Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2017

Bắc Âu có phải là “thiên đường xã hội”?

Đã từ lâu những người thiên tả viện dẫn sự thành công của các quốc gia Bắc Âu trong việc áp dụng hệ thống phúc lợi hào phóng, trợ cấp, an sinh xã hội cao là bằng chứng cho thấy “thiên đường xã hội” là có thể đạt được. Những cuộc tranh luận về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế và xã hội nên là lớn hay nhỏ luôn gay gắt và không có hồi kết khi phe tả chỉ vào Thụy Điển hay Đan Mạch là ví dụ cho cái gọi là “vừa công bằng vừa thịnh vượng” là một điều có thể đạt được. 


Như cả ở Mỹ, trung tâm của thế giới tư bản, một nhân vật cổ suý cho hình thức “chủ nghĩa xã hội dân chủ” đã suýt trở thành người đại diện cho 1 chính đảng tranh cử Tổng thống. Có lời giải lý hợp lý nào cho điều này hay không?

Cuối thế kỷ trước, sự tan rã của khối XHCN mà mở màn là Liên bang Xô Viết đã đánh một đòn nặng vào lý thuyết cánh tả và những người ủng hộ cho tư tưởng tin vào sự phân phối của chính phủ để đạt được xã hội thịnh vượng và công bằng. Với số lượng ít ỏi những nước tuân theo lý thuyết này còn sót lại, có nước phải mở cửa ào ạt đón nhận kinh tế tư bản với thị trường tự do là trung tâm, nước vẫn áp dụng nền kinh tế tập trung thì nghèo nàn què quặt. Tuy nhiên ở những đất nước cổ kính trên bán đảo Scandinavia, một thiên đường xã hội được vẽ ra trước mắt những người dân Mỹ và thế giới: trợ cấp xã hội cao, lương tối thiểu cao, giáo giục miễn phí đến hết đại học và y tế miễn phí nhưng cả xã hội vẫn giàu có và hạnh phúc. Các nhà kinh tế học theo trường phái tư bản tự do có thể lý giải điều này như thế nào?



Năm 2016, ông Bernie Sanders, thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ của bang Vermont của Mỹ, nổi bật lên trong cuộc bầu cử sơ bộ với đường lối “dân chủ xã hội”, cổ suý nước Mỹ hãy học theo Đan Mạch, Thụy Điển để đem đến một cuộc sống sung túc cho người dân lao động. Tuy nhiên người Mỹ cũng nhìn sang những quốc gia xã hội ngay trên châu lục của mình, Venezuela và Brazil và được chứng kiến những xã hội đổ vỡ một cách thảm hoạ sau cuộc thử nghiệm hàng chục năm cái triết lý họ mang về từ tận nước Nga xa xôi.

Tại sao các nước Bắc Âu thì thành công, còn những quốc gia khác thất bại? Câu trả lời là vì các nước Bắc Âu không phải là những nước XHCN.

Các quốc gia trên bán đảo xinh đẹp này, giống như tất cả các quốc gia phát triển khác, đều có một nền kinh tế rất tự do và tôn trọng kinh tế thị trường. Tức là của cải của xã hội là do cá nhân sở hữu chứ không phải nhà nước hay cộng đồng, các nguồn tài nguyên do thị trường phân phối, không phải do chính phủ lập kế hoạch hay quyết định. Các nền kinh tế của họ cũng khuyến khích kinh doanh với ít quy định quan liêu. Chính phủ Đan Mạch không quy định mức lương tối thiểu như nhiều người lầm tưởng, mức lương tối thiếu của họ được thoả thuận hợp lý giữa doanh nghiệp và công đoàn.


Đúng là Đan Mạch, Thụy Điển và Na Uy cung cấp một hệ thống an sinh xã hội hào phóng cũng như y tế, giáo dục miễn phí cho người dân, giống như chính sách hình thức của các quốc gia xã hội chủ nghĩa khác. Nhưng họ làm được điều đó dựa trên 2 yếu tố: “tích luỹ của cải xã hội trong giai đoạn phát triển thịnh vượng và một nền văn hoá đạo đức cao”.

“Chúng ta nên nhìn vào những quốc gia như Đan Mạch, như Thụy Điển và Na Uy, và học từ những điều họ đã làm được cho người dân lao động của họ“, ông Sanders nói trong một cuộc tranh luận trên truyền hình năm 2016. Khi người dẫn chương trình quay sang hỏi Hillary Clinton, bà ta cũng đồng ý rằng nước Mỹ phải “cứu chủ nghĩa tư bản khỏi sự thất bại của chính nó”, và đúng “Bán đảo Scandinavia thật tuyệt vời. Tôi yêu Đan Mạch“, bà Clinton trả lời.

Phe tả ở Mỹ có một tình yêu mãnh liệt với Bắc Âu trong hàng thập kỷ qua. “Đó là một quốc gia mà cái tên thôi cũng trở thành từ đồng nghĩa với thiên đường vật chất“, tạp chí Time viết trong một bài xã luận về Thụy Điển năm 1976. “Người dân ở đây được hưởng tiêu chuẩn sống hàng đầu thế giới … không một vấn đề nào như sức khoẻ yếu, thất nghiệp hay tuổi già gây gánh nặng tài chính đối với họ. Hệ thống phúc lợi trọn đời của Thụy Điển là vô song đối với bất kỳ xã hội tự do nào bên ngoài Scandinavia“. Năm 2010, một câu chuyện của Đài phát thanh quốc gia Mỹ ca ngợi cái cách “Đan Mạch phát triển thịnh vượng bất chấp thuế cao“. Đài NPR nói, quốc gia nhỏ bé Bắc Âu này, dường như đã phá vỡ quy luật trong kinh tế học, đã làm được điều mà những nhà kinh tế bảo thủ của Mỹ cho là bất khả thi: giảm tỷ lệ thất nghiệp và nghèo đói trong khi tăng thuế cao chót vót.

Nhưng một điều thú vị là chính những người Thụy Điển lại tách biệt họ hoàn toàn với những gì mà ông Sanders hay bà Clinton cỗ vũ. Vào năm 2015, Thủ tướng Đan Mạch khẳng định rõ ràng rằng nước ông không phải là chủ nghĩa xã hội.

“Tôi biết có một số người ở Mỹ coi mô hình kinh tế Bắc Âu tương quan với một loại xã hội chủ nghĩa nào đó. Vì thế tôi muốn làm rõ một điều. Đan Mạch không phải là nền kinh tế tập trung chủ nghĩa. Đan Mạch là một nền kinh tế thị trường“, ông Lars Lokke Rasmussen nói tại trường Harvard.

Học giả Thụy Điển Nima Sanandaji giải thích, sự giàu có của xã hội Bắc Âu mà từ đó các chính sách nhà nước phúc lợi của họ được dựng lên không phải là sản phẩm của CNXH. Trong cuốn sách: “Chủ nghĩa phi biệt lệ Scandinavia“, ông Sanandaji chỉ ra sự thịnh vượng của Thụy Điển “được tạo ra trong thời gian mà các chính sách tôn trọng thị trường tự do thống trị, thuế thấp hoặc trung bình, chính phủ can thiệp ít vào nền kinh tế“.

