
Theo ghi nhận của cơ quan chức năng, cửa tủ điện vận hành đã bị đập phá, các nút vận hành đều bị mở. Các thanh niên trên đã mở tối đa tại cửa tràn xả lũ số 1. Ngoài ra, dây cáp cửa tràn phía sát sườn núi đã bị đứt khiến nước trong hồ qua cửa tràn chảy mạnh ra ngoài, đổ xuống ruộng của người dân. Theo Công ty TNHH MTV Thủy nông Đồng Cam, hơn 2 triệu m 3 nước đã chảy ra ngoài do bị mở van xả lũ.
Được biết hồ chứa nước Suối Vực có dung tích chứa hơn 10,5 triệu m 3 nước, cung cấp nước tưới cho gần 800 ha lúa, mía, hoa màu và cấp nước sinh hoạt cho hai xã Suối Bạc, Sơn Nguyên. Hồ được xây dựng với kinh phí hơn 278 tỉ đồng, đưa vào sử dụng từ cuối năm 2015.

TPHCM: Học sinh xúc động tưởng niệm sự kiện Gạc Ma

Dân trí Hôm nay 14/3, hơn 500 thầy trò trường THPT Nhân Việt (TPHCM) tổ chức lễ tưởng niệm 29 năm sự kiện Gạc Ma (1988 - 2017). Đây là năm thứ 2 trường này tổ chức lễ tưởng niệm thông qua đó tuyên truyền, hưởng ứng các hoạt động hướng về biển đảo.

Hơn 500 thầy trò trường THPT Nhân Việt (TPHCM) đã dành phút mặc niệm tưởng nhớ các chiến sĩ hi sinh trong trận chiến Gạc Ma
Hơn 500 thầy trò trường THPT Nhân Việt (TPHCM) đã dành phút mặc niệm tưởng nhớ các chiến sĩ hi sinh trong trận chiến Gạc Ma
Buổi lễ diễn ra trang nghiêm và xúc động khi thầy trò nhà trường đều mang trên mình đồng phục hải quân. Tại buổi lễ, thầy Bùi Gia Hiếu - Hiệu trưởng nhà trường dành thời gian ôn lại lịch sử ngày diễn ra trận chiến Gạc Ma oanh liệt cách đây 29 năm, khi 64 chiến sĩ hải quân đã anh dũng hy sinh để bảo vệ biển đảo.
Học sinh trường mặc đồng phục thiết kế cách tân từ trang phục của chiến sĩ Hải quân
Học sinh trường mặc đồng phục thiết kế cách tân từ trang phục của chiến sĩ Hải quân
Kết thúc bài nói chuyện, ông Hiếu nhắn nhủ các học trò rằng, biển đảo quê hương chất chứa những đau thương mất mát, những hy sinh và cả những bài ca tự hào.
Thầy Bùi Gia Hiếu - Hiệu trưởng trường ôn lại sự kiện trận chiến Gạc Ma với sự hy sinh của 64 chiến sĩ
Thầy Bùi Gia Hiếu - Hiệu trưởng trường ôn lại sự kiện trận chiến Gạc Ma với sự hy sinh của 64 chiến sĩ
Tiếp sau đó, học sinh của trường đã biểu diễn tiết mục văn nghệ Gạc Ma trong tim ta - tái hiện buổi sáng 14/3/1988, Trung úy Trần Văn Phương cùng các chiến sĩ đứng thành vòng tròn quanh lá cờ Tổ quốc giữa đảo Gạc Ma - Trường Sa. Các chiến sĩ đã anh dũng kiên cường bám trụ, bảo vệ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Học sinh chăm chú lắng nghe về lịch sử bảo vệ biển đảo Tổ quốc
Học sinh chăm chú lắng nghe về lịch sử bảo vệ biển đảo Tổ quốc
Bạn Nguyễn Thị Thùy Linh lớp 12A (Gạc Ma) chia sẻ rằng buổi tưởng niệm rất ý nghĩa và giúp cho các học sinh nhiều bài học về tình yêu đất nước. “Thông qua những bài nói chuyện của thầy hiệu trưởng, tiết mục văn nghệ và những bộ phim tư liệu giúp em hiểu rõ hơn về quá trình bảo vệ biển đảo của nhân dân ta", Thuỳ Linh nói.
Tiết mục văn nghệ do học sinh trường biểu diễn tái diễn lại trận chiến Gạc Ma oanh liệt cách đây 29 năm
Tiết mục văn nghệ do học sinh trường biểu diễn tái diễn lại trận chiến Gạc Ma oanh liệt cách đây 29 năm
Đây là năm thứ hai trường tổ chức hoạt động tưởng nhớ các chiến sĩ đã hy sinh trong trận chiến Gạc Ma. Bên cạnh các hoạt động tưởng niệm, các lớp học của trường được đặt tên theo đảo Việt Nam như Song Tử Tây, Sinh Tồn, Cô Tô... để nhắc nhở học sinh về tình yêu biển đảo Tổ quốc.
Lê Phương

Vì sao người Việt Nam ai cũng yêu thích “Tam Quốc diễn nghĩa”?

