Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

TRANG SỬ THEO THỰC ĐƠN KHMER ĐỎ VÀ MẠCH SỐNG TRUNG QUỐC

15 Tháng Bảy 20175:35 CH(Xem: 846)

Tưởng niệm hai triệu vong linh
đã chết trong thời kỳ Khmer Đỏ


Lời Dẫn: "History à la carte", là một thuật ngữ rất mới của Chương Lập Phàm/ Zhang Lifan một sử gia Trung Quốc, khi trả lời phỏng vấn báo New York Times [March, 2015], ông đã đưa ra một ví von: "lịch sử theo thực đơn / history à la carte", theo cái nghĩa nhà nước Trung Quốc chỉ muốn phổ biến tuyên truyền những điều thấy có lợi, trong khi cố né tránh những khía cạnh tiêu cực có thể gây chỉ trích. Mối liên hệ thắm thiết giữa Bắc Kinh và Khmer Đỏ đang là trang khuyết sử, không có trong thực đơn của Trung Quốc. (1)   

NGÔ THẾ VINH


"Không có trợ giúp của Trung Quốc, chế độ Khmer Đỏ không thể tồn tại quá một tuần lễ. Without China's assistance, Khmer Rouge regime would not last a week" Andrew Mertha, Cornell University 2014. (2)

"Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc không có liên hệ chính trị nào với Khmer Đỏ. Sự trợ giúp chỉ giới hạn trong việc cung cấp thực phẩm và nông cụ." Trương Kim Phong/ Zhang Jinfeng, đại xứ TQ tại Cambodia, 2010. (1)

*
      Dân số Cambodia 2017 hơn 16 triệu, tăng rất nhanh hơn gấp đôi so với năm 1975 chỉ có hơn 7.5 triệu, hơn 90% theo Đạo Phật Nguyên Thuỷ hay Phật giáo Nam Tông / Theravada Buddhism được coi như quốc giáo của Cambodia. Các sắc tộc thiểu số chính bao gồm: người Việt, người Chăm, người Hoa.

CHÂU ĐẠT QUAN, VÀ CHÂN LẠP PHONG THỔ KÝ
       Vào cuối thế kỷ 13, triều đại nhà Nguyên / Yuan một người Tàu tên Châu Đạt Quan / Chou Ta-Kuan周达观 gốc Ôn Châu / Wenzhou tỉnh Phúc Kiến, nhà hải hành Trung Hoa, đã du hành từ Biển Đông rồi theo sông Mekong lên tới Biển Hồ tới thăm Angkor (1296) vào thời vua Indravarman III, lưu lại đó gần một năm (1297). Châu Đạt Quan không phải là người Tàu đầu tiên tới xứ Chùa Tháp, nhưng ông được biết tới do cuốn hồi ký kỳ thú Chân Lạp Phong Thổ Ký 真臘風土記, viết về địa lý nhân văn nước Chân Lạp tức Cambodia ngày nay; cuốn sách sau đó được dịch sang tiếng Pháp [Mémoires Mémoires sur les Coutumes du Cambodge], tiếng Anh [The Customs of Cambodia], tiếng Đức [Sitten in Kambodscha], và tiếng Việt của ký giả Lê Hương, do Kỷ Nguyên Mới xuất bản 1973. 

hinh 1-ntv-7-2017

Hình 1: từ trái, Chân Lạp Phong Thổ Ký, bản tiếng Việt của Lê Hương, Saigon 1973; Mémoires sur les Coutumes du Cambodge, bản tiếng Pháp của Paul Pellot, Hà Nội 1902; The Customs of Cambodia, bản tiếng Anh 1993; Sitten in Kambodscha, bản tiếng Đức 1999; [nguồn: internet]   

      Học giả Tây phương như Peter Harris, người có công dịch từ nguyên bản tiếng Hán sang tiếng Anh đã đối chiếu chuyến du hành thám hiểm của Marco Polo và Châu Đạt Quan trong cùng thời kỳ này. 

      Có lẽ người Tàu đã có mặt trên xứ Chùa Tháp sớm hơn nhiều. Trường hợp Châu Đạt Quan cũng giống như Henri Mouhot sau này, tuy Mouhot (1826-1961) không phải là người Tây Phương đầu tiên tới Angkor nhưng do những trang bút ký hấp dẫn và lôi cuốn được in ra 3 năm sau khi ông mất khiến tên tuổi Mouhot đã gắn liền với khu đền đài Angkor. 

NGƯỜI TÀU TRÊN ĐẤT MIÊN
      Do người Tàu hầu như đã có mặt khắp nơi trên thế giới, nên mới có câu tục ngữ ví von: “Ở đâu có khói, thì ở đó có người Tàu! Where there's smoke, there's Chinese 

[Bước sang thế kỷ 21, câu ví von trên mang thêm một ý nghĩa khác: “Ở đâu có khói, thì ở đó có Tàu! Where there's smoke, there's China” theo cái nghĩa, nơi nào có Tàu nơi đó có ô nhiễm, vì Trung Quốc là quốc gia hàng năm thải ra 9.7 tỉ tấn khí CO2, chiếm 1/4 tổng lượng khí thải nhà kính / greenhouse gases toàn cầu, nhiều hơn của cả hai nước kỹ nghệ Mỹ và Ấn Độ cộng lại].

      Vào khoảng cuối thế kỷ 17, đời nhà Thanh do những biến động chính trị ở Hoa lục với phong trào Bài Mãn Phục Minhnên đã có đông đảo những cộng đồng người Hoa di cư xuống các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Cambodia, Lào, Thái. Họ có gốc gác từ các tỉnh duyên hải phía đông nam Trung Quốc như Hải Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến, mà người Khmer gọi một tên chung là Cambodia's Hua Chiao hay người Hoa hải ngoại / Overseas Chinese. Đặc điểm của đám di dân này đa số là đàn ông, và qua những cuộc hôn nhân hợp chủng, họ mau chóng hội nhập vào các cộng đồng cư dân bản địa.

       Không ít các cấp lãnh đạo xứ Chùa Tháp đều ít nhiều có mang huyết thống Hán tộc bước sang thế hệ thứ hai thứ ba như Lol Nol [ông ngoại là người Hoa gốc Phúc Kiến/ Fujian], Ieng Sary [sinh đẻ ở Trà Vinh, nam Việt Nam, mẹ gốc Hoa], Khieu Samphan [cũng có gốc Hoa từ bà ngoại], Nuon Chea [có cha người Hoa và mẹ người Khmer lai Hoa], Pol Pot [có cha là người Khmer gốc Hoa và Saloth Sar là một tên khác của Pol Pot, Sar có nghĩa là trắng trong ngôn ngữ Khmer, để phân biệt với nước da rất sậm của người Khmer thuần chủng]...
     
      Sau thời kỳ Khmer Đỏ, trong những năm gần đây, đã lại có thêm những đợt người Tàu từ Hoa Lục, Đài Loan, Mã Lai di cư vào Cambodia tìm cơ hội làm ăn lập nghiệp.  

      Người Tàu có khả năng thích nghi cao, họ tới các thành phố nhưng cũng có mặt cả những vùng thôn quê hẻo lánh. Và điều ai cũng nhận thấy là các cộng đồng người Hoa dễ dàng được đón nhận và họ không có khó khăn để hoà nhập vào xã hội người Miên. Do có tài buôn bán và cần cù chịu khó lại đoàn kết nên họ nhanh chóng trở thành những doanh nhân thế lực khống chế nền thương mại kinh tế và cả có nhiều ảnh hưởng chính trị trên quốc gia này.

      Rất khác với người Việt cho dù đã trải qua nhiều thế hệ, sinh đẻ trên đất Miên nhưng họ vẫn luôn luôn bị kỳ thị do mối thù hận lịch sử và bị người Khmer gọi một cách bỉ thử là bọn "Yuon / bọn bắc", và cả với cộng đồng người Chăm theo đạo Islam cũng bị người Khmer nghi kỵ vì bị coi như hợp tác với người Việt trong quá khứ như một lực lượng kìm kẹp. Người Việt và người Chăm sống trên đất Miên là hai cộng đồng thiểu số bị sát hại nhiều nhất qua chính sách tẩy sạch chủng tộc / ethnic cleansing trong thời kỳ Khmer Đỏ.  

     Không có con số chính xác về số người Tàu hiện sống ở xứ Chùa Tháp, con số 500 000 vẫn được xem là quá thấp, vì số đông người Miên gốc Hoa / Chinese Cambodian đã được coi như người Miên không nằm trong con số thống kê này.  

KHMER ĐỎ VÀ CHINA CONNECTIONS
      700 năm sau chuyến du hành thăm xứ Chùa Tháp của Châu Đạt Quan, mối liên hệ giữa Cambodia và Trung Quốc là một chặng đường lịch sử rất gập ghềnh và phức tạp. Nếu lấy dấu mốc kể từ ngày Pháp trao trả độc lập cho Cambodia (1953), thì dù với thể chế nào, từ thời ông Hoàng Sihanouk tới Lon Nol, rồi Pol Pot hay Hun Sen; mối liên hệ song phương giữa Bắc Kinh và Phnom Penh luôn luôn có một mẫu số chung: đó là "chính sách đối trọng" của Bắc Kinh đối với Việt Nam, làm sao giảm thiểu ảnh hưởng của Việt Nam trên quốc gia láng giềng này. Cho dù cả Bắc Kinh và Hà Nội vẫn rêu rao mối quan hệ khăng khít "môi hở răng lạnh" giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc với khẩu hiệu "bốn tốt và 16 chữ vàng" nhưng Bắc Kinh thì luôn luôn theo đuổi một chiến lược nhất quán và giấu mặt cốt sao làm suy yếu Việt Nam đưa quốc gia này vào vòng lệ thuộc. Cũng phải kể tới "một cuộc chiến môi sinh" không tuyên chiến của Bắc Kinh, huỷ hoại con sông Mekong cũng là huỷ hoại Đồng Bằng Sông Cửu Long, là vựa lúa cũng là nguồn sống của Việt Nam.