Chẳng hạn, Thụy Điển là một quốc gia nghèo trong hầu hết thế kỷ 19. Chính vì thế, vào những năm 1800, một làn sóng di cư lớn những người Thụy Điển tới Mỹ để tìm cuộc sống tốt đẹp hơn. Thay đổi bắt đầu từ khoảng năm 1870, khi Stockholm tiến hành cải cách kinh tế thị trường. Chủ nghĩa tư bản năng động thay cho hệ thống nông nghiệp lạc hậu, và nhờ thế nước này đã giàu lên nhanh chóng. “Quyền tư hữu tài sản, thị trường tự do và pháp quyền kết hợp cùng với thế hệ những kỹ sư và doanh nhân được giáo dục tốt“, Sanandaji viết. Kết quả của sự kết hợp này là người dân Thụy Điển đã được chứng kiến “Một giai đoạn phát triển kinh tế nhanh và bền vững chưa từng có”. Trên thực tế, từ giữa năm 1870 đến 1936, Thụy Điển có tỷ lệ phát triển kinh tế cao nhất trong các quốc gia công nghiệp.

Phải đến cuối những năm 1960, chính phủ các quốc gia giàu có này mới quyết định chuyển sang cánh tả, và tới 1970 thì thuế bắt đầu tăng, phúc lợi xã hội hào phóng hơn, nhưng tinh thần khởi nghiệp quốc gia bị suy giảm.

Và xã hội Thụy Điển cũng không phải thiên đường trên mặt đất.

Cùng bài báo năm 1976, tờ Time viết Thụy Điển đang phải vật lộn với những vấn nạn như tội phạm, ma tuý, hiện tượng ỷ lại vào phúc lợi nhà nước và nạn quan liêu trở thành bệnh dịch. Những người Thụy Điển thành công, chẳng hạn Ingmar Bergman (đạo diễn phim nổi tiếng) – đang phải bỏ chạy ra nước ngoài để trốn hệ thống thuế cao chết người.

“Những con số cứ gia tăng khiến người ta dằn vặt bởi một câu hỏi quặn lòng lặp đi lặp lại: Liệu thiên đường Thụy Điển đang tụt dốc?“, tờ Time đặt câu hỏi.

Với việc tăng thuế, tỷ lệ phát triển cao nhất thế giới của Thụy Điển giảm nhanh chóng. Năm 1975, Thụy Điển là quốc gia giàu thứ 4 trên trái đất, tính theo GDP trên đầu người. Năm 1993, nước này tụt xuống vị trí 14. Sanandaji gọi cuộc thử nghiệm xã hội chủ nghĩa của Thụy Điển là “một thất bại khổng lồ”.

Tình trạng của Đan Mạch cũng tương tự như thế. Các khoản trợ cấp xa xỉ đang bị thu hồi trong bối cảnh người ta lo ngại về tình trạng lạm dụng phúc lợi xã hội và đạo đức làm việc bị xói mòn. Trong cuộc bầu cử gần đây nhất, chính phủ cánh tả của Đan Mạch đã bị thay thế bằng một chính phủ trung hữu.

Tại Đan Mạch, học Cao đẳng, Đại học không chỉ miễn phí, mà sinh viên còn được nhận 1.000 USD/tháng trợ cấp sinh hoạt từ ngân sách chính phủ. Kết quả là sinh viên ở đây mất trung bình 6,1 năm để hoàn thành chương trình học được thiết kế cho 5 năm. Nước này cũng đánh thuế xe hơi lên đến 180% giá trị của chiếc xe, có lẽ để trả cho chương trình giáo dục tốn kém của mình.

Về tổng thể, mô hình kinh tế – xã hội của các nước Scandinavia tồn tại và có thành tựu lớn. Nhưng mấu chốt thực sự trong sự thành công độc đáo của bán đảo này không phải là nhờ vì các chính sách lệch tả, mà đó là văn hoá. Một xã hội gần như đồng nhất, một nền văn hoá coi trọng thành tín và trung thực, các mối liên kết cộng đồng lâu đời không bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế toàn cầu và sự hỗn loạn của nhập cư, tinh thần trách nhiệm và sự tin tưởng vào pháp luật, đây là những yếu tố văn hoá bám rễ vào khu vực này trong hàng thập kỷ. Trong một cộng đồng dân cư nhỏ và thuần nhất, ít pha tạp (phần lớn là theo đạo Tin Lành và là dân bản địa), những quy tắc đạo đức này có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi của người dân. Sự tích luỹ tài sản trong giai đoạn phát triển kinh tế cao, cộng với nền văn hoá hướng đến chuẩn mực cao của con người không phải sinh ra nhờ chính sách cánh tả, nó đã giúp quốc gia này sống sót và thịnh vượng bất chấp những chính sách này.

Tác giả Sanandaji còn đưa ra một quan sát rằng khi những người Bắc Âu rời bỏ quê hương tới Mỹ, họ mang theo cả những giá trị văn hoá tốt đẹp này đi theo, và nhờ thế thành tựu họ đạt được cũng tốt hơn. Những người Mỹ gốc Scandinavia có thu nhập cao hơn và tỷ lệ nghèo thấp hơn mức trung bình của Hoa Kỳ. Những người Mỹ gốc Đan Mạch có thành tích kinh tế vượt trội hơn so với người Đan Mạch vẫn sống ở Đan Mạch, cũng như người Mỹ gốc Thụy Điển giàu có hơn người Thụy Điển và người Mỹ gốc Phần Lan so với người bản địa tại Phần Lan. Nền văn hoá của bán đảo Scandinavia là một phúc lành đối với những quốc gia này, đồng thời cũng là phúc lành cho những người bà con đang sống bên kia đại dương.

Các nước Scandinavia không hề “phá vỡ quy luật của kinh tế học”, họ đã xác nhận điều đó. Với kinh tế tự do và một nền văn hoá với các giá trị đạo đức cao, hầu như tất cả các xã hội đều thịnh vượng.

Minh Trí

(Trí Thức)

Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2017

Chuyện trao trả tù binh trong chiến tranh Việt- Trung


This entry was posted on Tháng Bảy 27, 2017, in Lịch sử Việt Nam and tagged , . Bookmark the permalink. Bạn nghĩ gì về bài viết này?