 Chung quy chỉ ở 1 chữ mà thôi!

Trung Quốc có rất nhiều tiểu thuyết lịch sử, thậm chí có người nói còn miêu tả rằng “mênh mông như biển cả”. Nhưng cho tới bây giờ, không có bộ tiểu thuyết nào ăn sâu vào lòng người giống như “Tam Quốc diễn nghĩa”. 
Vậy chủ đề của “Tam Quốc diễn nghĩa” là gì? Vì sao lại được nhiều người, nhiều đời lưu truyền nhau như vậy? Người già ngày xưa thường hay ngồi và lấy “ Tam Quốc diễn nghĩa” ra đàm luận, khen ngợi tình anh em kết nghĩa của “Lưu – Quan – Trương” (Lưu Bị – Quan Vũ – Trương Phi).
Điều khiến “Tam Quốc diễn nghĩa” trường tồn theo năm tháng
Vậy rốt cuộc “Tam Quốc diễn nghĩa” vì điều gì mà được lưu truyền từ thời đại này qua thời đại khác lâu như vậy? Chẳng lẽ chỉ vẻn vẹn là vì những cuộc “đấu trí, so dũng” thôi sao? Hay là vì điều gì thâm thuý ẩn giấu bên trong tác phẩm này?

Kỳ thực, tác giả La Quán Trung đã nói rõ chủ đề của tác phẩm. Chính là dùng lịch sử của ba quốc gia để diễn giải về chữ “nghĩa” của con người làm chủ đề chính. Và những nhân vật, anh hùng, minh chúa, các vị quân sư tài năng, thảy đều là các “diễn viên” xuất sắc cho một kịch bản lớn này.
Những người có một chút am hiểu về văn hóa truyền thống đều biết, tư tưởng chính yếu của Nho gia xuyên suốt hơn 2.000 năm chính là “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Trong đó, “Nghĩa” đứng ở vị trí thứ hai, xếp trước “Lễ, Trí, Tín” và ngay sau chữ “Nhân”.
Bởi vì “Nhân” là loại cảnh giới thuần thiện, phàm đã là con người thì điều đầu tiên phải có chính là có “lòng nhân”, phải là một “con người” trước đã. Cũng chính là điểm khác biệt lớn nhất giữa con người và các loài động vật, các loại thực vật hữu cơ – vô cơ trên thế gian này. Nếu mất đi chữ “nhân” (nhân từ, nhân ái, nhân văn, nhân đạo, nhân hoà, nhân chi sơ tính bản thiện…) thì con người ấy, chỉ còn lại chữ con, và mất đi chữ người (nhân). Khổng Tử lúc về già mới thực sự hiểu rõ được nội hàm của chữ “Nhân”. Còn “Nghĩa”, “Lễ”, “Trí”, “Tín” là một loại nguyên tắc làm người ngay sau đó, thì con người lại càng dễ dàng bỏ qua mà rời xa.
“Tam Quốc diễn nghĩa” là thông qua chính trị, quân sự, và sự kết giao giữa ba nước Ngụy, Thục, Ngô để diễn giải sâu hơn về nội hàm thâm tầng của chữ “Nghĩa”, nếu chỉ nói “nghĩa” là gì mà không đưa ra dẫn chứng cụ thể, thì đó chỉ là lý thuyết và không thể nào khiến con người có thể “thấm” được cái tinh thần thâm sâu của nó, chính vì vậy thời Tam Quốc các anh hùng phải đảm nhận vai trò này, diễn một màn kịch hoành tráng, diễn thật sâu, thật ấn tượng, thật tài tình để tạo thành một bản thiên anh hùng ca, lưu truyền muôn thủa.
Quan Vũ được Tào Tháo tha mạng cho ông một lần, suốt đời ông không quên, chính vì Tào Tháo quý trọng anh tài, kính nể người anh hùng, đó cũng là thứ mà Quan Vũ xem trọng nhất, là tình cảm thực sự Tào Tháo dành cho ông. Vì vậy, trên con đường Hoa Dung năm ấy, nếu cần, Quan Vũ có thể chết theo quân lệnh để giữ trọng chữ Nghĩa của mình. Quan Vũ đã đem nội hàm của chữ “Nghĩa” suy diễn đến cực hạn.
Có thể nói, “Tam Quốc diễn nghĩa” sở dĩ có thể trường tồn mãi trong lịch sử, trường thịnh không suy chính là bởi vì chủ đề chữ “Nghĩa” cao thượng này.
“Trí, mưu” ở sau chữ “Nghĩa”
Người hiện đại chúng ta chú trọng chính là mưu kế của thời Tam Quốc. Thậm chí họ đem cả mưu kế này áp dụng ở chốn quan trường, thương trường và cả tình trường, họ không hề cảm nhận được nội hàm của chữ “Nghĩa”. Điều này thực sự là đáng tiếc, chính là “bỏ gốc lấy ngọn”, không phân biệt được đâu là chính yếu, đâu là thứ yếu!