      Rất sớm, cấp lãnh đạo Khmer Đỏ đã được Chủ tịch Mao Trạch Đông tiếp đón tại Bắc Kinh và ca ngợi. Tháng 9, 1977 Pol Pot lại sang viếng thăm Trung Quốc và được Hoa Quốc Phong, người kế thừa Mao Trạch Đông tiếp đón trọng hậu. Pol Pot khẳng định, "Đối với Cambodia, sự giúp đỡ quý báu nhất của Trung Quốc là tư tưởng Mao Trạch Đông".

hinh 2-ntv-7-2017

Hình 2: Chủ tịch Mao Trạch Đông tiếp đón cấp lãnh đạo Khmer Đỏ tại Bắc Kinh, từ trái: Mao Trạch Đông, Pol Pot và Ieng Sary. Khmer Đỏ rập khuôn theo Mao, được hậu thuẫn và viện trợ tối đa của Bắc Kinh, đã tiến chiếm Nam Vang 17.04.1975 khởi đầu một chế độ diệt chủng với 2 triệu người chết, trong đó không ít nạn nhân là người Việt, người Chăm Islam trong khoảng thời gian từ 1975-1979. [nguồn: photo AFP]

      Vẫn còn đó những trang sử chưa được soi sáng: mức độ liên hệ giữa Trung Quốc với chế độ diệt chủng Khmer Đỏ. Cho đến nay, đối với Trung Quốc đó vẫn là điều cấm kỵ / taboo, một hộp đen / black box mà Bắc Kinh tránh nhắc tới và muốn mọi người lãng quên.

      Và cũng không ngạc nhiên để hiểu tại sao, trong bao nhiêu năm, Bắc Kinh luôn luôn chống đối việc đưa ra các lãnh tụ Khmer Đỏ ra xét xử chính vì mối e ngại những điều sẽ được phanh phui trước toà. Những sự thật ấy nếu được phô bày ra trước thế giới, đó là một hổ thẹn về thể diện quốc gia / national embarassment cho nhà nước Trung Quốc.

      Khi được hỏi và phải lên tiếng thì các viên chức Trung Quốc hoặc tìm cách phủ nhận hoặc cố giảm thiểu tầm quan trọng của mối liên hệ này. Zhang Jinfeng / Trương Kim Phong đại sứ Trung Quốc tại Cambodia, năm 2010 đã tuyên bố: "Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc không có liên hệ chính trị nào với Khmer Đỏ. Sự trợ giúp nếu có chỉ giới hạn trong việc cung cấp thực phẩm, và nông cụ như lưỡi cào, liềm hái."

       Nhưng theo Youk Chhang người sống sót sau Khmer Đỏ, hiện là Giám đốc Trung Tâm Tài liệu Cambodia / Documentation Center of Cambodia thì sự thật không phải như vậy. Theo hồ sơ lưu trữ và những lời khai của các cựu viên chức Khmer Đỏ thì "Cố vấn Trung Quốc có mặt cả với đám cai tù / prison guards lên tới cấp lãnh đạo cao nhất của Khmer Đỏ; và Trung Quốc chưa bao giờ chịu thừa nhận hoặc xin lỗi cho sự kiện này." (1) 

      Theo sử gia Milton Osborne thì phần tham dự dính líu của Trung Quốc với Khmer Đỏ có tầm mức sâu rộng và quan trọng hơn rất nhiều. Từ trước và sau 1975, Khmer Đỏ đã được Trung Quốc trực tiếp hỗ trợ trên mọi phương diện.
     
      Theo Andrew Mertha, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Trung Quốc và Á châu Thái Bình Dương / China and Asia Pacific Studies Program tại Đại học Cornell, cũng là tác giả cuốn sách Brothers in Arms; Chinese Aid to the Khmer Rouge 1975-1979,thì chính Trung Quốc đã cung cấp 90% viện trợ cho Khmer Đỏ: từ lương thực, các thiết bị xây dựng tới trọng pháo, xe tăng và cả máy bay. Cho dù biết Khmer Đỏ đang tàn sát chính nhân dân Cambodia nhưng đám cố vấn quân sự và các kỹ sư Trung Quốc vẫn cứ tiếp tục trợ giúp cho những người bạn đồng minh cộng sản của họ. Andrew Mertha khẳng định: "Không có trợ giúp của Trung Quốc, Khmer Đỏ không thể tồn tại quá một tuần lễ." (2)

     Giới nghiên cứu cho rằng ít nhất có tới hàng chục ngàn cố vấn Trung Quốc được mệnh danh là "chuyên viên kỹ thuật" hiện diện kín đáo từ cấp lãnh đạo cao nhất của Khmer Đỏ xuống tới hạ tầng, cùng với viện trợ quân sự với đủ loại súng đạn vũ khí và cả huấn luyện. Trung Quốc còn giúp Khmer Đỏ xây dựng đường xá, cầu cống, đường sắt, nhà máy lọc dầu kể cả một phi trường lớn nơi tỉnh Kampong Chhnang cách thủ đô Nam Vang hơn 90 km, với đường bay dài 2.4 km; tới cuối năm 1978 các công trình này gần như hoàn tất. Có giả thiết cho rằng, phi đạo ấy có thể sẽ được Trung Quốc sử dụng như điểm xuất phát cho các máy bay quân sự ném bom oanh kích các tỉnh phía nam Việt Nam khi có chiến tranh. [Hình 4]

hinh 3-ntv-7-2017

Hình 3: Bộ trưởng Quốc Phòng Khmer Đỏ Son Sen (giữa), đứng bao quanh bởi các cố vấn Trung Quốc 1977 [nguồn: Trung tâm Tài liệu Cambodia].      

      Có lẽ Hà Nội thấy trước được nguy cơ cận kề đó, lại bị quân Khmer Đỏ đồng loạt tấn công các tỉnh biên giới phía tây, nên tháng 12 năm 1978, hơn 100,000 quân đội cộng sản Việt Nam đã tràn qua Cambodia lật đổ chế độ Pol Pot và lập nên một chính phủ Phnom Penh ban đầu thân Việt Nam. Và để cứu chế độ Khmer Đỏ khỏi hoàn toàn sụp đổ, Trung Quốc cũng đã mở ngay các cuộc Chiến tranh Biên giới 1979 phía bắc Việt Nam như một áp lực trả đũa mà Đặng Tiểu Bình đã giận dữ gọi"Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam một bài học".

       Những trang sử về mối liên hệ của Trung Quốc và chế độ Khmer Đỏ diệt chủng đã và đang bị kiểm duyệt, không chỉ bởi Bắc Kinh mà nơi chính quốc gia nạn nhân do những lợi lộc nhỏ nhặt trước mắt. Cho dù đó là chặng đường lịch sử đẫm máu và đen tối nhất của quốc gia Cambodia trong Thế kỷ XX nhưng vẫn không được soi sáng. 
hinh 4-ntv-7-2017
Hình 4: Phi trường nơi tỉnh Kampong Chhnang cách Nam Vang hơn 90 km của Khmer Đỏ do hàng trăm kỹ sư Trung Quốc giúp xây, với phi đạo dài 2.4 km, nhân công là hàng chục ngàn tù nhân khổ sai và phần lớn đã bỏ mạng nơi công trường này. [nguồn: Nikkei Asian Review, August 21, 2015].


hinh 5-ntv-7-2017
     
Hình 5: Cán bộ Khmer Đỏ Um Sarun đứng giữa, cùng với các cố vấn quân sự Trung Quốc, đám cố vấn TQ cũng mặc pyjama đen cổ quấn khăn rằn và hiện diện rất kín đáo [nguồn: Trung tâm Tài liệu Cambodia]

      Ngay chính Hun Sen, ở cương vị Thủ tướng Cambodia cho dù không thể công khai ngăn cản việc đem ra xét xử các tội phạm Khmer Đỏ, nhưng ông vẫn đưa ra lời cảnh báo như một hăm doạ rằng: "nếu để việc điều tra và xét xử Khmer Đỏ đi quá xa, Cambodia sẽ có nguy cơ nội chiến." Trong khi đó thì Om Mak, một người dân tỉnh Banteay Meanchey thì cho rằng lo ngại của ông Hun Sen là không có cơ sở, ông ta nhận xét: "Tôi không nghĩ rằng việc mở rộng điều tra tội ác Khmer Đỏ sẽ khơi mào cho chiến tranh. Không ai trốn trong rừng cả, cũng không ai có đủ võ trang để gây bất ổn cho đất nước."
      Cũng dễ hiểu khi biết Hun Sen có gốc gác từ Khmer Đỏ, sau đó mới đào ngũ sang Việt Nam năm 1977, ban đầu thân Việt Nam nhưng nay thì đang chọn đi vào quỹ đạo Trung Quốc.  
     
      LỊCH SỬ THEO THỰC ĐƠN
      Chương Lập Phàm / Zhang Lifan một học giả cũng là sử gia Trung Quốc, khi trả lời phỏng vấn của New York Times [March, 2015] đã đưa ra một thuật ngữ ví von: "lịch sử theo thực đơn / history à la carte", theo cái nghĩa nhà nước Trung Quốc chỉ muốn phổ biến tuyên truyền những điều thấy có lợi, trong khi cố né tránh những khía cạnh tiêu cực có thể gây chỉ trích. (1)

      Câu chuyện kể lại, khi có đoàn du khách tới thăm Viện Bảo Tàng Diệt Chủng Tuol Sleng ở thủ đô Nam Vang [Hình 6,7], trước tiên viên hướng dẫn du lịch hỏi có ai trong đoàn tới từ Trung Quốc không, không có ai lên tiếng hoặc giơ tay, khi ấy anh ta mới yên tâm thuyết trình về cuộc chiến diệt chủng của Khmer Đỏ từ 1975 với 2 triệu người chết và trong đó có vai trò của Trung Quốc.