1392592892.nv
Tác giả (giữa) trong một cuộc trao đổi tù binh. Ảnh chụp vào mùa đông năm 1982 tại biên giới Việt – Trung. Sau lưng nhà báo Dunai Péter là phía Trung Quốc. Cạnh tác giả là nhà báo Terzieff, phóng viên Hãng Thông tấn Bulgaria BTA
Duna Péter
Nguyễn Hoàng Linh dịch và giới thiệu
Dunai Péter, tác giả cuốn sách về Việt Nam “Một trăm ngàn cây số tại Việt Nam” (Százezer kilométer Vietnamban, NXB Kossuth 1986), từng là phóng viên thường trú ở Việt Nam của nhật báo “Tự do Nhân dân” (Népszabadság) và của Hãng Thông tấn Hungary MTI.
Ông là một nhà báo tài ba, đã từng khẳng định mình ở cả Moscow và Tây Đức, theo nhận định của cựu Đại sứ Hungary tại Việt Nam Szász Dénes, người có vợ Việt và nói, đọc thạo tiếng Việt, cũng như đã có nhiều năm làm việc cùng Dunai Péter tại Hà Nội.
Bài viết sau đây của Dunai Péter nằm trong loạt hồi tưởng về những năm, tháng ở Việt Nam, kèm những nhận định, phân tích trên cương vị một nhà báo, đồng thời cũng là chuyên gia tư vấn và nghiên cứu về các vấn đề quân sự và an ninh.
Trong bài viết, Dunai Péter đả động tới cuộc chiến xâm lược Việt Nam năm 1979 do chính quyền Trung Quốc khởi động, thông qua một số sự việc mà ông có dịp tận mắt chứng kiến, trên tư cách một trong số không nhiều ký giả nước ngoài tại Việt Nam thời đó.
Ba mươi lăm năm trước, đúng vào những ngày này, đã nổ ra đụng độ vũ trang giữa Việt Nam và Trung Quốc (Chiến tranh biên giới Việt-Trung*), mà chúng ta có thể bình tâm gọi là “chiến tranh”. Vào ngày 17-2-1979 Trung Quốc đã huy động một lực lượng quân sự khổng lồ (theo các nguồn tin Phương Tây gồm 9 quân đoàn, 3 đại quân khu (phương diện quân) và vài chục sư đoàn, cùng lực lượng không quân) để tấn công nước láng giềng Việt Nam.
Nhiều sử gia gọi sự kiện này là cuộc chiến Đông Dương lần thứ ba (sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc chiến đấu chống Mỹ và các đồng minh).
Tuy nhiên, những kẻ tấn công đã gặp phải một đối thủ đáng gờm. Quân đội Việt Nam trưởng thành và thu được nhiều kinh nghiệm trong những cuộc chiến giành độc lập dân tộc trước quân đội Mỹ và chính quyền miền Nam, và những kinh nghiệm ấy đã được nhân lên trong cuộc chiến chống lại những đợt tấn công của kẻ thù phương Bắc.
Xin được ghi lại trong vài dòng những hồi tưởng của tôi liên quan tới cuộc chiến này. Tôi đến Việt Nam đầu năm 1981 trên cương vị phóng viên chung của nhật báo “Tự do Nhân dân” (Népszabadság) và Hãng Thông tấn Hungary MTI, khi những cuộc chiến ác liệt đã khép lại. Cũng như những người “tiền nhiệm”, tôi dự định sẽ ở Việt Nam trong vòng 1 năm, nhưng rồi khoảng thời gian này đã kéo dài gần 4 năm.
Tôi đã yêu đất nước và con người Việt Nam. Cho dù thời kỳ đó người dân Việt Nam phải trải qua một giai đoạn hết sức khó khăn. Sau những cuộc chiến dài nhiều thập kỷ chống thực dân Pháp và đế quốc Nhật, cuộc chiến hơn mười năm chống lại quân đội Mỹ và đồng minh Nam – Việt Nam của họ khiến người dân Việt Nam hết sức kiệt quệ cả về lực lẫn kinh tế. Trong tình trạng suy kiệt ấy, Việt Nam đã bị tấn công từ phương Bắc.
Tôi có nhiều dịp tới vùng biên giới phía Bắc giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bộ Ngoại giao Việt Nam thường xuyên tổ chức những chuyến đi tới vùng biên giới cho nhóm phóng viên ngoại quốc chỉ có vỏn vẹn vài người lúc đó đang ở Hà Nội. Lần nào tôi cũng tham gia những chuyến đi đó, một phần vì rất thú vị khi được thấy một miền quê ở khu vực mà một nhà báo không thể tới được theo cách khác, mặt khác, tôi được thúc đẩy bởi động lực vĩnh cửu của một phóng viên: tôi cần phải ở đó, bằng không nếu xảy ra điều gì quan trọng mà tôi lại chậm chân thì…
Tôi là đại diện duy nhất của báo chí Hungary. Tôi đi xe riêng tới Lạng Sơn, nhưng từ đó thì Bộ Ngoại giao Việt Nam hoặc quân đội bố trí cho nhóm phóng viên phương tiện di chuyển, xe buýt hoặc Jeep và nhóm hộ tống có vũ trang. Chúng tôi đi lên phía Bắc, về phía biên giới, qua những xóm làng bị đạn bom tàn phá hoang tàn, những vùng cư dân không còn bóng người.
Đồng Đăng là thị trấn lớn cuối cùng mà chúng tôi đi qua, đau lòng vô cùng khi thấy một thành phố chết chìm trong đổ nát. Những đạo quân Trung Quốc khi rút lui đã cho nổ hết nhà cửa, tiêu hủy tất cả những gì có thể ích lợi với cư dân: các toa tàu hỏa, đường ray, thiết bị trong nhà máy, đường xá, kênh đào…
Khi không còn đường cho xe đi đi, chúng tôi xuống xe và tiếp tục đi bộ cho đến biên giới – đôi lúc, đấy chỉ là những đường mòn hẹp tới mức chúng tôi phải đi theo hàng một. Xung quanh chúng tôi là khu vực đã được rà mìn. Cho đến giờ tôi vẫn còn nhớ rằng đâu đâu cũng có dòng chữ “Có mìn” viết trên đá và những tấm biển nhỏ, cảnh báo những nơi chưa được rà mìn.
Cần phải tuân thủ nghiêm túc lời cảnh báo này – chúng tôi đã ý thức được qua một trường hợp buồn bã. Một bận, khi chúng tôi đi qua một đường mòn hẹp để tới đoạn biên giới Việt – Trung diễn ra trao trả tù binh, một tiếng nổ và khói mù mịt bay lên trong khu rừng rậm khiến bầy chim đang lượn trên những ngọn cỏ cao tới đầu người phải hoảng hốt.
Cả đoàn người sững lại, chỉ về sau chúng tôi mới biết điều gì đã xảy ra. Sau chúng tôi là nhóm tù binh Trung Quốc gồm 50-60 người đang đi tới điểm trao trả. Có thể là một tù binh, dù đã bị cấm, nhưng ngại tiểu tiện trước mặt những kẻ khác, đã đi thêm vào bước vào rừng, đến khu vực cấm. Anh ta dẫm lên một trái mìn, mìn nổ khiến anh ta cụt bàn chân. Không chết nhưng người tù binh này cũng bị thương nặng.
1392593419.nv
Một tòa nhà xây năm 1976 tại Cao Bằng, bị quân đội Trung Quốc san bằng trong cuộc chiến xâm lược 1979
Bản thân việc trao đổi tù binh diễn ra theo một nghi thức nghiêm ngặt do hai bên tham chiến ấn định. Tại đây đường biên giới được biểu tượng bởi một vạch vôi màu trắng, có bề rộng bằng mu bàn tay, được quét hình chữ thập lên con đường rải bê-tông rộng chừng 5m, là nơi được tránh mọi mũi tên hòn đạn và mìn nổ. Các bạn Việt Nam lưu ý chúng tôi bằng mọi giá đừng có bước lên đường biên, vì sẽ có cớ để bên kia coi như một sự khiêu khích.