Kỳ thực, dưới ngòi bút của La Quán Trung, “Trí và mưu” là phạm trù nằm trong “Nghĩa”, “Nghĩa” bao hàm cả “Trí và mưu”. Con người trước tiên phải có “Nghĩa” sau đó mới có tất cả những thứ khác. Nếu không “Trí và mưu” kia chỉ là để làm hại người, đạt được những mục đích tư lợi cá nhân, sự ích kỷ hẹp hòi… thì làm sao có thể toát lên cái vĩ đại, cái hào quang chói lọi của một chữ “Nghĩa” mà các bậc anh hùng đời đời truyền tụng và xem trọng đến vậy?
Cũng như, phải có một Gia Cát Lượng “cúc cung tận tụy đến chết mới thôi”, rồi sau mới có một Gia Cát Lượng “mưu trí”. Nói cách khác, nếu như không gặp được minh quân “trung nhân ái quốc”, Gia Cát Lượng thà rằng chết già ở lều cỏ chứ không nguyện ý đặt chân vào chốn quan trường hỗn loạn, vì vốn dĩ ông không phải là một người bình thường, mà là một người “siêu thường” với trí tuệ như biển cả của một người tu Đạo chân chính, ẩn cư nơi rừng già, ngẫm nhìn thế sự đổi dời mà trong lòng an nhiên tĩnh tại. Đây cũng chính là điểm đáng quý nhất của Gia Cát Lượng, đồng thời cũng chính là điểm mà người hiện đại coi trọng ‘mưu kế’, bỏ qua đạo đức lễ nghĩa truyền thống không cách nào hiểu được.
“Thánh nhân đãi kẻ khù khờ”, vì Lưu Bị không hề có tư tâm, chỉ có một tấm lòng chân thành chân chất muốn phục hưng Hán thất trong thời loạn thế, nên mặc dù chỉ là gã bán giày ngoài chợ, nhưng dần dần ông lại được các anh hùng theo nhau kéo về,…. từ 2 anh em Trương Phi – Quan Vũ ngoài chợ, cho đến nhân tài kiệt xuất ngàn năm khó kiếm như Gia Cát Khổng Minh cũng phải “hạ sơn” để cùng ông mưu đồ nghiệp lớn. Trải qua một cuộc bể dâu, cuối cùng anh chàng bán giày đó đã đăng cơ lên ngôi Hoàng đế, hùng bá một phương trời, nhưng trong lòng người anh hùng ấy, cũng không bao giờ vì địa vị tiền tài che mờ đi ý chí thống nhất Trung Hoa, để muôn dân trăm họ được sống trong cảnh thái bình, nhân nghĩa trải dài ngàn năm…
Có người thậm chí nói, Gia Cát Lượng nếu theo Tào Tháo thì đã sớm giúp Tào Tháo hoàn thành việc thống nhất thiên hạ. Người “trọng danh lợi, khinh nghĩa” sao có thể hiểu được lựa chọn này của ông? Nếu như “Tam Quốc diễn nghĩa” chỉ đơn thuần là thể hiện mưu kế sách lược thì thực sự sẽ rất nông cạn, chỉ có thể được xem là một bộ tiểu thuyết binh pháp bình thường mà thôi, không thể là một trong tứ đại danh tác Trung Hoa được.
Kỳ thực, “Tam Quốc diễn nghĩa” là xuyên suốt nội hàm cao siêu của tiêu chuẩn đạo đức, luân lý truyền thống. Nó vượt xa khỏi phạm trù như lời nói “từ trên xuống dưới đều là tranh đoạt lợi” của Mạnh Tử. Nó là một loại cảnh giới vô tư, không vụ lợi và được gọi là “Nghĩa”.
“Tam Quốc diễn nghĩa” ngoài chủ đề diễn giải về chữ “Nghĩa” ra còn có đạo lý “Nhân quả báo ứng”, “Thuận theo tự nhiên”, “Người tính không bằng trời tính”… đó đều là những nguyên lý bao dung của đất trời, thấm nhuần vạn sự vạn vật trên thế gian, đem lại sự công bằng, vô tư và hoà ái khắp muôn nơi.
Xét một cách tột cùng, thì lịch sử truyền thống không phải dạy con người ta lừa gạt, càng không phải là dạy người ta mưu tính như thế nào, mà chính là dạy người ta cách để trở thành một người tốt, được mọi người tôn kính. Bởi vì nắm chắc được điểm này cho nên “Tam Quốc diễn nghĩa” mới có thể “trường thịnh không suy”, đi sâu vào lòng người và được lưu truyền qua nhiều thời đại như vậy!
Theo  Secretchina
Mai Trà biên dịch
Ánh Trăng hiệu đính
Xem thêm: