Đề nghị tăng lương cho Bộ trưởng vì… không đủ tiền nuôi 2 con ăn học
Chủ nhật, 24/09/2017, 07:41 (GMT+7)
(Kinh tế) - Mới đây, Công ty cổ phần Phòng và Tránh thiệt hại ngân sách đã đưa kiến nghị tăng lương cho các bộ trưởng và ủy viên trung ương vì cho rằng mức lương hiện tại của họ không đủ để nuôi 2 con ăn học.
Báo Dân Trí đưa tin trong văn bản kiến nghị mới đây gửi lên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Công ty cổ phần Phòng và Tránh thiệt hại ngân sách (Hà Nội) cho rằng: Do mức lương 15 triệu đồng/tháng hiện nay của Thủ tướng và các bộ trưởng, ủy viên trung ương là thấp nên đưa ra kiến nghị cần bổ sung lương “liêm chính” cho các ủy viên trung ương mỗi người từ 20-30 triệu đồng/tháng. Hơn 5.000 người có chức vụ sau các ủy viên trung ương với mức lương “liêm chính” từ 10-20 triệu đồng/tháng.
Công ty này lập luận rằng, mức lương 15 triệu đồng/tháng đối với các ủy viên trung ương hiện nay khi so với các nước trong khu vực như Singapore, Hàn Quốc còn thấp và như vậy chưa đảm bảo cuộc sống cho 1 bộ trưởng nếu có 2 con nhỏ ăn học.
Họ còn nhận định đó là nguồn kinh phí nhỏ mà Bộ Tài chính có thể thu xếp được: “Nguồn kinh phí sẽ được Bộ Tài chính thu xếp, đây là nguồn kinh phí nhỏ, có thể tiết kiệm chi là có thừa nguồn kinh phí”. Và “nếu Bộ trưởng Bộ Tài chính không lo được, Công ty chúng tôi sẵn sàng chỉ chỗ các nguồn kinh phí tiết kiệm của đất nước hiện nay đang để lãng phí”.
Ảnh từ Dân Trí
Công ty cổ phần Phòng và Tránh thiệt hại ngân sách là một công ty tư nhân, ngành nghề chính là hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ khác, có trụ sở tại tòa nhà D2, Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội. Người đại diện công ty là ông Hà Minh Tuấn, Giám đốc công ty. Công ty này được thành lập vào tháng 1.2010 do Chi cục Thuế Quận Ba Đình quản lý.
Ngay sau khi thông tin về đề xuất tăng lương cho bộ trưởng và các ủy viên trung ương được Dân Trí đăng tải, nhiều độc giả đã gửi phản hồi.
Độc giả Lê Tuấn Anh ngỡ ngàng: “Giờ tôi mới biết có cái công ty này! Nghe lạ và ngồ ngộ. Nhưng xem lại kiến nghị đưa ra thì thấy có gì đó lại… khùng khùng”.
Còn độc giả Thanh Bình nói: “Chẳng có ông Bộ trưởng nào ở nhà cấp 4 đâu mà lo hộ thu nhập của các ông ấy không nuôi được 2 con ăn học”. Độc giả Tuan Vo có ý kiến tương tự: “Lương của Bộ trưởng thấp nhưng có thấy ai từ chức hay nghỉ việc đâu?! Họ thừa sức nuôi con ăn học, đâu đến lượt các vị ở công ty lo thế”.
Độc giả lấy nickname Cong Dan nói có vẻ gay gắt hơn: “Người nông dân cực khổ họ vẫn nuôi con ăn học thành người. Lương các vị kia gấp bao nhiêu lần mà lại không nuôi được: Thật nực cười”.