Tiến đến gần biên giới, chúng tôi liếc nhìn thấy những người Hoa. Ở hai bên của con đường, các quân nhân có vũ trang đứng làm hai hàng, trước họ là một người có vẻ như quan chức ngoại giao vận áo kiểu Tôn Trung Sơn, bên cạnh người này là một nhóm ký giải, phóng viên ảnh đang nhộn nhạo chuẩn bị máy quay.
Thời đó còn chưa có – ít nhất là tại Việt Nam và Trung Quốc – loại máy quay cầm tay đa chức năng TV – máy quay – đầu phát video – mà người quay phim ở cả hai bên đều dùng máy quay chạy bằng pin, hoặc loại “lên dây” bằng lò xo. Cả hai bên đều rất hăng hái chụp ảnh lẫn nhau, cố nhiên lý do không đơn thuần chỉ là sự tò mò của các nhà báo.
Trong hồ sơ lưu trữ của cơ quan quân báo Trung Quốc có thể cũng có vài chục tấm ảnh chụp tôi thời đấy. (Dầu sao, hơn chục năm sau, khi tôi đã chuyển sang Bắc Kinh trên cương vị phóng viên thường trú của “Tự do Nhân dân”, chưa bao giờ có viên chức Trung Quốc nào bảo tôi “thưa ngài, chúng tôi đã thấy ngài ở bên kia biên giới phía Nam, bên Việt Nam”. Nói thêm là đến lúc đó các mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đã được bình thường hóa…).
Trở lại năm 1981. Tại biên giới phía bên Việt Nam, một sĩ quan Quân đội Nhân dân đứng lên và đọc một bài đã được viết sẵn, rồi các tù binh Trung Quốc, từng người một, đi sang phía bên kia biên giới. Tất cả đều mặc bộ quần áo giản dị và sạch sẽ màu xanh xám, mỗi người cầm một túi nhỏ, bên trong là những món quà.
Trong vụ trao đổi tù binh này có một tấn tuồng gì đấy mang tính kỳ quặc và buồn bã. Nhiều tù binh Trung Quốc, khi vừa bước qua biên giới, đã quẳng ngay túi quà với động tác ngoạn mục. Cứ mỗi người như thế lại có hai y tá mặc áo choàng trắng tiến đến gần, ôm lấy, dìu đi như thể bị ốm nặng – mặc dù họ hoàn toàn khỏe mạnh, được ăn uống đầy đủ, và đây là điều mà không phải mọi người Việt đều có được trong những thời gian đói kém ấy.
Rồi sau đó đến lượt tù binh Việt Nam được trao trả từ phía Trung Quốc. Những người lính Việt cũng mặc đồng phục sạch sẽ, tay cầm túi quà, nhưng không cư xử hề như một bộ phận tù binh Trung Quốc. Ở phía Việt Nam, một sĩ quan trong Ủy ban đón tiếp ôm chầm lấy từng người, nói “các đồng chí đã trở về quê hương”, rồi những người này lặng lẽ lùi ra sau để nhường chỗ cho người khác.
Mỗi cuộc trao đổi tù binh như thế kéo dài không quá một tiếng rưỡi. Sau đó chúng tôi quay trở lại cũng trên con đường mòn chật hẹp ấy để trở lại xe, đi qua thị trấn Đồng Đăng bị tàn phá tan hoang đượm buồn, qua các làng bản và rồi một lát đã về tới Lạng Sơn.
000
Các phóng viên báo chí chứng kiến sự trao trả tù binh tại biên giới Việt – Trung – Ảnh: Dunai Péter
Sau xung đột nghiêm trọng ở vùng biên giới tháng 4-1984, các bạn Việt Nam đưa giới phóng viên chúng tôi đến một đoạn khác của biên giới, tại đây chúng tôi có thể quan sát hoạt động của một trung đội biên phòng Việt Nam. Chương trình này kéo dài nhiều ngày, chúng tôi ngủ tại một doanh trại quân đội ở một xã nhỏ cạnh Lạng Sơn. Bộ đội Việt Nam cho chúng tôi mượn chăn vì ở vùng đó, về đêm nhiệt độ xuống gần 0 độ, mà độ ẩm lại cao nên rất khó chịu.
Một số chiến sĩ thuộc trung đội luyện các bài chiến thuật – tiếp cận mục tiêu ẩn. Được trang bị súng trường AK-47, tận dụng địa thế không bằng phẳng, họ bò sát đất để đến gần mục tiêu.
Trên sườn đồi nhìn về phía Trung Quốc (phía Bắc), tọa lạc hệ thống hào công sự ngoằn ngoèo, cứ một đoạn lại có cứ điểm đặt súng máy: đó là loại đại liên DShK 12,7 ly của Liên Xô, được gọi bằng cái tên “Dushka”. Đối diện với nó, trên những cánh đồng thuộc lãnh thổ Trung Quốc, nông dân vẫn làm việc, trồng lúa, họ cũng di chuyển nhịp nhàng hệt như những người Việt cùng số phận với họ.
Cuộc chiến biên giới rộ lên năm 1979, nhưng sau giai đoạn đầu đó xung đột quân sự giữa đôi bên vẫn âm ỉ trong nhiều năm dài. Các bạn tháp tùng tôi nói rằng thỉnh thoảng, Trung Quốc lại bắn từ phía họ sang lãnh thổ Việt Nam, họ dùng cả đại liên và đại bác – cố nhiên Việt Nam cũng không chịu để yên.
Thời trước tôi từng là lính pháo thủ, nên tôi có thể nhận ra dấu vết của tạc đạn loại 122 ly trên đồng ruộng bên Việt Nam, cách xa biên giới nhiều cây số. Pháo binh Trung Quốc dùng loại đạn nổ ngay khi tiếp đất, do đó nó tạo nên những “miệng núi lửa” đen xì đường kính 60-80cm, nhưng mảnh đạn của nó thì có thể oanh tạc người và động vật trong vòng 50-70m.
Những dư chấn của cuộc chiến Việt – Trung cũng có ảnh hưởng tới chúng tôi, giới phóng viên ở Hà Nội. Cho dù nhóm ký giả quốc tế này có nhỏ bé thế nào đi nữa, nhưng tại đó cũng có sự hiện diện của hãng tin Pháp AFP (và tờ “Nhân đạo”, l’Humanité), độc nhất trong số các hãng truyền thông lớn của Phương Tây.
Khi đó, tại Hà Nội, tòa đại sứ Trung Quốc vẫn hoạt động như một thế giới vô cùng khép kín. Đối với Bắc Kinh, quan trọng là họ đảm bảo được “thiện cảm” của giới phóng viên. Một bận, họ mời các phóng viên ngoại quốc tới Đại sứ quán Trung Quốc. Không phải tất cả đều nhận lời, nếu tôi nhớ không nhầm thì vài người, trong số đó có nhóm phóng viên Liên Xô – nhóm đông đảo nhất – đã từ chối.
Tôi thì đi, vì tôi là nhà báo, nhiệm vụ của tôi là phải thu nhập được thông tin một cách rộng rãi nhất trong phạm vi có thể. Khỏi phải nói là ở tại tòa đại sứ, tôi được chiều chuộng hết cỡ: được xem phim, mời ăn những món tuyệt vời và còn được tắm trong một bể bơi nước sạch tinh tươm – một thanh niên người Hoa vạm vỡ còn thách tôi thi bơi.
001_1
Lai Châu bị tàn phá ghê gớm – Ảnh: Dunai Péter
Cuộc chiến Việt – Trung 1979 (còn được gọi là cuộc chiến Đông Dương thứ ba) có mối quan hệ gì với chính trường thế giới? Trung Quốc, như họ muốn, muốn “cho Việt Nam một bài học” vì nước này vào năm 1978 đã khởi quân chống thể chế diệt chủng Pol Pot ở Cam Bốt, vốn được Bắc Kinh bảo trợ.
Họ chỉ chờ thời, và thời cơ tới khá nhanh: đầu năm 1979, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã sang thăm Hoa Kỳ để có được sự ủng hộ ngầm của Washington. Nếu không có được điều đó, khả năng là sau đó sáu tuần Bắc Kinh đã không dám hủy bỏ Hiệp ước Hữu nghị với Liên Xô, và hai ngày sau thì mở một cuộc tấn công quân sự trên bộ đối với Việt Nam với một sức mạnh chưa từng thấy ngay cả trong những năm diễn ra cuộc chiến Việt – Mỹ.

Bắc Kinh, khí đó cũng mới chỉ ra khỏi thời kỳ “cách mạng văn hóa” đẫm máu và để lại sự tàn phá ghê gớm, nghi rằng đằng sau sự trợ giúp của Việt Nam đối với nhân dân Cam Bốt là dụng ý của Moscow, nhằm cô lập hóa Trung Quốc. Tất nhiên vào dạo ấy điện Kremlin cũng có đủ vấn đề phải lo nghĩ, vì Liên Xô đang bên bờ vực thẳm của sự sụp đổ về kinh tế.
Cuộc chiến với Hoa Kỳ về công nghệ, được đẩy lên cực điểm trong cuộc chạy đua quân sự mang tên “Chiến tranh giữa các vì sao” của Ronald Reagan, rốt cục đã khiến Liên bang Xô-viết sụp đổ. Trung Quốc có thể an tâm, rằng trong một thời gian dài Moscow sẽ không đe dọa họ về quân sự, và gần như đồng thời với sự tan rã của đế chế này, mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc được bình thường hóa.
Vào thời điểm các sự kiện kể trên xảy ra – cách đây cũng đã hơn 35 năm -, Hoa Kỳ còn chưa có đại diện ngoại giao tại Hà Nội. Nếu ai đó nói với tôi, một phóng viên nước ngoài ở Hà Nội năm 1981, “cậu sẽ thấy, vài thập niên nữa USA sẽ là đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam”, khả năng là tôi sẽ phì cười. Điều đó giờ đã là một thực tế…