      Sau này, anh ta giải thích thêm là nếu có người Tàu trong đoàn du khách thì "Họ sẽ rất giận dữ khi nghe tôi nói Pol Pot được Trung Quốc trợ giúp nên mới giết được nhiều người đến như vậy." Và họ đáp trả là "Điều đó không có thật, hơn nữa bây giờ chúng ta là bạn, không nhắc về quá khứ nữa." (1)


hinh 6-ntv-7-2017

Hình 6: Cổng vào Viện Bảo Tàng Diệt Chủng Toul Sleng, còn có tên S-21 [trái]; tượng Pol Pot trên nền nhà trong Viện Bảo Tàng [phải] với trên tường là vô số hình ảnh đen trắng do Khmer Đỏ chụp các nạn nhân bị tra tấn và thảm sát nơi đây. [photo by Ngô Thế Vinh]
 hinh 7-ntv-7-2017
Hình 7: Bản đồ đất nước Cambodia thời kỳ Khmer Đỏ được ghép bằng những sọ người với Biển Hồ và con sông máu Tonle Sap. [photo by Ngô Thế Vinh].

hinh 8-ntv-7-2017 
Hình 8: Brothers in Arms; Chinese Aid to the Khmer Rouge 1975-1979. Andrew Mertha. Cornell University Press, February 2014.(2)

      Chuẩn bị kỷ niệm 70 năm kết thúc Thế chiến Thứ II vào tháng 9, 2015 với cuộc diễn hành quân sự vĩ đại, Bắc Kinh không quên lên án tội ác chiến tranh của quân đội Nhật Bản, và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường/ Li Keqiang nói với báo giới: "Giới lãnh đạo Nhật Bản phải nhận lãnh những trách nhiệm lịch sử về tội ác của các thế hệ trước."

      Nhưng điều trớ trêu là chính Trung Quốc không hành xử như vậy đối với các tội ác tầy trời của chính họ trong quá khứ. Kuni Miakabe, một nhà ngoại giao Nhật hồi hưu đã mai mỉa về chính sách nước đôi / double standard của Bắc Kinh mà ông gọi là "tiêu chuẩn toàn cầu về liêm khiết trí thức / the global standard of intellectual fairness"; đó là một mặt thì yêu cầu các quốc gia khác không xoá bỏ lịch sử / whitewash the history nhưng chính Trung Quốc lại không muốn nhắc tới phần trách nhiệm về cái chết của 45 triệu người do chính sách Đại Nhẩy Vọt / Great Leap Forward của Mao Trạch Đông, cũng như tội ác về cuộc Cách mạng Văn Hoá 1966-76 gây chết chóc và chấn thương cho cả một thế hệ và rồi mới đây là vụ thảm sát sinh viên đòi dân chủ ở Thiên An Môn. Và Trung Quốc đã không hề có một Viện Bảo tàng cho những giai đoạn lịch sử như vậy." (1)

      Nhà nước Trung Quốc rõ ràng có một chính sách "uốn nắn lịch sử" khởi đầu từ trong các trường học. Các bộ sách giáo khoa về lịch sử đã tránh đề cập tới thời kỳ Khmer Đỏ, kể cả cuộc Chiến tranh Biên giới 1979 do Đặng Tiểu Bình phát động để trừng phạt Việt Nam và cứu chế độ Pol Pot cũng bị kiểm duyệt và không được nhắc tới. Chính sách kiểm duyệt lịch sử từ sách vở tới báo chí truyền thông của Trung Quốc hữu hiệu tới nỗi đa số các sinh viên đại học ở Trung Quốc hầu như không biết gì về cả hai sự kiện này.

     Nhìn về Việt Nam thì giới viết sử chính thống theo tuyên giáo của đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt bảy thập niên qua cũng tồi tệ và không hơn gì Trung Quốc. Môn sử học cũng chỉ là một công cụ chính trị cho các đảng Cộng sản và những chế độ độc tài trên thế giới.

HUN SEN ĐI VÀO QUỸ ĐẠO TRUNG QUỐC
      Sinh năm 1952 tại một ngôi làng nhỏ thuộc tỉnh Kompong Cham bên bờ con sông Mekong, nhưng khai sinh sớm hơn [4/4/1951], để đủ tuổi gia nhập Khmer Đỏ. Học vấn qua bậc tiểu học, sau đó tham gia các phong trào tranh đấu. Có gốc là sĩ quan Khmer Đỏ, bị thương hư một mắt khi theo Pol Pot tấn công thủ đô Phnom Penh tháng 4, 1975. Sau đó đào ngũ qua Việt Nam trước 1979.
      Khi quân CS Việt Nam tràn qua Cam Bốt, lật đổ chính quyền Khmer Đỏ, Hun Sen được đưa lên làm Ngoại Trưởng trẻ nhất năm 27 tuổi, rồi Thủ tướng Cambodia từ tháng 1, 1985 lúc mới 33 tuổi, giữ ghế Thủ tướng cho tới nay đã hơn 32 năm, lâu nhất của cả thế giới. [Phnom Penh Post, Jan 21, 2010]

hinh 9-ntv-7-2017

Hình 9: Hun Sen, con người muôn mặt, là Thủ tướng Cambodia,
trị vì lâu năm nhất trên thế giới [nguồn: internet]

      Và nếu không có gì bất ngờ, Hun Sen sẽ còn thống lĩnh chính trường Cam Bốt và là khuôn mặt lớn của khối ASEAN trong hàng thập niên nữa.
Lãnh đạo Đảng Nhân Dân Cam Bốt, Hun Sen được giới ngoại giao và báo chí coi như một thứ “Người Hùng” của Cambodia.

      Sẽ thiếu sót, nếu không ghi nhận ở đây, trong thời gian làm Thủ tướng, ông Hun Sen đã nhận được khoảng hơn 10 học vị Tiến sĩ Danh dự từ các đại học khác nhau trên khắp thế giới, trong đó có 2 học vị Tiến sĩ của Hà Nội: một về Chính trị học (1991), và một về khoa Giáo Dục (2007). Với từng ấy quyền lực và hào quang, Hun Sen được quốc vương Sihanouk phong cho phẩm tước cao quý “Samdech” [Wikipedia] và còn được mệnh danh là “Đứa Con của Đế quốc Khmer / The Son of the Khmer Empire”.

      Năm 1987, Hun Sen từng bị Amnesty International lên án vi phạm nhân quyền vì các vụ tra tấn tù nhân chính trị. Nổi tiếng cai trị bằng đôi bàn tay sắt, nhưng cũng không thiếu tai tiếng về các vụ tham nhũng về đất đai, dầu khí và các hợp đồng khai thác tài nguyên của Cambodia. Bị các đối thủ lên án là “bù nhìn” của Hà Nội, nhưng thực tế Hun Sen rất bản lãnh và độc lập, tuy không công khai lên tiếng chống Việt Nam nhưng đã dần dần từng bước chọn đưa đất nước Cambodia tiến gần vào quỹ đạo của Bắc Kinh; với dòng sự kiện:

Tháng 11, 2010_ Thủ tướng Hun Sen, sau Hội Nghị Thượng Đỉnh ACMECS ở Nam Vang, lại một lần nữa đã bác bỏ mọi mối quan ngại về ảnh hưởng của các đập thủy điện trên thượng nguồn đối với dòng chảy sông Mekong. Ông khẳng định rằng chu kỳ lũ lụt hay hạn hán mới đây là hậu quả của thay đổi khí hậu / climate change và khí thải carbon / carbon emissions chứ chẳng liên hệ gì tới chuỗi những con đập thủy điện của Trung Quốc.

Tháng 6, 2009_ Fred Pearce trong một tường trình Environment 360 Đại học Yale cho rằng xây đập chắn ngang sông Mekong là một đòn giáng nghiêm trọng / major blow đối với con sông Mekong dũng mãnh. Trung Quốc đang xây hàng loạt những con đập trên khoảng 2,800 dặm khúc sông Mekong thượng nguồn, sẽ giới hạn dòng chảy, làm mất đi chu kỳ lũ lụt hàng năm / annual flood pulse, con sông Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ, như một trong những kỳ quan thiên nhiên của thế giới.

Tháng 7, 2005_ Thủ tướng Hun Sen, rất sớm cách đây 12 năm, trước khi sang dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Côn Minh, đã tỏ ra thỏa mãn với tình hình khai thác con sông Mekong như hiện nay, theo ông chẳng có vấn đề gì phải quan tâm. Ông công khai lên tiếng ủng hộ Bắc Kinh, đối với kế hoạch khai thác sông Mekong, ông còn cho rằng các ý kiến chỉ trích chỉ để chứng tỏ họ chú ý tới môi sinh, và đôi khi họ dùng đó như thứ rào cản nhằm ngăn sự hợp tác nên có giữa 6 quốc gia.

Tháng 11, 2002_ Tyson Roberts thuộc Viện Nghiên Cứu Nhiệt Đới Smithsonian đã phát biểu: “Xây các đập thủy điện, khai thông thủy lộ, với tàu bè thương mại quá tải sẽ giết chết dòng sông. Các bước khai thác của Trung Quốc sẽ làm suy thoái hệ sinh thái, gây ô nhiễm tệ hại, khiến con sông Mekong đang chết dần, cũng giống như con sông Dương Tử và các con sông lớn khác của Trung Quốc.

TAM GIÁC VÀNG BẮC KINH - NAM VANG - HÀ NỘI
      Cho đến nay cũng đã 38 năm kể từ ngày hơn 100 ngàn quân đội cộng sản Việt Nam tràn qua Cambodia lật đổ chế độ Khmer Đỏ và giải phóng đất nước này. Nhiều lãnh tụ cao cấp Khmer Đỏ đã chết trước khi bị đem ra xét xử. Pol Pot / Anh Cả là nhân vật số 1 đã chết từ 15.04.1998.

      Riêng hai ông Nuon Chea / Anh Hai và Khieu Samphan/ Anh Ba là hai nhân vật cao cấp nhất của Khmer Đỏ còn sống đã bị Tòa án xét xử tội ác diệt chủng ở Cambodia / Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia (ECCC) do Liên Hiệp Quốc bảo trợ, cả hai đã bị kết án tù chung thân từ ngày 07.08.2014.

      Và rồi chỉ mới đây thôi, ngày 23.06.2017, hai ông Nuon Chea và Khieu Samphan lại được ECCC đưa ra tái xét xử với những tội danh khác. Ông Nuon Chea 90 tuổi nguyên Thủ Tướng, do vấn đề sức khoẻ chỉ ngồi theo dõi phiên toà trước màn hình trong nhà giam, và qua luật sư của mình, ông cho biết chỉ coi phiên toà như một trò trình diễn "show trial".

      Riêng ông Khieu Samphan 85 tuổi, có học vị tiến sĩ Đại học Paris, được coi như lý thuyết gia, nguyên Chủ tịch nhà nước Campuchia Dân chủ / Khmer Đỏ thì có mặt và đã có lời nói cuối trước toà, ông đã hoàn toàn bác bỏ cáo buộc "tội ác chống nhân loại và diệt chủng."





hinh 10-ntv-7-2017

Hình 10: Khieu Samphan, nguyên Chủ tịch nhà nước Khmer Đỏ phát biểu tại phiên toà ở Nam Vang ngày 23.06.2017: Ông hoàn toàn bác bỏ cáo buộc "tội chống nhân loại và diệt chủng" và khẳng định nói đó là những lời nguỵ tạo của Việt Nam nhằm xâm lược Cambodia. [nguồn: AFP photo]

      Ông Khieu Samphan đã giận dữ khẳng định đó là những lời vu cáo nguỵ tạo của Việt Nam nhằm xâm lược Cambodia, rồi ông đổ hết trách nhiệm cho Việt Nam trong trong tấn thảm kịch 2 triệu người dân Khmer chết bằng các nhục hình như bỏ đói, lao động cưỡng bức, tra tấn và cả giết chóc.

      Điều rất trớ trêu và đáng nói ở đây là do mối thù hận lịch sử, sẵn có tinh thần bài Việt, lại luôn luôn được kích động bởi khẩu hiệu: "Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp" nên không ít người Cambodia may mắn sống sót và cả thế hệ trẻ sinh sau thời kỳ Khmer Đỏ, khi nghe phát biểu của ông Khieu Samphan họ cũng hoang mang, và nếu cứ bị tiếp tục bị tuyên truyền nhồi sọ, rồi ra họ có thể dễ dàng cả tin về điều này.

CÙNG NHAU GIẢI LỜI NGUYỀN
      Khó mà kiếm được người Miên nào nói tốt về người Việt đang sống trên đất nước của họ. Một thành viên nhóm bảo vệ nhân quyền ở Nam Vang đã nói với ký giả báo Far Eastern Economic Review (FEER 1994): nếu có được quyền lựa chọn thì đa số người Khmer đều muốn tống xuất tất cả người Việt ra khỏi Cambodia. Chống Việt Nam bằng bất cứ luận điệu nào cho dù đúng hay sai vẫn luôn luôn là một chiêu bài rất ăn khách và dễ dàng được đa số người Miên cả tin và lắng nghe.

       Không lẽ bước sang Thế kỷ XXI một cách rất vô lý Việt Nam lại phải đưa vai ra gánh phần trách nhiệm về tội ác mà kẻ thực sự chủ mưu là Trung Quốc thì lại dấu mặt. Để giải toả mối oan khiên đó, chưa bao giờ khẩn thiết như lúc này, phải có một giới sử gia chân chính viết nên những trang sử về thời kỳ Khmer Đỏ một cách công tâm và minh bạch để trả lại tất cả sự thật cho lịch sử.

      Trong mấy thế kỷ qua, quá khứ hai dân tộc Khmer và Việt Nam đã có những tang thương đổ vỡ nhưng họ lại phải cùng sống với nhau trên một vùng đất định mệnh. Và những thù hận trong quá khứ vẫn âm ỉ đến mức đã trở thành Một Lời Nguyền rất bất hạnh cho cả hai phía. Đã đến lúc phải cùng nhau giải lời nguyền ấy.

      Hiện tại, cả hai dân tộc cùng rất nghèo, cùng ở cuối nguồn con sông Mekong, đang cùng là nạn nhân của một trận chiến môi sinh thế kỷ: do chuỗi những con đập thượng nguồn từ Trung Quốc xuống tới Lào, do kế hoạch vĩ mô đổi dòng lấy nước từ con sông Mekong của Thái Lan, rồi nạn ô nhiễm do khai thác khoáng sản bừa bãi, cộng thêm với tác động của thay đổi khí hậu đưa tới lũ lụt và hạn hán. Hậu quả sẽ là hai vùng châu thổ Tonle Sap và châu thổ Đồng Bằng Sông Cửu Long đang trước nguy cơ chết dần.

       Gần đây thôi, trong một phạm vi nhỏ hẹp nhưng tích cực là các tổ chức môi sinh Việt Nam như Việt Ecology Foundation, Vietnam River Network đã có những bước đầu nối kết với 5 tổ chức môi sinh NGOs/ phi chính phủ của Cambodia, liên kết dưới chung một tên River Coalition in Cambodia (RCC), và trong bối cảnh mở rộng một hợp tác vùng: Save the Mekong Coalition (StM). Từ những bước khởi đầu ấy, hai dân tộc Khmer và Việt Nam sẽ cùng chia xẻ trách nhiệm và hướng tới một tương lai thịnh vượng chung. Đó cũng chính là nỗ lực hàn gắn vết thương lịch sử giữa hai quốc gia, như một hoá giải Lời Nguyền giữa hai dân tộc Cambodia và Việt Nam.

NGÔ THẾ VINH
California 08.07.2017


Tham Khảo:
1)    Dan Levin, “China Is Urged to Confront Its Own History,” The New York Times (March 31, 2015).
2)    Andrew Mertha, Brothers in Arms: Chinese Aid to the Khmer Rouge, 1975-1979 (Ithaca, NY: Cornell Univ. Press, 2014).
3)    Luke Hunt, “What Was China’s Khmer Rouge Role?” The Diplomat (December 17, 2011).
4)    David Chandler, A History of Cambodia, 4th ed., updated (Boulder, CO: Westview Press, 2009).
5)    Ngô Thế Vinh, "Vực Dậy Từ Tro Than, Đi ra từ những Cánh Đồng Chết." Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch, (Văn Nghệ Mới 2007).

Chính phủ đã vay tiền dân như thế nào trong 2 cuộc kháng chiến?

Chính phủ đã vay tiền dân như thế nào trong 2 cuộc kháng chiến?
Các loại công trái, công phiếu được Chính phủ phát hành trong 2 cuộc kháng chiến

(VNF) – Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Chính phủ đã nhiều lần phát hành các loại công phiếu kháng chiến, công trái quốc gia, công trái nuôi quân… nhằm huy động vốn trong dân phục vụ cho công cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước.

Theo thông tin từ Bộ Tài chính, lịch sử vay tiền dân của Chính phủ được bắt đầu vào tháng 7/1946, khi đợt phát hành công trái đầu tiên (với tên gọi Công Thải) được tổ chức ở Nam Bộ.
Đến ngày 14/4/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh 160-SL chính thức cho phép phát hành trong toàn quốc “Công phiếu kháng chiến” với tổng số tiền là 500 triệu đồng bạc.
Sắc lệnh nêu rõ: “Trong những trường hợp và theo những thể thức do Bộ Tài chính ấn định, công phiếu kháng chiến sẽ lưu hành và có giá trị như giấy bạc, theo đúng sổ tiết ghi ở trên phiếu. Công phiếu kháng chiến cũng được miễn tất cả các thứ thuế hiện có hoặc sẽ đặt ra, kể cả thuế trước bạ, nỗi khi chuyển dịch”.
Chính phủ đã vay tiền dân như thế nào trong 2 cuộc kháng chiến? ảnh 1

Sắc lệnh 160-SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ban hành, cho phép phát hành Công phiếu kháng chiến

Như vậy, việc phát hành công phiếu kháng chiến của Chính phủ nhằm 2 mục đích: một là huy động số tiền nhàn rỗi trong dân để phục vụ sản xuất và chiến đấu, hai là dùng công phiếu kháng chiến như một dạng tiền dự trữ.
Sắc lệnh 160 đã giao Bộ trưởng Bộ Tài chính đảm nhiệm việc phát hành công phiếu kháng chiến. Chiểu Sắc lệnh thi hành, Bộ Tài chính cùng các cấp chính quyền, các cơ quan chuyên môn, các tổ chức xã hội, đoàn thể ... đã tổ chức triển khai công phiếu kháng chiến trên toàn quốc.
Lần lượt Nghị định số 43 ấn định nguyên tắc và chi tiết phát hành công phiếu kháng chiến, Thông tư số 742 giải thích chi tiết Sắc lệnh 160 và Nghị định 43 được ra đời.
Đến năm 1950, Chính phủ cho phép phát hành loại Công trái quốc gia ghi mệnh giá bằng thóc, tổng số phát hành 100.000 tấn thóc.
Chính phủ đã vay tiền dân như thế nào trong 2 cuộc kháng chiến? ảnh 2
Tổng lại, trong suốt thời kì kháng chiến, Chính phủ đã phát hành công phiếu kháng chiến trong các năm 1948, 1949, 1950, 1951, 1952; phát hành công trái quốc gia năm 1951; phát hành công trái Nam-Bộ năm 1947, 1958; phát hành công phiếu nuôi quân năm 1964. Ngoài ra còn có những khoản vay khác (tiền hoặc lương thực) do các cơ quan chính quyền từ cấp huyện trở lên vay theo lệnh của cấp trên để mua sắm vũ khí, nuôi quân đánh giặc...
Chính phủ đã vay tiền dân như thế nào trong 2 cuộc kháng chiến? ảnh 3
Năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng ra Chỉ thị 108-CT cho biết từ cuối năm 1979, các địa phương đã tiến hành thanh toán các khoản nhà nước vay dân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Tuy nhiên, do đây là một vấn đề phức tạp, việc hướng dẫn lại chưa rõ ràng, các địa phương gặp nhiều lúng túng. Một số địa phương đã thanh toán cả những khoản dân đóng góp để làm nghĩa vụ công dân, những khoản lạc quyên do chính quyền, đoàn thể ở cơ sở tự tổ chức để ủng hộ kháng chiến, uý lạo bộ đội. Nhiều địa phương khoán trắng cho ban thanh toán nợ dân và đã để xảy ra những sự việc lạm dụng, thanh toán tràn lan.
Do đó, Nhà nước đã có hướng dẫn: Chỉ thanh toán những khoản mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vay dân để giải quyết nhu cầu chi tiêu cần thiết của Nhà nước trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đó là những khoản mà người cho vay và cơ quan nhận vay đều ý thức rằng sẽ được trả và phải hoàn trả (như đã dẫn ở trên).
Đến tháng 9/1998, Bộ Tài chính ra công văn hướng dẫn nêu rõ, Bộ đồng ý gia hạn các khoản trả nợ cho dân trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ đến 31/12/1998 và về nguyên tắc, thời hạn thanh toán nợ dân đã kết thúc.
Tuy nhiên, trong một văn bản mới ban hành mới đây, Bộ Tài chính cho biết, căn cứ vào ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trương Hoà Bình ngày 7/6/2017, để đảm bảo quyền lợi cho người dân và việc trả nợ được thống nhất trên cả nước, Bộ đề nghị UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo các đơn vị được giao nhiệm vụ tiếp tục thanh toán các khoản còn nợ người dân có chứng từ gốc, theo văn bản hướng dẫn trước đây. Nguồn kinh phí chi trả được lấy từ nguồn đảm bảo xã hội của ngân sách địa phương.
Bình luận về việc tiếp tục thanh toán các khoản “nợ đọng” này của Chính phủ, TS Cấn Văn Lực – Giám đốc Trường đào tạo BIDV, cho rằng đây là hành động hợp lý. “Còn nợ thì còn phải thanh toán, kể cả nợ 1 đồng, 2 đồng cũng nên trả. Bởi nó đảm bảo quyền lợi của nhân dân và của cả nhà nước”.
Về phương thức trả, TS Lực cho rằng chắc chắn Bộ Tài chính sẽ có những tính toán, phương án thanh toán cụ thể, trình Thủ tướng phê duyệt vì nếu thanh toán theo cách thông thường thì người dân sẽ không nhận được bao nhiêu.
Đây cũng là quan điểm của chuyên gia tài chính Vũ Đình Ánh. Ông Ánh cho rằng nếu tiền mất giá theo lạm phát thì phải chịu, điều chỉnh theo lạm phát rất khó. “Tuy nhiên, Chính phủ nên có sự điều chỉnh có lợi cho dân. Ví dụ ngày xưa dân mua 10 đồng công trái, qua đổi tiền chỉ còn có 1 đồng thì bây giờ Chính phủ thanh toán nên nhân thêm 10 đồng chẳng hạn để trả. Số tiền bù đắp không đáng bao nhiêu, nhưng nên làm như vậy để ghi nhận sự đóng góp về tài chính của người vào 2 cuộc kháng chiến. Còn không thì việc thanh toán gần như là vô nghĩa, chẳng có giá trị gì”, ông Ánh nhận định.
VĨNH CHI

VỊ XUYÊN, NHỮNG VẾT THƯƠNG CHƯA LÀNH


Tráng A Đụi có cái ống đựng điếu cày từ đuôi đạn pháo màu nâu, nặng 12 cân. Cái ống ấy, anh nhặt được trong hầm đá trên cao điểm 685 hơn mười năm trước - di vật còn sót lại của cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược biên giới suốt 10 năm trên đất Thanh Thủy, Vị Xuyên này.
Cái ống ấy, từng có người gạ trả một triệu đồng, nhưng anh không bán.

Ký ức tuổi thơ Đụi không bắt đầu từ Nậm Ngặt quê anh. Từ lúc biết nhớ, Đụi đã ở Bắc Mê, cách Nậm Ngặt tới ba ngày đi đường. Cả bản đã phải sơ tán đến đấy để tránh đạn pháo Trung Quốc. Những hôm trời trong, cậu bé cứ nghển cổ trông về hướng Bắc, nghe tiếng ùng oằng như sấm rền ở phía đường biên. Mẹ anh chỉ nói ngắn gọn "đang đánh nhau, có bắn pháo" rồi cấm chỉ ra ngoài. Nhìn xung quanh, Đụi thấy mấy nhà cũng chạy ra cửa, đứng trông về hướng Bắc.
Đụi phải bỏ quê đi từ ngày 2/4/1984.
Rạng sáng hôm ấy, bản Nậm Ngặt nằm cách đường biên nửa cây số đang say ngủ, Đầu tháng ba Âm lịch, trời còn se lạnh. Những nóc nhà người Dao chụm vào nhau, chìm trong sương núi. Tối hôm trước, vợ ông Bàn đã ngâm gạo nếp, nhốt sẵn gà để hôm sau đồ xôi ngũ sắc cúng ông bà ngày Tết thanh minh.
Một cơn mưa đạn pháo từ bên kia biên giới Trung Quốc nã sang.
Cả làng hô nhau dậy, tiếng thét, tiếng khóc râm ran lẫn tiếng pháo. Ông Bàn, cha nuôi Đụi vội đưa cả nhà xuống hầm trú ẩn. Cái hầm chữ A, trần bằng gỗ, nóc phủ cành cây, ông đào từ mấy năm trước. Miệng hầm nằm ở chỗ cao, mà đất dốc theo hướng Bắc – Nam nên miệng hầm quay về phía Bắc.
Chẳng ai hướng dẫn, nên nhiều miệng hầm trú ẩn ở Vị Xuyên những ngày ấy quay về hướng Bắc - hướng mà những quả đạn pháo bắn sang. Đã có những người bỏ mạng ngay nơi cửa hầm.
Sơ đồ giản lược đất liền của quỹ OpenStreetMap (Anh); chỉ mang tính minh họa vị trí. Các bài báo được chụp từ báo Nhân Dân từ 1979-1981
Rền rĩ suốt một ngày trời, đến tối, địch nghỉ bắn. Ông Bàn – khi ấy là chủ nhiệm HXT hô dân làng sơ tán. Cả thôn mò mẫm trong đêm, không dám thắp lửa vì sợ pháo lại nện xuống. Họ trú trong vách đá Ẻ Bang ngay sau cao điểm 468.

Ông Bồn Văn Bàn.
Thanh niên thì ở lại ít ngày giúp bộ đội chuyển đạn, vác bêtông lên xây lô cốt chống giặc. Còn lại nhận lệnh, người dân Nậm Ngặt bỏ nhà, bỏ trâu, bỏ cả nương lúa sắp vào vụ gặt để đi sơ tán. Từng đoàn người Mông, người Dao, người Tày ngược thị xã Hà Giang tản mát về Đường Âm, Giáp Chung, Yên Cường của huyện Bắc Mê, sang cả Bắc Quang.
Đi bộ ba ngày, họ dừng chân, cắm cái lều, phát nương, làm rẫy. 
Ông Bàn, cũng như nhiều người đàn ông cứng dạ khác, những ngày sau vẫn quay trở lại nhà. Họ muốn gỡ buộc con trâu để nó chạy đi khỏi chết. Họ tiếc cánh đồng lúa vừa chín chưa kịp gặt. Họ quay lại, để nhìn căn nhà, cứ thỉnh thoảng quay lại cho đến tận khi nhà mình đã trúng pháo tan thành tro.
Nếu không có lệnh trên di tản là ở lại rồi, đất của bố mẹ, mồ mả ông bà, nhà mình ở đó thì đi đâu.
Ông Bồn Văn Bàn
Loạt pháo ngày hôm ấy mở màn cho cuộc đánh chiếm hàng loạt cao điểm dọc biên giới Vị Xuyên, châm ngòi một cuộc tấn công kéo dài đến tận sáu năm sau.
Những ngày tháng sau đó, Trung Quốc đã nã vào Vị Xuyên khoảng 2 triệu quả đạn pháo. "Pháo đánh bạt cả núi, chỉ còn trơ ra đá vôi" - ông Thảo, phó bí thư Thanh Thủy bây giờ nhớ lại.
Ảnh chụp vệ tinh năm 1984 khu vực biên giới Vị Xuyên dường như gợi ý lời những nhân chứng. So với năm tháng khi tiếng pháo đã qua đi, nhiều đỉnh núi ngày ấy trơ ra những khoảng màu trắng, tương phản với màu xanh vốn có của núi rừng - như chi chít vết sẹo chém dọc ngang.
Trong đồ họa dưới đây, phía bên trái là ảnh vệ tinh khu vực Vị Xuyên (các rặng núi chính giữa ảnh) vào năm 1984, và bên phải là ảnh vệ tinh năm 1995, khi màu xanh đã quay trở lại.
Những cơn mưa đạn pháo điên cuồng thậm chí đã nung đá thành vôi, ông Thảo nhớ lại. Có lẽ không phải ngẫu nhiên, mà những người lính cũ, gọi cao điểm 685 là "lò vôi thế kỷ".
Và ngược hướng những đoàn người sơ tán ngày ấy, thị xã Hà Giang rầm rập từng đoàn xe chuyển quân, đạn dược lên trận địa. 