Góp ý nên thực tế và có cơ sở khoa học
Theo một số chuyên gia, việc mở cửa với sáng kiến, tiếp nhận đề xuất của nhân dân của Chính phủ khá cởi mở và thể hiện năng lực của Chính phủ kiến tạo. Tuy nhiên, những đề xuất, sáng kiến cần dựa trên thực tế, có cơ sở khoa học, tuân thủ pháp luật và đúng – trúng vấn đề được nêu. Điều này vừa thể hiện trí tuệ của cá nhân, cơ quan có sáng kiến, vừa giúp các cơ quan quả
Khai vống thiệt hại do bão số 10 tại Thanh Hóa
Sau bão số 10, H.Hoằng Hóa (Thanh Hóa) báo cáo thiệt hại lên tới 940 tỉ đồng, nhưng khi bị dư luận nghi ngờ thì 2 ngày sau, con số được huyện này rút xuống còn hơn 640 tỉ đồng.
Bão số 10 không đổ bộ trực tiếp vào tỉnh Thanh Hóa, nhưng nhiều huyện ven biển như Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia và TP.Sầm Sơn thuộc tỉnh này bị ảnh hưởng bởi sóng to, gió lớn. Sau bão, Văn phòng thường trực Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Thanh Hóa đã có báo cáo thiệt hại do bão số 10 gây ra trên địa bàn toàn tỉnh, ước tính khoảng 1.000 tỉ đồng. Trong đó, riêng H.Hoằng Hóa thiệt hại lên tới gần 940 tỉ đồng.
Bão số 10 đã tan nhưng người dân ở xã Cẩm Nhượng, H.Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) vẫn chưa thể dựng lại nhà cửa.
Nghe ngóng để báo cáo
Chiều 21.9, chúng tôi tới một số đồng nuôi tôm thẻ chân trắng trên địa bàn các xã Hoằng Phụ, Hoằng Trường (H.Hoằng Hóa) để tìm hiểu về thiệt hại. Nhiều chủ đồng tôm khẳng định đến nay chưa có cán bộ thôn hay xã đến thống kê thiệt hại của người dân. Một chủ đồng nuôi tôm ở xã Hoằng Phụ bức xúc cho rằng không hiểu UBND xã Hoằng Phụ lấy số liệu thiệt hại ở đâu khi cán bộ không xuống khảo sát. Theo chủ đồng này, không nắm bắt tình hình thì làm sao biết hộ nào đang nuôi thả, hộ nào đã thu hoạch, hộ nào không nuôi… để thống kê thiệt hại.
Trả lời vấn đề này, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch UBND xã Hoằng Phụ, biện minh: “Chúng tôi không thể đi hết được tất cả các hộ bị thiệt hại, các ao bị thiệt hại để thống kê xem người dân thiệt hại những gì mà thống kê bằng cách nghe ngóng, nếu biết đồng nào bị thiệt hại thì lấy số liệu diện tích từ trước rồi tính ra trung bình từng héc ta thiệt hại bao nhiêu để báo cáo”.
Tuy nhiên, khi tiến hành đối chiếu, chúng tôi nhận thấy diện tích thực tế của mỗi xã báo cáo so với số liệu của huyện cũng chưa chính xác. Điển hình như xã Hoằng Trường báo cáo đến ngày 16.9 chỉ thiệt hại 0,95 ha diện tích nuôi thủy sản (nuôi tôm thẻ chân trắng) nhưng trong báo cáo của UBND H.Hoằng Hóa ngày 20.9 thì xã Hoằng Trường lại có diện tích nuôi thủy sản thiệt hại lên tới 1,56 ha…
Ảnh hưởng của bão số 10 tại tỉnh Thanh Hóa đã làm 1 người chết, 33 thuyền và bè mảng bị sóng cuốn trôi, các bãi biển du lịch bị sóng đánh tan hoang. Trong khi đó, nhiều bản miền núi bị cô lập hoàn toàn.
Lợi cho dân thôi ?
Trả lời về việc số liệu báo cáo thiệt hại có thay đổi với chênh lệch lớn, ông Nguyễn Đình Tuy, Phó chủ tịch UBND H.Hoằng Hóa, cho biết: “Dù báo cáo sai hay đúng thì cũng có được cái gì đâu, có được thì được cho dân thôi. Chúng tôi cho kiểm tra lại con số thiệt hại có sụt giảm là do nhiều đồng nuôi tôm công nghiệp khi các xã tổng hợp ngỡ là các đồng đang còn tôm, nhưng sau đó rà soát lại thì được biết nhiều đồng người dân đã thu hoạch trước bão nên số liệu thiệt hại có giảm xuống”. Thừa nhận việc một số xã cán bộ “ngồi nhà” báo cáo tình hình thiệt hại, ông Tuy lý giải: “Các xã họ thường thấy nếu có khu đồng nào bị hư hỏng, ngập tràn thì báo cáo cả khu và tính trung bình thiệt hại theo héc ta, chứ thời điểm đó cũng không thể đi hết từng hộ được”.
Trả lời Thanh Niên về vấn đề trên, ông Nguyễn Đức Quyền, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh - Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Thanh Hóa, cho rằng: “Cái đó thì để anh em rút kinh nghiệm thôi. Sau việc báo cáo của UBND H.Hoằng Hóa, tôi đã yêu cầu các đơn vị phải kiểm tra lại, báo cáo cho chắc chắn”.
Với tiểu thuyết “Mối chúa” ( MC), NXB Hội Nhà văn VN ấn
hành 2017 đã lập tức bị Cục Xuất bản-Bộ Thông tin-Truyền thông ra quyết định
đình chỉ phát hành; MC đang gây nên một cơn sốt trên các trang mạng xã hội…
Tiểu thuyết “Mối chúa” được Đãng Khấu-Tạ Duy Anh vay mượn
một số thủ pháp cấu tứ tác phẩm, mô tả nhân vật của các nhà văn hiện sinh, một
trào lưu tiểu thuyết thịnh hành ở Tây Âu vào những năm 50-60 của thế kỷ trước…
Trong MC người đọc dễ dàng nhận thấy bóng dáng cái lâu
đài bí ẩn vô hình nhưng lại uy hiếp, ảm ảnh biết bao con người trong tiểu thuyết
Lâu đài của Frank Kafka…
Nhà văn Tạ Duy Anh-Ảnh do Phạm Viết Đào chụp
“Lâu đài” của Kafka mang trong một mê lộ ý
nghĩa. Đó là một thiết chế quyền lực lỗi thời, độc tài, phi lý, bất công vẫn cứ
từng ngày thản nhiên đày đọa con người; một người bị đày đọa cô đơn và xa lạ
trước thế giới, sống mòn mỏi trong nỗi bất an; một cộng đồng bị quyền lực ám ảnh
từ trong vô thức và từ chối tiếp nhận bất kỳ ai không giống họ; một kẻ tự giao
cho mình nhiệm vụ khám phá bản chất quyền lực để giải phóng sự tự do…
Trong các tác phẩm của Kafka, nhìn chung ta sẽ
thấy một thế giới u tối, phức tạp và phi lí với nhiều tầng thế lực đan xen, vừa
mơ hồ vừa rất thực, và nhân vật chính ở mọi tác phẩm của ông đều là những con
người tự giao cho mình nhiệm vụ phải làm rõ ràng cái phi lí đó, thoát ra khỏi
cái phi lý đó.
Và xét về nhân vật trong tác phẩm của ông, đó
là kiểu nhân vật “khác biệt” – cũng như ông, kiểu người bị nhỏ bé đến thảm hại
bị bỏ quên bên rìa của xã hội, đang điên cuồng tìm hiểu về chỗ đứng trong chính
thế giới của mình.
Franz Kafka sinh ngày 3 tháng 7 năm 1883,
trong một gia đình tư sản Do Thái thuộc tầng lớp trung lưu ở thành phố Prague
lúc bấy giờ thuộc Đế quốc Áo – Hung (đế quốc này sụp đổ năm 1918 và Prague trở
thành thủ đô của Czechoslovakia độc lập).
Tiểu thuyết Lâu đài kể về K., một người làm đạc
điền đến Lâu đài của bá tước West West để làm việc. Chàng được thông báo là chuẩn
bị nhận việc, và một chức sắc trong vùng là Klamm còn viết thư động viên K. làm
việc. Tuy có quen một số người như bà chủ quán trọ, anh chàng đưa thư Barnabás
và người chị là Olga, thậm chí có người yêu là Frida, nhưng K. không sao đến được
lâu đài hay gặp được nhà chức trách để xem kết quả tuyển dụng. K. sống trong một
thế giới có thực mà cứ như là ảo; anh nhìn thấy Lâu đài, nhưng không sao đến được
đó, cũng như không sao gặp trực tiếp được Klamm cũng như chức sắc cao nhất
trong vùng. Dù đã cố gắng hết sức để tìm hiểu Lâu đài – thiết chế quyền lực thống
trị nhưng K. vẫn không thể lý giải nổi nó. K đành phải chờ và sống mòn mỏi, kiệt
sức trong cảnh lo âu chờ đợi, trong khi những người dân làng không chấp nhận
chàng, cô người yêu Frida cuối cùng cũng mệt mỏi bỏ rơi K. để theo một tên phụ
tá của chính chàng. Kết thúc câu chuyện K. vẫn còn lang thang vô định trước tòa
lâu đài.
Nhân cật Mr. Đại trong MC giống nhân vật Klamm trong tiểu thuyết
Lâu đài; Mr Đại trú ngụ trong một cái biệt thự nào đó chưa ai được gặp ông ta,
người có khả năng điều tiết, chi phối, quyết định tới các dự án đất đai hiện
lên trong MC của Tạ Duy Anh: vừa bí hiểm, vừa nhân từ, vừa tàn ác, vừa dân chủ,
vừa độc tài, vừa ga lăng vừa mafia, vừa Bá Kiến…tùy vào góc nhìn, khả năng tiếp
cận khai thác của dân chạy dự án đất đai…
MC
còn kế thừa, vay mượn các dàn truyện, những cuộc chạy đua vô tận trong bóng tối
với những sự đợi chờ vô vọng của GodoWaiting
for Godot(tạm
dịch:Chờ đợi GodothayTrong
khi chờ Godot) là vở kịch củaSamuel Beckett- nhà văn được giải Nobel Văn học.
Nếu Lâu đài và Đợi chờ Godot đã xây dựng các nhân vật vô vọng
trong các cuộc chạy đua theo các giả trị ảo thì các nhân vật trong MC đang lao
như thiêu thân để tranh đoạt các dự án đất đai…Người nắm quyền lực, cục nam
châm thu hút các cuộc chạy đua này là một nhân vật bí hiểm và bí ẩn như nhân
vật Klamm. trong tiểu thuyết Lâu đài của Kafka…
Đợi chờ Godot là tác phẩm được đánh giá là “Vở kịch tiếng Anh”
đáng lưu ý nhất thế kỷ 20.[1]Đây là tác phẩm nói về hai người đàn
ông cả đời chờ đợi một nhân vật không quen biết tên là "Godot", Godot
viết giống như God (Chúa Trời)…
Waiting for Godotlà một tác phẩm tiêu biểu cho loại kịch phi lý. Nó không có cốt
truyện, cũng không có cao trào. Cũng có thể gọi nó là bi kịch mang tính chất
trào lộng. Ở đây, Beckett muốn gửi đến khán giả 1 thông điệp mang tính hư cấu,
tượng trưng cho hình ảnh xã hội hiện đại hoang tàn hay sự cô độc và ý thức đang
bị già cỗi của con người hiện đại. Tuy nhiên, thông điệp đó lại được thể hiện hết
sức thú vị qua những tình tiết hài hóa bi kịch.[2]) (WikiPedia
)
T/S Alan Phan đã viết về vở kịch Đợi chờ Godot như sau:
“Tôi nhớ năm đầu của đại
học, trong môn Nghệ Thuật 101, tôi phải xem một vở kich của Samuel Beckett tựa
đề là Waiting for Godot. Tóm lược của kịch bản là hai anh lãng tử dưới gốc cây sồi
trọc lá, nói chuyện và tranh luận về đủ mọi đề tài trong khi đợi một người tên
là Godot mà họ có hẹn.
Vài nhân vật khác cũng
đi ngang chỗ đợi, tương tác cùng hai nhân vật chính, rất phức tạp và mâu thuẫn
như trong một giấc mơ. Cuối cùng, Godot không bao giờ xuất hiện, vì có lẽ ông
chỉ là một nhân vật tưởng tượng của hai anh lãng tử trên.
Vở kịch
bắt đầu khoảng 10 phút là tôi quay ra ngủ ngon lành. Chuyện vớ vẩn của 2 anh
“khùng” không liên quan gì đời sống hay cảm xúc của tôi. Ngược lại, con bé đi
“date” cùng, có một mùi nước hoa nhè nhẹ như hoa lài cộng hưởng với mùi con gái
vừa lớn. Cho nên khi đó, Godot thực đang ngồi cạnh tôi, đẹp tuyệt vời và những
lời lảm nhảm trên sân khấu chỉ làm tôi khó chịu.
Ba năm
sau, tôi tình cờ coi lại vở kịch. Hôm đó, tôi vừa thất tình, vừa bị cảm cúm,
mệt ngất ngư nhưng không muốn nằm trên giường than thân trách phận. Lần này tôi
có chút đồng cảm hơn với 2 chàng lãng tử. Họ loay hoay trong những hành động vô
nghĩa và vớ vẩn vì chung quanh họ, từ môi trường đến những con người giao thoa
đều thể hiện cái “hư không” trong nội tại của mình. Chúng ta ăn uống, suy nghĩ,
đàm thoại, yêu ghét, làm việc, lo lắng…vì đây là những kỹ năng xã hội đã huấn
luyện và trao trách cho chúng ta. Trong khi đó, chúng ta vẫn cứ hy vọng là
Godot sẽ đến và sẽ đem một vài ý nghĩa gì đó cho cuộc sống. Dĩ nhiên, Godot (theo
suy diễn là God hoặc idiot?) không bao giờ xuất hiện.
Beckett là
một tác giả thuộc trường phái hiện sinh (existentialism). Cùng với Camus,
Sartre, Kafka, Dostoyevsky,…các ông này luôn luôn ngồi trên tháp ngà của trí
thức để suy ngẫm về những “phù du, ảo tưởng” của kiếp người. Những ngày cón là
sinh viên, sách của các ông là gối đầu giường của tôi. Vả lại, những suy tưởng
và túi khôn của các ông giúp anh sinh viên trẻ “làm dáng trí thức” và chiêu
thức “cuộc sống vô nghĩa” cũng lôi kéo được khá nhiều bạn nữ lên giường.
Ra trường
đời, tôi phải tạm quên các ông. Phải lao đầu vào việc mưu sinh để kiếm tiền
nuôi vợ con, phải loay hoay bò mỗi ngày quanh miệng chén vì nợ nần ngập đầu
không buông tay được. Khi khôn ra, lòng tham lại nặng hơn ý chí tự do; nhất là
cảm nhận luôn bất an nhìn về tương lai khi sức khỏe và may mắn không còn. Thấm
thía những bài học thời trẻ từ các ông, nhưng cuộc đời vẫn là một bẫy sập không
ra được. Và cũng trong những loay hoay đó, tôi bắt đầu chờ Godot…”
MC của Tạ Duy Anh viết kiếp phù du của con người xoay quanh canh bạc đất đai; tìm mọi cách được tiếp kiến Mối chúa-Đồng chí X. để được cầm cái …Tạ
Duy Anh vay mượn các thủ pháp của Frank Kafka và Samuel Beckettđể viết nên Mối chúa…
Chú thích: Theo dân chạy mánh đất đai, dưới triều đại của đồng
chí X. hàng ngày có tới hàng ngàn quyết định cấp đất được ký và với một cấp số
nhân về dân oan vì bị cướp đất đã tạo nên những cuộc chiến tranh dành vô nghĩa
lý và phi nghĩa lý…
“Kết thúc thế kỷ châu Á: Chiến tranh, trì trệ, và những rủi ro cho khu vực năng động nhất thế giới”, của tác giả Michael R. Auslin, NXB Yale University Press, dài 279 trang, giá 30.00 Mỹ kim.