Sự thất bại của Hitler, Napoleon và bí ẩn phong thủy Moscow

Trong lịch sử, cả Napoleon lẫn Hitler, hai người dẫn đầu hai đoàn quân mạnh nhất vào thời điểm của mình, đều gặp phải thất bại ngay tại Moscow. Các nhà phong thủy cho rằng, chính nhờ những con “thủy long” bao bọc mà thủ đô của nước Nga đã tạo nên những kỳ tích…

phong thủy, moscow, Hitler,
Moscow bên bờ sông bờ sông Moskva. (Ảnh: Citiscope)
Thất bại ở Moscow
Ngày 21/71940, Hitler giao cho Bộ Tổng chỉ huy Lục quân Đức soạn thảo kế hoạch tấn công Liên Xô lấy tên là “Kế hoạch O”. Trong những chỉ thị sau đó, Hitler quyết định đổi tên cho cuộc tấn công có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh Đế chế thứ ba thành “Kế hoạch Barbarossa”, theo biệt hiệu của Hoàng đế La Mã Friedrich I ở thế kỉ 12.
Kế hoạch này dự định khởi sự ngày 15/6/1941, tấn công và đánh chiếm Liên Xô (chủ yếu là phần lãnh thổ thuộc châu Âu) trong một thời gian ngắn ngay trước khi kết thúc chiến tranh với Anh.
Ý đồ chiến lược của kế hoạch này là dùng ba đòn vu hồi liên tiếp chia cắt chính diện mặt trận Xô – Đức, hợp vây các lực lượng chủ yếu của quân Nga trên các vùng Pribaltic, Belorussia, Ukraina và miền Tây nước Nga (vùng phụ cận Smolensk).
Trọng tâm tác chiến là sử dụng các tập đoàn quân xe tăng thực hiện những đòn đột kích sâu ở phía Bắc và phía Nam khu vực đầm lầy Pripiat (khu tiếp giáp giữa Belorussia và Ukraina), tiêu diệt những cánh quân đã bị chia cắt trước khi tiến chiếm Moskva, Leningrad, vùng công nghiệp Donbass cũng như vùng đồng bằng trung và hạ lưu sông Volga.
Để có thể giành được một chiến thắng chớp nhoáng, quân Đức buộc phải nhanh chóng hủy diệt Hồng quân Liên Xô trong những chuỗi tấn công và hợp vây trên. Vì vậy, khác với cuộc tấn công của quân Pháp dưới sự lãnh đạo của đại đế Napoleon, mục tiêu chính yếu trước mắt của kế hoạch Barbarossa chính là Hồng quân Liên Xô và sau đó mới là đánh chiếm những vùng đất đai quan trọng hay đạt được những thắng lợi về chính trị.
Bản thân Hitler đã nói rằng, so với việc tiêu diệt Hồng quân thì “đánh chiếm Moscow không thật sự quá quan trọng”. Tuy nhiên, cũng giống như cuộc tấn công của Napoleon, chiến dịch quy mô của quân phát xít Đức đã phải dừng lại ở ngay cửa ngõ Moscow.
Sau một loạt thắng lợi trong giai đoạn đầu của “Kế hoạch Barbarossa”, ngày 30/9/1941, Hitler chính thức phê chuẩn chiến dịch “Typhoon” (Bão táp) tấn công Moscow. Hơn 2 triệu quân Đức được vũ trang tới tận răng ồ ạt kéo về thủ đô nước Nga. Trong Chỉ thị số 35 của mình, Hitler nói: “Phải bao vây Moscow sao cho không một tên lính Nga, không một người dân – dù là đàn ông, đàn bà hay trẻ con – có thể ra khỏi thành phố. Mọi mưu toan tẩu thoát đều phải đàn áp bằng vũ lực”.
Chỉ trong tuần lễ đầu tiên, quân Đức đã hoàn tất hai trận vây hãm lớn tại Briansk và Vyazma, bắt giữ thêm 600.000 tù binh Liên Xô, tạo một lỗ hổng lớn trước thủ đô Liên Xô, nhưng do những trận mưa mùa thu khiến đà tiến của quân Đức bị chậm lại. Thống kê sau 2 tuần, quân Đức bắt được 650.000 tù binh, phá hủy 5.000 pháo và 1.200 xe tăng và thiết giáp của quân đội Liên Xô.
Tới đầu tháng 11/1941, sau khi chọc thủng các phòng tuyến của quân Liên Xô, 6 tập đoàn quân Đức đã áp sát Moscow từ các hướng Tây, Tây Bắc, Tây Nam. Ngày 27/11, tại kênh đào Yakhroma, lính Đức đã có thể nhìn thấy những tòa tháp của nhà thờ Ivan Velikii trong khu vực điện Kremlin qua ống nhòm. Nhưng đây là vị trí gần Moscow nhất mà quân đội Đức Quốc xã có thể tiến đến được.
Đầu tháng 12/1941, một số đơn vị lính Đức lâm vào thế “chết đứng” do thiết giáp không thể vận hành dưới cái lạnh khủng khiếp. Ngày 4/12, tập đoàn quân xe tăng 2 của tướng Guderian phải dừng lại khi nhiệt độ là -35 độ, hôm sau nhiệt độ xuống thêm 2 độ nữa và xe tăng hầu như bất động trong khi quân đội Liên Xô liên tục phản kích từ khắp các phía.
Từ những ngày cuối năm 1941 tới những ngày đầu năm 1942, quân đội Liên Xô mở một đợt tấn công tổng lực vào quân đội đức đang bị vây khốn bởi cái lạnh giá của mùa đông Moscow. Bộ Tổng chỉ huy Đức hoàn toàn không ngờ chuyện đó có thể xảy ra. Tiến sát Moscow, một đội quân luôn tự vỗ ngực về những chiến dịch táo tợn và chớp nhoáng như quân đội Đức tuyệt nhiên không thể tiến thêm một bước nào, ngược lại bị đánh bật ra khỏi những vùng đất chiếm được xung quanh Moscow, có nơi lên tới 250km.
phong thủy, moscow, Hitler,
Hitler với lực lượng quân sự mạnh mẽ tiến công vào Moscow. (Ảnh: The Independent)
Nhiều người nói rằng, quân Đức không chiếm được Moscow hoàn toàn là do không tính đến điều kiện thời tiết mùa đông lạnh giá và khắc nghiệt của nước Nga. Trên thực tế, lý do không hẳn là như vậy. Bởi lẽ, sự bảo đảm về hậu cần của quân đội Đức rất tốt, có đầy đủ những thứ cần thiết để chống lạnh, do vậy họ hoàn toàn có thể khắc phục được vấn đề thời tiết. Hitler cho rằng, việc chiếm được Moscow trong vòng 2 tháng hoàn toàn không phải là vấn đề đối với quân Đức, hơn nữa vào lúc đó, quân Nga đã không còn binh lực để chống lại quân Đức nữa.
Tổng tham mưu trưởng quân đội Đức Franz Halder cũng từng nói, khi bắt đầu chiến dịch, quân Đức cho rằng Liên Xô chỉ có 200 sư đoàn, sau đó phát hiện ra rằng họ có tới 360 sư đoàn, tuy nhiên trước khi áp sát tới Moscow, họ đã tiêu diệt rất nhiều binh lực của Liên Xô, vì vậy, quân Đức cho rằng, một khi họ tiến đánh Moscow sẽ không gặp phải bất cứ sự kháng cự nào.
Tuy nhiên, Hitler đã đánh giá thấp về sức mạnh mà vị trí địa lý mang lại cho Moscow. Quân đội Liên Xô dựa lưng vào Moscow để chiến đấu và vì thế, họ đã làm nên kỳ tích. Thất bại tại mặt trận Moscow đã làm thất bại luôn kế hoạch Barbarossa của Hitler và từ đó dẫn tới thất bại của ông trùm phát xít trong Thế chiến thứ hai.
Những con số kỳ lạ
Như vậy, cả Napoleon lẫn Hitler, hai người dẫn đầu hai đoàn quân mạnh nhất vào thời điểm của mình, đều tấn công nước Nga với mục tiêu cuối cùng là hạ gục và chiếm được thành Moscow. Tuy nhiên, cả hai người cuối cùng đều gặp phải thất bại ngay tại Moscow, dù trong những hoàn cảnh khác nhau.
Người ta đã tìm thấy rất nhiều sự trùng hợp kỳ lạ trong từ cuộc đời cho tới hai cuộc tấn công Moscow của Napoleon và Hitler. Napoleon lên nắm quyền một cách chính thức vào năm 1804.
Ngày 18/5/1804, Napoleon tuyên bố trở thành Hoàng đế nước Pháp. Trong khi đó, Hitler nhờ âm mưu và thủ đoạn đã chính thức leo lên ghế Thủ tướng nước Đức vào ngày 30/1/1933. Cũng từ đó, nước Cộng hòa Đức chính thức bị xóa bỏ, thay vào đó là Đế chế thứ 3 do Hitler đứng đầu. Như vậy, tính về mặt thời gian, khoảng cách thời gian mà Napoleon và Hitler lên nắm quyền là 129 năm.
Năm 1809, Napoleon chiếm Vienna, thủ đô nước Áo. Vào đầu năm 1809, để đối phó với cuộc phản công lần thứ năm của phe đồng minh, không đợi cho chiến tranh ở Tây Ban Nha kết thúc, Napoleon đã vội vàng dẫn quân về nước thực hiện cuộc tấn công nước Áo. Dựa vào ý chí sắt đá của mình, Napoleon đã chuyển bại thành thắng, buộc nước Áo phải cắt đất cầu hòa.
Năm 1938, dưới sự giúp đỡ của những phần tử phát xít thân Đức ở Áo, không tốn một binh, một tốt, Hitler đã chiếm trọn nước Áo, thực hiện bước đầu tiên trong kế hoạch mở rộng xâm lược châu Âu. Khoảng cách thời gian mà Napoleon và Hitler đánh chiếm Vienna cũng là 129 năm.
Tới năm 1812, Napoleon dẫn theo một đội quân 500 nghìn người tấn công Moscow. 129 năm sau đó, những binh đoàn của Hitler cũng tiến sát tới thủ đô Moscow của Liên Xô. Thất bại của cả Napoleon lẫn Hitler đều bắt đầu từ thất bại tại Moscow.
phong thủy, moscow, Hitler,
Napoleon tiến quân vào Moscow. (Ảnh: History)
Napoleon thất bại năm 1816, Hitler thất bại năm 1945, khoảng cách thời gian vẫn là 129 năm. Hai người khi lên cầm quyền đều vào năm 44 tuổi, tấn công nước Nga đều vào năm 52 tuổi và thất bại đều vào năm 56 tuổi. Cả Napoleon và Hitler còn có một đặc điểm chung nữa là trước khi đưa ra bất cứ quyết định nào trọng đại, dù là tình hình chiến sự có gấp rút tới mức nào thì cả hai đều rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê trong vòng 10 phút.
Ngoài ra, cả Napoleon và Hitler đều được cho là những chiến lược gia trời phú, song đều không có cách nào để chinh phục Moscow, ngược lại đã bị thành phố này đánh bại. Nhiều người cho rằng, điều này hoàn toàn không phải ngẫu nhiên.
Bí ẩn phong thủy Moscow
Xét về phong thủy, Moscow có một địa thế tuyệt đẹp do được bao bọc bởi núi và sông. Mặc dù nằm ở vùng bình nguyên Đông Âu không có những dãy núi cao, phần “núi” bao bọc xung quanh Moscow chủ yếu là các đồi thấp và các đầm lầy, tuy nhiên, nó vẫn có thể coi là một lợi thế so với nhiều thành phố nằm trên bình nguyên khác. Có một chút khuyết điểm về phần núi, song bù lại, Moscow cực kỳ phát triển về hệ thống sông ngòi bao bọc xung quanh.
Có nhà phong thủy đã so sánh rằng, thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc hơn hẳn Moscow về những dãy núi bao bọc xung quanh, tuy nhiên, Bắc Kinh không thể bì lại với Moscow về hệ thống sông ngòi quanh thành phố này. Nói cách khác, nếu như Bắc Kinh có “sơn long” bảo vệ thì có thể nói Moscow có “thủy long” trấn giữ.
Một điều đáng lưu tâm nữa trong địa thế phong thủy của Moscow chính là mặc dù “sơn long” chưa phát triển thành hình, song nhờ vậy mà nó tạo thành thế cục âm dương tương trợ với phần “thủy long” rất cường thịnh của mình.
Trên thực tế, năng lượng phân bố trên mặt đất có một đặc trưng, đó là có sự thống nhất trong hướng chảy cũng như hướng của các dãy núi. Loại năng lượng này, theo các nhà phong thủy gọi là “long khí”.
“Sơn long”, “thủy long” đều là những biểu hiện khác nhau của “long khí” này. Tuy nhiên, hoàn toàn không thể nói rằng, “sơn long” thì tốt hơn “thủy long” hay ngược lại. Điều quan trọng là thành phố đó có tận dụng được phần “long khí” đó hay không mà thôi.
Moscow là một trong những thành phố tận dụng hết được phần “thủy long” rất mạnh mẽ của mình. Ai cũng biết rằng, Moscow được xây dựng theo hình dạng của thủy thần Huyền Vũ trấn thủ phía Bắc. Phần nguồn nước phong phú ở phía này vừa may tương hợp với tính chất của thủy thần, có thể nói là một bố cục cực kỳ tốt. Vì vậy, có thể nói “thủy long” chính là một trong những nguyên tố quan trọng nhất trong địa thế phong thủy của Moscow.
Lần giở lại những trang lịch sử, có thể thấy rằng, thành phố này có một mối liên hệ mật thiết với nước. Rất nhiều trận hỏa hoạn lớn đã xảy ra, song chưa lần nào hủy diệt được Moscow như tại những nơi khác. Bất kể là trận hỏa hoạn đánh lui Napoleon hay những khẩu pháo của Hitler đều không thể hủy diệt được Moscow. Vì sao như vậy? Chân lý thường rất giản đơn.
Ai cũng biết, trong ngũ hành tương sinh tương khắc, thủy luôn khắc hỏa, Moscow được thủy thần Huyền Vũ trấn giữ, trong bố cục phong thủy lại là nơi “thủy long” thâm tàng, do vậy, dùng hỏa (lửa) để hủy diệt Moscow là chuyện hoàn toàn không thể xảy ra.
Về mặt thời tiết, Huyền Vũ cũng đại diện cho mùa đông. Tuyết và sự lạnh giá của mùa đông cũng chính là biến thân của nước. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi sự lạnh giá và băng tuyết mùa đông ở Moscow trở thành một lực lượng giúp Moscow chiến thắng các thế lực ngoại xâm.
TinhHoa tổng hợp

Không quân Ấn Độ tuyên bố sẵn sàng “chiến tranh tổng lực” với Trung Quốc

Hôm 26/7, Tư lệnh Không quân Ấn Độ tuyên bố sẵn sàng cho mọi xung đột kể cả một cuộc chiến tranh tổng lực, trong bối cảnh căng thẳng leo thang giữa 2 nước tại khu vực biên giới. 