Bốn nghìn người nằm lại

Ngày 12/7/1984, trận mở màn chiến dịch MB84 của bộ đội Việt Nam giành lại cao điểm, hơn 1.000 chiến sĩ đã hy sinh.
Tổng cộng, trong 6 năm ấy, hơn bốn nghìn người lính đã nằm lại nơi chiến trường Vị Xuyên. Có đến một nửa trong số đó, vẫn chưa thể trở về quê mẹ sau hơn ba mươi năm. Hài cốt của họ còn nằm trên những sườn giông, vách núi...

Cựu binh Trần Văn Sơn.
Ông Trần Văn Sơn, trinh sát Sư đoàn 356  gọi thế hệ mình – lớn lên trong thập kỷ 80 là "nửa vời", chưa kịp tận hưởng hòa bình sau mùa Xuân 1975 được bao lăm, đã lại đi đào hào, cắm chông dọc biên giới chờ cuộc chiến khác.
Mùa xuân 1979, Lào Cai quê Sơn trở thành "vành đai trắng" khi quân Trung Quốc mang quân tàn phá 6 tỉnh biên giới. Cậu học sinh lớp 9 chiều hôm trước còn đến trường, sáng hôm sau đã theo mẹ sơ tán về tận Can Lộc, Hà Tĩnh.
Rồi Sơn vào bộ đội, lại cầm súng lên biên giới. Giấy gọi nhập ngũ đến trước giấy báo đậu Đại học Mỏ - Địa chất. Lúc ấy vừa xong đợt tân binh về thăm nhà, Sơn bọc tờ giấy báo vào nilon với ý nghĩ đánh trận xong về học tiếp.
“18 tuổi, nói về lý tưởng thì quá lớn lao, có lệnh là đi, biết chiến tranh khốc liệt nhưng không mường tượng được khốc liệt đến thế”
Cựu binh Trần Văn Sơn
Trong 5 năm, hơn 50 vạn quân Trung Quốc tiến công toàn diện biên giới Vị Xuyên, hơn 2 triệu quả pháo bắn vào Hà Tuyên, hơn nửa số đó là đạn cối, tập trung vào Thanh Đức, Thanh Thủy.
685,772, đồi Đài, Cô Ích, Bốn Hầm… trở thành những mục tiêu hủy diệt của đạn pháo Trung Quốc. Điểm cao 685 có chỗ bị bạt đến 3 m, trở thành "lò vôi thế kỷ". Quân của 9 đơn vị chủ lực Việt Nam thay phiên nhau bổ sung cho chiến trường. Nhiều đợt nhập ngũ diễn ra, hàng nghìn thanh niên tuổi đôi mươi đi về phía "lò vôi" không hẹn ngày về.

Khi tiếng pháo qua đi

Ngày 26/9/1989, khi đơn vị cuối cùng của quân tình nguyện Việt Nam rời khỏi Campuchia, các ngòi nổ căng thẳng ở hai đầu đất nước đều được tháo bỏ. Hai năm sau, Việt - Trung tuyên bố bình thường hóa quan hệ.
Vì những lý do lịch sử, khói lửa Vị Xuyên một thời không được nhắc đến. Một số đơn vị sau này giải thể, trở thành những "sư đoàn hóa đá"... Còn Trần Văn Sơn, 25 tuổi, trở về, mang theo mặc cảm thân thể không trọn vẹn và một nỗi buồn chiến tranh. Nhiều người không tin biên giới vừa trải qua một cuộc chiến khốc liệt.
Tiếng pháo ngưng rồi, dân Thanh Thủy, Thanh Đức, Xín Chải, Lao Chải lục tục kéo về. Ăn Tết xong, ông Bàn đưa con út về trước. Ngày trở về, ông đứng xa xa nhìn về phía thôn cũ, chảy nước mắt, chỉ thấy rừng, không thấy nhà cửa, ruộng nương, vách núi nham nhở vết đạn pháo cày.
Ông với mấy trai tráng xách rựa, men theo con suối trở về nhà cũ, không dám đi qua đồi vì sợ dính mìn. Những người đàn ông đầu tiên của thôn Nậm Ngặt trở về dựng cái lều ở tạm, rồi dọn cỏ, dọn mìn, phát nương, trồng lại lúa, nuôi lại dê, gà…rồi đón người thân. Ở Bắc Mê, ông cũng dựng được nhà sàn, phát được nương mới, không lo đói, nhưng vẫn quay về vì ở Nậm Ngặt có ruộng nương, mồ mả ông bà.
Mười năm sau đó, những nhà khác cũng lần lượt trở về. Đến giờ, Nậm Ngặt quây quần hơn 60 hộ.
Đã có thời, trai tráng Nậm Ngặt mưu sinh bằng nghề nhặt vỏ đạn.
Không ai đếm được có bao nhiêu vỏ đạn nằm lại quanh những sườn núi Vị Xuyên. Đàn ông trong làng mua những chiếc máy dò kim loại rẻ tiền, rồi đi mót sắt vụn bán. Hàng chục cân mỗi ngày. Mỗi cân sắt, bán được vài nghìn đồng.
Đoàn quân sắt vụn ấy, đã có người cụt chân, hỏng tay, mất cả mạng. Cộng thêm cả những người đi phát nương, dọn cỏ không may, hơn 40 người dân Thanh Thủy gặp nạn vì vật thể nổ, chủ yếu ở các thôn giáp biên như Nậm Ngặt, Hán Dương, Giang Nam. Trâu bò, ngựa chết vì bom mìn còn sót lại đếm không xuể.

Ông Nguyễn Văn Kim, trú thôn Thanh Sơn mất cả hai cánh tay vì kíp nổ khi đang phát rẫy trồng ngô. Người đàn ông chạy gần một km tới chỗ bộ đội đóng nhờ cấp cứu, may mắn thoát chết.
Nhà Bồn Văn Đặng một người chết, ba người cụt chân vì mìn, riêng Đặng mất chân phải.
Ông Nguyễn Đức Dân đi đào mương cho hợp tác xã, vấp phải ngòi nổ DK85, mất một tay. Nhiều năm nay, ông chỉ trông được nhà cho vợ và cầm bút viết tên mình, cơ mặt, cơ mắt giật liên hồi mỗi khi trái gió.
Những vết đau chiến tranh không kết thúc ngay sau một cú bắt tay.
Những người Vị Xuyên vẫn nhớ kỹ hình ảnh của năm 1984 tàn nhẫn ấy. Như bà Choòng. Bà đã già, nói năng đã chậm. Nhưng bà vẫn nhớ đứa con gái đầu lòng. Chị bị mảnh pháo văng xuyên qua ngực khi ngồi gần cửa hầm. Căn hầm có cửa quay về hướng Bắc.
Bây giờ ai hỏi, bà vẫn chỉ tay lên ngực mình. Đấy là chỗ mảnh đạn đã đâm vào ngực đứa con gái, xuyên qua lưng. Bao nhiêu năm bà vẫn ăn năn, vì phải đi sơ tán, chỉ kịp chôn cất con vội vàng, không kịp làm cái mộ đàng hoàng như người Tày phải có.
Người ta kể, mãi về sau này, cứ đến ngày mưa gió, bà lại khóc. Trên mộ người Tày vùng này, có một cái mái cọ. Bà thương con chết, mà không kịp làm cái mái cọ che đầu.
Con đường mòn dẫn vào bản Nậm Ngặt đi xuyên qua một số cao điểm, bên này là núi, bên kia là vực. Nhờ các cựu chiến binh vận động, đường đang mở rộng. Hôm trước máy còn xúc được hai quả mìn nguyên kíp nổ. Mỗi sáng ra khỏi nhà, gặp lũ trẻ trong bản đuổi đàn dê đi ăn, Đụi sẽ dặn chúng “Đừng chăn xa quá, không được đi vào chỗ mấy lô cốt kẻo dẫm phải mìn, biết không”.
Lưng chừng cao điểm 468 – nơi từng đặt sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn 356 giờ xây đài hương và khu tưởng niệm liệt sĩ hy sinh tại Vị Xuyên, do các cựu chiến binh đóng góp, vận động nguồn xã hội hóa. Đứng ở nơi này nhìn được toàn cảnh chiến trường xưa.
Như nhiều trai bản, Tráng A Đụi từng đi nhặt vỏ đạn bán sắt vụn nhiều năm. Chỉ có chiếc vỏ đạn pháo 12 cân nhặt được ở cao điểm 685, là Đụi cương quyết không bán. Chiếc vỏ đạn được đào lên ngay gần một hầm bộ đội. Anh nghĩ loại đạn to này, là để khoan vào hầm. Anh cũng không lý giải tường tận được tại sao mình quyết định giữ nó lại.
Vài năm sau, cách chỗ nhặt được vỏ đạn ấy không xa, Đụi tìm thấy 5 bộ hài cốt liệt sĩ.
Thi thoảng, Đụi lên thắp hương cho các chú hồi xưa chiến đấu ở đây, rồi dọn dẹp. Mỗi năm vào giữa tháng 7, các cựu chiến binh hành quân trở về, gặp nhau tay bắt mặt mừng, thắp nén hương, có khi họ ôm đàn hát, rồi họ khóc.
Đức Hoàng - Hoàng Phương