Trung Quốc, tranh chấp biên giới, chiến tranh tổng lực, Ấn Độ,
Máy bay chiến đấu Ấn Độ trong một cuộc diễn tập. (Ảnh: Reuters)
Chúng tôi sẵn sàng cho bất kỳ tình huống nào. Căng thẳng ở khu vực (biên giới) vẫn đang tiếp diễn, các giải pháp ngoại giao đang được xem xét“, Indian Today hôm 26/7 dẫn tuyên bố của Tư lệnh Không quân Ấn Độ Birender Singh Dhanoa.
Tư lệnh Dhanoa cũng khẳng định, mặc dù thiếu hụt chiến đấu cơ, Không quân Ấn Độ vẫn sẵn sàng tham gia “một cuộc chiến tổng lực” với Trung Quốc, hoặc thậm chí chiến đấu ở hai mặt trận là Trung Quốc và Pakistan.
Cuộc chiến tổng lực cần số lượng phi đội nhất định, điều mà chúng tôi không có vào lúc này. Chính phủ (Ấn Độ) nắm rõ về tình hình thiếu hụt này“, Tư lệnh Dhanoa nói.
Tuy nhiên, ông Dhanoa tin rằng tình trạng thiếu hụt máy bay chiến đấu của Không quân Ấn Độ sẽ sớm được giải quyết khi chính phủ Ấn Độ mới đây ký hợp đồng mua các chiến đấu cơ Rafale của Pháp.
Trước đó ngày 18/7, Global Times, ấn phẩm phụ của People’s Daily – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc, tờ báo nổi tiếng với luận điệu cứng rắn của Trung Quốc, đăng bài xã luận bằng tiếng Anh cảnh báo về Bắc Kinh sẵn sàng “đối đầu tổng lực” với New Delhi.
Căng thẳng giữa 2 nước nổ ra từ giữa tháng 6, khi Ấn Độ ngăn cản Trung Quốc xây dựng một con đường đi qua cao nguyên Doklam theo cách gọi của Ấn Độ hay Donglang theo cách gọi của Trung Quốc.
Kể từ khi xảy ra căng thẳng, Ấn Độ và Trung Quốc đã bổ sung thêm các đơn vị tới khu vực để đề phòng nguy cơ va chạm. Báo chí Ấn Độ trích dẫn nguồn tin quân đội cho biết đã có khoảng 3.000 binh sĩ được triển khai mỗi bên trong cuộc đối đầu “gần như trực diện” ở khu tam giác hẻo lánh của Sikkim, Tây Tạng và Bhutan trong mấy tuần qua.
Các chuyên gia nhận định hai nước có mọi lý do để không làm bùng phát một cuộc xung đột và cuộc chiến tranh biên giới năm 1962 sẽ không lặp lại. Tuy nhiên, họ cũng cho rằng không có giải pháp nhanh chóng nào cho căng thẳng kéo dài giữa 2 nước lớn ở châu Á, vì hai bên tỏ ra có rất ít động lực để chấp nhận khác biệt và dung hòa lợi ích của nhau.
TinhHoa tổng hợp

Nóng: Cty Formosa lấn gần 300ha biển để chôn hàng chục triệu m3 xỉ thải

Để xử lí lượng xỉ khổng lồ lên đến hàng chục triệu m3 trong quá trình luyện thép, Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Cty Formosa) đã hoàn tất được việc xây một hệ thống kè lấn biển để chôn lượng xỉ thải lên tới hàng chục triệu tấn.

Bãi thải lấn biển của Formosa nằm ở phía nam cảng Sơn Dương.
Bãi thải lấn biển của Formosa nằm ở phía nam cảng Sơn Dương.
Chôn 1,3 triệu tấn xỉ thải xuống biển mỗi năm

Theo báo cáo tác động môi trường ở hạng mục đầu tư tổ hợp luyện gang thép công suất 7,5 triệu tấn/năm giai đoạn 1, thuộc Dự án Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh đã được Bộ TN&MT thẩm định bằng Quyết định số 1315/QĐ-BTNMT, ngày 30/6/2008 có đoạn viết: “Bãi xỉ lấn biển có diện tích 281,6 ha, quy mô 40.256.072m3. Có thể chứa được 92.595.866 tấn, và thời gian chứa của bãi xỉ là 70 năm. Bình quân mỗi năm thu gom về bãi xỉ khoảng 1.322.790 tấn. Bãi chứa xỉ này áp dụng theo công nghệ đã được sử dụng thành công trên thế giới, đảm bảo không gây ô nhiễm đối với môi trường nước biển. Trong bãi xỉ lấn biển được xây dựng đảm bảo không làm ô nhiễm nước biển. Bãi xỉ lấn biển này có đê bê tông và lưới lọc nước xung quanh, nước mưa không thể trần qua bãi xỉ vì đê có độ cao hơn 6m”.

Còn tại báo cáo đánh giá tác động môi trường ở hạng mục Đầu tư xây dựng nhà máy thép dây, hai trạm xử lí bùn và vật liệu chịu lửa - xỉ thép cũng được Bộ TN&MT thẩm định bằng Quyết định 1623/QĐ-BTN&MT, ngày 24/6/2015 ghi rõ: “Sau khi nghiền từ tính, xỉ thép không thể thu hồi tái sử dụng, sau xác nhận không thuộc chất thải rắn nguy hại, đổ vào bãi chứa xỉ thép (bãi tro xỉ). Số lượng nhiều nhất là 740.000 tấn/năm”.

Để tìm hiểu bãi thải lấn biển, PV Tiền Phong đăng ký làm việc với lãnh đạo Formosa Hà Tĩnh. Sau khi yêu cầu cung cấp thẻ nhà báo và các câu hỏi liên quan đến bãi xỉ lấn biển, nhân viên đối ngoại của Formosa cho biết: Sẽ gửi những thông tin này lên lãnh đạo Formosa và đợi phản hồi. Tuy nhiên, gần 1 tuần trôi qua, vẫn không nhận được phản hồi từ phía Formosa, PV Tiền Phong buộc phải đi theo đường “tiểu ngạch” để tận mắt thấy bãi thải lấn biển được đề cập trên giấy.

Thực tế, bãi thải nằm ở phía nam cảng Sơn Dương, gồm đất và mặt nước trong tổng thể Dự án Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh. Hiện Formosa đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống đê lấn biển dài hàng cây số, tạo thành một lòng hồ rộng lớn hình chữ nhật tính từ bờ ra. Hệ thống đê lấn biển đổ bê tông kiên cố dài tít tắp. Trong lòng hồ nước biển xanh ngắt sẵn sàng cho việc chuẩn bị tiếp nhận hàng triệu tấn xỉ thải khi nhà máy đi vào vận hành sản xuất.

Cty Formosa: Lấn gần 300ha biển để chôn hàng chục triệu m3 xỉ thải - ảnh 1
Ông Thức nói về bãi thải lấn biển của Formosa.
Đại diện Bộ TN&MT nói gì?

Trao đổi với PV Tiền Phong liên quan đến bãi thải lấn biển của Formosa, ông Hoàng Văn Thức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ TN&MT xác nhận: Bộ đã phê duyệt 2 báo cáo tác động môi trường vào các năm 2008 và 2015 của Formosa, trong đó có bãi xỉ thải lấn biển. Formosa đã hoàn thành hệ thống đê của bãi thải lấn biển, tuy nhiên phải hoàn thành vài hạng mục như: Trải bạt chống thấm tầng đáy, thân đê… mới đưa vào sử dụng.

Trước sự lo ngại của dư luận về việc bãi thải này sẽ thẩm thấu gây ô nhiễm môi trường nước biển, mạch nước ngầm và các rủi ro do thiên nhiên gây ra, ông Thức cho rằng: Bãi thải này chỉ được phép chứa những chất thải không độc hại, còn gọi là chất thải công nghiệp thông thường nên không gây ô nhiễm môi trường. Trong trường hợp gió bão, động đất, sóng thần có làm vỡ bãi thải cũng không gây ô nhiễm môi trường (!?). Quan điểm của Bộ TN&MT là hết sức cẩn trọng, giám sát chặt việc đổ thải, hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra. Tới đây Bộ sẽ yêu cầu Formosa khoan thăm dò địa chất ở lòng bãi thải, trải bạt chống thẩm thấu mặt đáy, mặt ngang đúng quy chuẩn mới cho đưa vào sử dụng.

Trả lời câu hỏi của PV, trong trường hợp Formosa đổ cả chất thải độc hại xuống bãi thải, cơ chế kiểm soát ra sao? Ông Thức nói: “Cái này cơ quan quản lí kiểm soát hết. Tất nhiên mình không mong muốn doanh nghiệp gian dối. Doanh nghiệp phải làm đúng pháp luật. Họ kinh doanh có lợi cho họ, nhưng đồng thời phải đóng góp cho đất nước này. Đặc biệt sau sự cố vừa rồi, Chính phủ và các bộ ngành cũng đã kiểm soát chặt, họ đã tự giác chấp hành và rất nỗ lực để kiểm soát vấn đề môi trường. Vừa rồi họ thông báo tăng vốn đầu tư 360 triệu đô la, đấy là tiền người ta đầu tư vào bảo vệ môi trường. Với doanh nghiệp đã cầu thị như vậy, chắc chắn họ muốn làm ăn lâu dài ở Việt Nam. Sự cố xảy ra hơn 1 năm rồi, nên ta có thể tin tưởng được”.

Ông Thức mong muốn xã hội có cái nhìn rộng lượng hơn với Formosa và tin tưởng vào các cơ quan chức năng có trách nhiệm trong vấn đề môi trường Formosa.

Trong trường hợp Formosa có biểu hiện gian dối trong đổ xỉ thải, ông Hoàng Văn Thức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường – Bộ TN&MT, nói: Trong sản xuất công nghiệp có bộ quy chuẩn, để cho ra một tấn sản phẩm thì sẽ có bao nhiêu rác thải, trong đó có con số rác thải độc hại và rác thải thông thường. Định kỳ sẽ có kiểm tra, thanh tra, nếu có gian dối sẽ bị phát hiện xử lý ngay.

HOÀNG NAM - CẢNH HUỆ

(Tiền Phong)

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2017

VIỆT NAM MUỐN "HÀNG TÀU", TRƯỚC TIÊN PHẢI ĐỀN TIỀN TÂY BAN NHA ĐI ĐÃ ?

La Quán Cơm
Mấy ngày gần đây trên không gian mạng tràn ngập thông tin từ nhiều nguồn cho rằng Việt Nam đã yêu cầu Công ty dầu khí Tây Ban Nha Deepsea Metro I ngừng thăm dò dầu khí ở vị trí khoan thăm dò tại lô 136-03 trên biển Đông thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam...
Thế nhưng "Theo bản tin của hãng thông tấn Reuters vừa cho hay, tàu khoan thăm dò dầu khí Deepsea Metro I vẫn ở vị trí khoan thăm dò tại lô 136-03 trên biển Đông từ giữa tháng 06/2017 đến nay. Thông tin này đã phản bác lại việc mới đây BBC đưa tin, Việt Nam phải ngừng khai thác dầu khí trên biển Đông..." ( Trandaiquang.org)
Vậy đâu là sự thật của thông tin này khi mà BBC, VOA, RFA đều thống nhất đưa tin giống nhau về việc Việt Nam do chịu sức ép từ phía Trung Quốc nên đã cho dừng dự án liên doanh này ?
Theo ngu ý của La Quán Cơm thì đây rất có thể một miếng "võ Tàu" của EU và Mỹ chơi lại Trung Quốc...Nếu Tây Ban Nha chấp nhận rút tàu theo sự đầu hàng của Việt Nam thì Mỹ và EU yếu kém quá; Và nếu chịu lùi cú này thì sẽ bị Trung Quốc lấn tới trên phạm vi toàn thế giới...
Do đó, có thể một mặt phía Tây Ban Nha giả đò tuân thủ khẩn cầu của Việt Nam tạm dừng thăm dò nhưng họ không chịu rút tàu thăm dò đi với lý do: Muốn rút tàu thì Việt Nam phải bồi thường 300 triệu USD đi đã...Việt Nam bòn đâu ra 300 triệu USD bây giờ? Nếu Tây Ban Nha rút lui thì mất cả chì lẫn chài...
Lấy lý do: Muốn rút tàu thăm dò Việt Nam phải đền tiền; Còn Việt Nam thì gãi đầu gãi tai: Các bác không rút thằng Tàu nó đánh bọn em...Phía Tây Ban Nha cự lại: Kệ đó là chuyện của các ông...Việt Nam muốn Tây Ban Nha rút phải xì tiền ra...Hay là nhờ Trung Quốc trả hộ khoản tiền này ? Chắc là khó...
Thế là: Việt Nam bề ngoài vẫn thẫn phục vâng lời thiên triều Trung Cộng giống với cha con Mạc Đăng Dung khi xưa, tự trói mình lên Ải Nam Quan xin chịu tội với thiên triều và xin nộp danh sách địa tô của 4 quận mà thực chất là của Trung Quốc để lừa Trung Quốc...
Còn tàu Tây Ban Nha cứ ngồi ỳ ra đó không chịu rút...Trung Quốc có giói khởi binh đánh Trường Sa xem nào khi cái cớ đã bị tháo ngòi, Việt Nam đã chịu cởi giáp quy hàng rồi mà...
Chắc Trung Quốc càng không dám đem tàu chiến đánh đắm hay va quệt với tàu thăm dò của Tây Ban Nha...
Như vậy, với miếng võ trá hàng này, Việt Nam có khả năng rửa được mối nhục hàng Tàu do nhờ sự giúp sức của tàu Tây Ban Nha...
Sự thật thế nào chờ hồi sau mới biết; đây chỉ là sự dự đoán theo ngu ý của La Quán Cơm... Với đòn trá hàng này rất cỏ thể tạm thời hóa giải được sự hung hăng của đội quân Mã Siêu mà Tào Tháo đã thành công trong việc giao lưu ngoại giao với Hàn Toại bằng bức thư tẩy xóa, thực giả lẫn lộn thời Tam Quốc...
Đây có thể là xuất xử của nguồn thông tin do Reuter đưa ?

L.Q.C.