GDP Nghệ An vượt mặt Hà Nội thành “tỉnh tỷ phú” nhờ hơn 7 vạn người đi XKLĐ; Ngày thứ 2 kinh hoàng của 34 lao động Việt Nam tại Đài Loan





Cả nước ta nói chung chương trình xuất khẩu lao động tại Nhật Bản luôn được rất nhiều các lao động quan tâm. Tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh số lượng người đi làm việc tại nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn.
Ở Nghệ An nhóm dân số thuộc độ tuổi lao động rất lớn, chiếm khoảng 67% tổng dân số của cả tỉnh. Trong đó lực lượng lao động trẻ chiếm gần 52% tổng lực lượng lao động. Đã nhiều năm trở về đây, Nghệ An luôn nằm trong top các tỉnh có người đi xuất khẩu lao động (XKLĐ) lớn nhất nước ta. Chỉ tính riêng năm 2015, Nghệ An có 12.800 người trên tổng số 100.000 người trong cả nước đi XKLĐ. Nhiều làng quê trước đây nghèo xơ xác, giờ trở thành những khu phố sầm uất trong lòng nông thôn.
Những căn nhà khang trang được xây dựng
Yên Thành có 11 vạn dân trong độ tuổi lao động thì có hơn 2 vạn người đi XKLĐ, đã biến Yên Thành từ một huyện nghèo thành “huyện tỉ phú”. Nhiều làng xã được xây dựng khang trang không kém những khu phố sầm uất ở các đô thị lớn.
Xã Sơn Thành nằm ở phía tây nam huyện Yên Thành, giáp ranh với huyện Nghi Lộc. Trước đây Sơn Thành là một vùng đất cằn đá sỏi, nghèo xác xơ, nhưng giờ đây lại là một trong những xã giàu nhất huyện, thậm chí còn được đánh giá là giàu nhất tỉnh Nghệ An nhờ hiệu quả từ việc người dân rủ nhau đi XKLĐ. Xã có 7.300 nhân khẩu, 3.300 lao động thì có hơn 1.800 người đi XKLĐ. Theo người dân ở đây, nhiều gia đình nhờ có con em đi XKLĐ mà đã có trên 100 tỉ đồng để vào Nam, ra Bắc, hoặc đến Cửa Lò xây khách sạn, nhà hàng. Trong xã tiệm vàng mọc lên như nấm.
Ông Nguyễn Khắc Đào, Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Thành phấn khởi: “Khoảng từ năm 1993, một số người mạnh dạn ra đi làm ăn khấm khá nên về đưa anh em, bà con đi cùng. Nhiều gia đình có gần chục người cả con, cháu, dâu, rể cùng đi XKLĐ. Có họ bây giờ có hơn 100 người đang làm ăn ở nhiều nước trên thế giới”.
Nổi tiếng giàu trong xã là đại gia đình ông Lê Bình, người có con đi xuất khẩu nhiều nhất ở Sơn Thành với bốn con trai, bốn con dâu, rể. Sau đó, những người con của ông Bình về nước đưa nhiều anh em họ hàng khác sang nước ngoài làm việc.Ở Sơn Thành ngoài đại gia đình ông Lê Bình, còn có gia đình ông Trần Quốc Kiệm, cũng có nhiều con cháu đi XKLĐ. Ông Kiệm có một người con đi XKLĐ, sau khi về nước có tiền xây dựng trung tâm thương mại trị giá khoảng 7 tỷ đồng ở xã Bảo Thành kế bên để cho thuê.
Phó Chủ tịch xã Sơn Thành Nguyễn Khắc Đào cho biết thêm: “Nếu chia bình quân thì mỗi hộ ở xã Sơn Thành có hơn 1 người đi lao động ở nước ngoài. Hiện tại gia đình Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy xã, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã… đều có con, em đi lao động ở nước ngoài. Kiều hối mỗi năm gửi về khoảng 180.000 USD là con số tính được. Có nhà mỗi năm gửi về cả triệu USD.”
Cách Sơn Thành không xa là xã “tỷ phú” Đô Thành, nằm ở phía đông bắc huyện Yên Thành, giáp ranh với huyện Diễn Châu. Xưa vốn là một vùng đất nghèo khó, cuộc sống người dân chủ yếu dựa vào cây lúa. Tuy nhiên, do Đô Thành thuộc vùng đất trũng, quanh năm ngập úng, chua phèn nên thường xuyên mất mùa, cuộc sống vô cùng nghèo khó.
Cuối thập kỷ 1980, đầu 1990, các lao động ở Đô Thành bắt đầu tìm được mối để đi XKLĐ sang các nước như Đức, Ba Lan, Nga… Ban đầu chỉ một vài người đi, về sau thấy làm ăn được nên họ về đưa anh em, họ hàng cùng xuất ngoại. Cứ thế, lượng người đi XKLĐ ngày một tăng lên. Nhờ đó, cuộc sống người dân nơi đây đã đổi thay một cách chóng mặt. Những ngôi nhà cao tầng mọc lên san sát. Hiện tại Đô Thành có hơn 300 tỷ phú có từ 10 tỷ đồng trở lên, khoảng 2000 ngôi nhà tầng và gần 300 xe ô tô các loại.
Ông Nguyễn Văn Xuyên, Chủ tịch UBND xã Đô Thành cho biết: “Ngoài các nước châu Âu đi trước đây thì giờ người dân đi xuất khẩu lao động Algeria,Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia nhiều hơn. Từ năm 2005, có thêm phong trào đi sang Lào, Thái Lan làm ăn, cũng cho thu nhập khá. Lào và Thái Lan thì người dân đi đi, về về thường xuyên”.
Những năm gần đây, thị trường Lào làm ăn dễ dàng nên một bộ phận lao động ở Đô Thành bắt đầu sang Lào tìm kiếm cơ hội làm giàu, đặc biệt là thế hệ trẻ. Một khu làng Việt kiều Lào với những Công ty, doanh nghiệp được dựng lên bên bờ kênh Vực Bách, trở thành một trong những xóm tỷ phú của xã Đô Thành.
Ông Phan Văn Tuyên, Chủ tịch UBND huyện Yên Thành chia sẻ: “Khoảng 10 năm về trước thì Yên Thành còn rất nghèo. Từ ngày có phong trào XKLĐ nhiều vùng quê đã thoát nghèo, thậm chí trở nên khá và giàu. Những năm gần đây, huyện luôn có đề án về XKLĐ, xem đây là hướng chính để thoát nghèo và làm giàu”.
Cũng theo ông Tuyên, huyện luôn tuyên truyền để người dân đi XKLĐ bằng các con đường chính thống. Các doanh nghiệp về địa bàn tuyển nhân lực đi XKLĐ đều phải được tỉnh giới thiệu thì huyện mới cho phép.
Như vậy, Nghệ An có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,89%, cao hơn cả Hà Nội là 8,5%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch sau khi nhiều lao động được xuất ngoại. Tính đến tháng 6/2017, thu nhập bình quân đầu người ước đạt hơn 100 triệu đồng, tăng gấp 2 lần so với năm 2010



Ngày thứ 2 kinh hoàng của 34 lao động Việt Nam tại Đài Loan
Sáng ngày 17/7, Sau khi lệnh truy quét người lao động được ban hành,lực lượng cảnh sát thành phố Gia Nghĩa (Chiayi), Đài Loan ra quân đã bắt giữ 34 người nước ngoài. Được biết, cả 34 người này đều đang lao động trái phép tại Đài Loan, trong đó có 26 đối tượng từng bỏ trốn khỏi nơi làm việc chính thức.
Phối hợp cùng với cơ quan nhập cư, phát hiện dấu hiệu đáng ngờ, cảnh sát Gia Nghĩa đã cho dừng chiếc xe bus du lịch đang di chuyển trên tỉnh lộ 3 thuộc thị trấn Chungpu. Trên xe, cảnh sát đã phát hiện ra 34 người nước ngoài, trong đó có 14 người Việt Nam và 12 người Indonesia, hiện đang làm việc trái phép tại Đài Loan.
Ngay sau đó, 34 lao động này đã được đưa đến Cơ quan di trú Đài Loan để tiến hành thẩm vấn. Qua điều tra, 26 người Việt Nam và Indonesia đã bỏ trốn khỏi nơi làm việc chính thức, trong khi 8 người còn lại đến Đài Loan dưới danh nghĩa khách du lịch đi thăm các thành viên trong gia đình.
Các cơ quan chức năng cho biết, những công nhân này vừa hoàn thành công việc trên một vườn chè thuộc khu vực núi Gia Nghĩa. Khi đang trên xe bus để tiếp tục làm việc tại khu vực Lalashan (thành phố Đào Viên) thì những người này đã bị lực lượng công an tạm giữ.
Phía công an Đài Loan nghi ngờ đã có một đường dây môi giới việc làm trái phép đứng đằng sau những công nhân nước ngoài này và đang tiến hành mở rộng điều tra để làm sáng tỏ vụ việc.
Đài Loan mở chiến dịch truy quét người BHP.Từ ngày 15/07 đến ngày 16/08, Cảnh sát sẽ đến kiểm tra tất cả các ga tàu đều sẽ bị kiểm tra nghiêm ngặt . Các quán ăn Đồng loạt kiểm tra, Nhất là khu vực Đào Viên , Zhong Ly , Xin Zhoang , Đài Trung , Fong Yu …..Tất cả công ty , các đường phố, siêu thị nơi tập trung nhiều ng ngoại quốc để truy bắt lao động bất hợp pháp.

Đây là chiến dịch truy quét BHP mạnh nhất kể từ khi tổng thống mới lên nắm quyền và thi hành nhiều chính sách cải cách kinh tế đất nước trong đó có việc trục xuất lao động chui để củng cố công ăn việc làm cho chính người dân Đài Loan
Trong nhiều năm qua, thực trạng lao động Việt Nam sang Đài Loan làm việc sau đó bỏ trốn đang là vấn nạn của cả hai nước. Chính vì điều này, hiện cơ chế xử phạt cho những đối tượng này cũng ngày một nâng lên và được thắt chặt. Do đó, người lao động phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật, làm việc và về nước đúng hạn.
Nhiều lao động Việt Nam ở Đài Loan đã bỏ trốn ra ngoài làm chui với hy vọng làm giàu nhanh chóng. Tuy nhiên, cuộc sống chui lủi, luôn phải lẩn trốn đã kéo theo nhiều hệ lụy.
Ở Đài Loan hiện nay có khoảng gần 11.000 lao động Việt Nam đang làm “chui”. Việc ngầm hiểu, cuộc sống khi làm chui, người lao động có thể làm giàu nhanh chóng, tuy nhiên thực tế, họ phải sống lẩn trốn, chui lủi kèm theo là nỗi lo sợ thường trực.
Trại Tam Hiệp, nơi giam giữ người nước ngoài lao động bất hợp pháp lớn nhất ở Đài Loan; trong trại có 90 lao động Việt Nam (16 nam, 74 nữ).
Anh Trần Duy H – lao động quê ở Bắc Giang cho biết: Anh làm việc ở Đài Loan được 03 năm ở một công ty cơ khí có trụ sở tại Chupei, sau khi hết hợp đồng anh bỏ trốn ra ngoài làm “chui” và bị cảnh sát bắt cách đây 02 tháng khi đang đi lang thang.
Tương tự, anh Nguyễn Hoàng T – lao động làm chui ở Đài Loan quê Phú Thọ nói: “Khi bị bắt vào trại anh phải dốc hết đồng tiền cuối cùng – tương đương gần 10 triệu đồng để nộp phạt cho cảnh sát, cùng án tạm giam chưa biết bao giờ được về.
Theo quy định của luật pháp Đài Loan, người sử dụng lao động chui bị phạt một khoản tương đương 20.000 USD, lao động nước ngoài bỏ trốn đi làm chui sẽ bị tạm giam và phạt 18.000 NT$. Chính phủ Việt Nam cũng vừa ra quy định: lao động Việt Nam ở nước ngoài bỏ trốn, bị trục xuất về nước sẽ bị xử phạt hành chính từ 5 đến 50 triệu đồng, nếu nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Người lao động không nghĩ rằng việc bỏ trốn làm chui có thể dẫn đến những hệ lụy đáng tiếc: Không được hưởng chính sách về BHXH, bảo hiểm rủi ro tai nạn (không được bồi thường khi xảy ra tai nạn, tử vong, bệnh tật…), bị chủ lao động quỵt lương và thường xuyên trong tình trạng lo sợ bị cảnh sát kiểm tra và trục xuất về nước…Đây được coi là kinh nghiệm quý báu cho người lao động trước khi đi làm việc tại Đài Loan.

Nguồn: Internet


RFI: Ấn, Nhật, Mỹ, Việt : Bốn nước ngáng chân Trung Quốc tại Biển Đông

Thụy My

mediaTàu khu trục Mỹ USS Mustin (DDG 89) cùng tàu Nhật Bản JS Kirisame (DD 104) và JS Asayuki (DD 132) trong cuộc thao diễn ở Biển Đông 21/04/2015.Courtesy David Flewellyn/U.S. Navy/Handout via REUTERS
Theo tác giả Ralph Jennings trên Forbes, một năm sau phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế La Haye, Trung Quốc lại càng thống trị Biển Đông hơn, bất chấp đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan. Đó là vì Trung Quốc bác bỏ phán quyết, nhưng đã tăng cường hợp tác kinh tế với một số nước để chắc chắn rằng không ai có thể gây phiền nhiễu.
Trung Quốc có quân đội đứng thứ ba thế giới và tổng sản phẩm nội địa thứ nhì thế giới, khiến khó thể đối phó với việc Bắc Kinh kiểm soát Biển Đông, đặc biệt đối với các quốc gia Đông Nam Á nhỏ yếu hơn. Nhưng không phải tất cả đều bó tay, mà theo nhà báo Ralph Jennings, có bốn quốc gia sau đây có thể tạt một gáo nước lạnh vào tham vọng kiểm soát vùng biển 3,5 triệu kilomet vuông giàu tài nguyên và mang tính chiến lược này.
1 - Ấn Độ
Ấn Độ không yêu sách chủ quyền Biển Đông, nhưng hy vọng ngăn chận được sự bành trướng của Trung Quốc. Quốc gia đồng minh của phương Tây với trang bị vũ khí hùng hậu, có hai khu vực biên giới tranh chấp với Trung Quốc đã đưa ra chính sách Hướng Đông năm 2014 để cải thiện quan hệ với các nước Đông Nam Á vốn đang tăng trưởng nhanh chóng. Giả sử rằng Ấn Độ có thể hành động về kinh tế, nhưng có thể còn hơn thế nữa.
Hồi tháng Năm, Ấn Độ đã triển khai một hệ thống cảnh báo sóng thần tại Biển Đông, mặc dù Trung Quốc đã cho vận hành một hệ thống như thế. Năm 2014, chi nhánh hải ngoại của tập đoàn nhà nước ONGC đạt được thỏa thuận với Việt Nam về việc khai thác một vùng biển chồng lấn với “đường lưỡi bò” do Bắc Kinh tự vẽ. Trung Quốc không phản đối hệ thống cảnh báo sóng thần của Ấn Độ, nhưng kém vui hơn về thỏa thuận dầu khí.
2 – Nhật Bản
Là đối trọng của Trung Quốc tại châu Á, Nhật Bản năm 2014 đã tặng cho Việt Nam sáu chiếc tàu và năm ngoái đã đồng ý cho Philippines thuê năm phi cơ quân sự. Đây chỉ là hai trong số những ví dụ về việc Tokyo hỗ trợ các nước có tranh chấp Biển Đông với Bắc Kinh.
Một số người coi Nhật Bản là một quốc gia được phương Tây ủy nhiệm chống lại sự bành trướng của Trung Quốc. Từ ngày 1/5, chiếc tàu chở trực thăng Izumo của Nhật bắt đầu hộ tống một tàu tiếp liệu của Mỹ, và có thể hoạt động tại Biển Đông trong tháng Tám với những chuyến cập cảng và tập trận với Ấn Độ, Hoa Kỳ tại vịnh Bengal.
Trung Quốc tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hiện do Tokyo quản lý, và rất lo lắng trước việc Nhật Bản tăng cường quân sự trong tương lai. Thế nên không có gì đáng ngạc nhiên khi một phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc hồi tháng Ba thông qua Tân Hoa Xã đã tuyên bố Nhật Bản không nên gây rắc rối trong khu vực.
3 – Hoa Kỳ
Tổng thống Mỹ Donald Trump cho đến tháng Tư vẫn có một cách nhìn khác về sự bành trướng trên biển của Trung Quốc, với hy vọng Tập Cận Bình giúp được một tay trong việc ngăn chận Bắc Triều Tiên triển khai hỏa tiễn đạn đạo. Nhưng sự hợp tác này có vẻ không mang lại được kết quả, nên từ cuối tháng Năm Hải quân Mỹ đã lại tiến hành hai chuyến tuần tra vì tự do hàng hải trên Biển Đông, để chứng tỏ vùng biển này không phải là ao nhà của Trung Quốc. Bắc Kinh phản đối cả hai hoạt động hải hành này.
Hoa Kỳ không hề đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông, nhưng Bắc Kinh lo sợ vì nước Mỹ với thực lực quân sự hùng mạnh có thể dễ dàng thành lập các liên minh quân sự với các nước Đông Nam Á. Ví dụ chính là cuộc tuần tra hải quân chung với Philippines kể từ năm 2014.
4 – Việt Nam
Đây là quốc gia tranh chấp chủ quyền Biển Đông duy nhất có khả năng đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc, từ việc bồi đắp đảo nhân tạo cho đến quân sự hóa các đảo. Cũng như các nước Đông Nam Á khác, Việt Nam giao thương nhiều với Trung Quốc với tổng giá trị trao đổi lên đến 95,8 tỉ đô la trong năm 2015.
Nhưng về cơ bản, Việt Nam không ưa Trung Quốc và không run sợ trước những cơn giận của người láng giềng khổng lồ, dù có quân đội nhỏ hơn. Có thể kể nhiều thế kỷ tranh chấp biên giới, trận chiến Hoàng Sa đẫm máu năm 1974 (nay quần đảo này do Trung Quốc kiểm soát), và sự đối đầu trên biển cách đây ba năm do Trung Quốc cho kéo một giàn khoan đến vùng biển Hoàng Sa. Việt Nam có thể trông cậy vào sự hỗ trợ của Ấn Độ và Nhật Bản nếu cần. Do vậy Việt Nam vẫn tiến hành xác quyết chủ quyền các đảo nhỏ của mình và khoan dầu tại các khu vực có thể bị dính vào “đường 9 đoạn” mà Trung Quốc vẽ ra để yêu sách chủ quyền tại Biển Đông. Bắc Kinh rất bực tức – một tướng Trung Quốc đã bỏ ngang chuyến thăm Hà Nội vào tháng trước – nhưng Việt Nam có đủ quyết tâm và sự hỗ trợ để đương cự.