“Hậu thế giới phương Tây: Các cường quốc mới trỗi dây đang định hình lại trật tự thế giới như thế nào”. Tác giả Oliver Stuenkel, NXB Polity, sách dày 251 trang, giá bìa cứng 64,95 Mỹ kim, bìa giấy giá 22,95 Mỹ kim.
“Buộc phải đi tớichiến tranh: Mỹ và TQ có thể thoát bẫy Thucydides không?” Tác giả Graham Allison, NXB Houghton Mifflin Harcourt, dày 364 trang, giá 28 Mỹ kim.
***
Mười năm trước, nhà báo James Mann đã xuất bản cuốn sách mang tên The China Fantasy (Ảo tưởng Trung Quốc), trong đó ông chỉ trích các nhà hoạch định chính sách Mỹ về việc sử dụng một cái gì đó mà ông gọi là “Kịch bản xoa dịu” để biện minh cho chính sách hợp tác ngoại giao và kinh tế với Trung Quốc (TQ). Theo quan điểm này, việc TQ tiếp xúc với lợi ích của toàn cầu hóa sẽ đưa nước này đến việc dung nạp thể chế dân chủ và hậu thuẫn trật tự thế giới do Mỹ đứng đầu. Thay vào đó, Mann dự đoán, TQ sẽ vẫn là một nước độc tài, và sự thành công của nó sẽ khuyến khích các chế độ độc tài khác chống lại áp lực thay đổi.¹
Dự đoán của Mann đã cho thấy đúng. TQ đã lợi dụng tiềm năng phát triển của thương mại toàn cầu không hạn chế để nổi lên như một quốc gia thương mại số một và nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. TQ là đối tác thương mại hàng đầu của tất cả các nước châu Á, ít nhất không phải vì vị trí chính yếu của nó trong lắp ráp các bộ phận được sản xuất ở những nơi khác trong khu vực. Sáu mươi bốn nước đã tham gia sáng kiến cơ sở hạ tầng Một vành đai Một con đường(OBOR) của TQ, được công bố năm 2013, gồm các cảng, đường sắt, đường bộ, cảng hàng không, nối TQ với Đông Nam Á, Trung Á, Trung Đông, và châu Âu — một “Con đường Tơ lụa mới”, nếu thành công, nó sẽ mở rộng đáng kể ảnh hưởng kinh tế và ngoại giao của TQ. Hai mươi chín nguyên thủ quốc gia tham dự hội nghị OBOR của Bắc Kinh hồi giữa tháng Năm.
Trong khi đó, TQ vẫn là một nhà nước độc tài, độc đảng, được hậu thuẫn bởi một quân đội ngày càng mạnh. Ngân sách quân sự của TQ đã tăng cùng tỉ lệ với GDP trong phần tư thế kỷ qua, từ $17 tỉ trong năm 1990 lên $152 tỷ vào năm 2017— tăng 900%. Điều này đã cho phép TQ trang bị được tàu sân bay, tên lửa tinh vi, tàu ngầm tiên tiến, và khả năng chiến tranh mạng, thách thức sự thống trị quân sự của Mỹ ở châu Á. TQ đã mở rộng sự hiện diện hải quân rất lớn, trong phần mà họ gọi là “biển gần” (cận hải) xung quanh bờ biển của họ, và thậm chí vào Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
TQ đã đạt được vị trí cường quốc mới này trong khi chủ yếu tuân thủ các quy tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), mà họ tham gia năm 2001. Tuy nhiên, năm 2016 các chính phủ phương Tây thấy cần từ bỏ một cam kết mà họ đưa ra khi TQ gia nhập là sẽ coi TQ là “nền kinh tế thị trường” đầy đủ sau 15 năm làm thành viên. Địa vị này có thể làm cho các thành viên khác của WTO khó khăn hơn để kiện TQ về việc “bán phá giá” — bán sản phẩm dưới mức giá thành sản xuất thị trường để loại đối thủ cạnh tranh—nhưng lời hứa trao địa vị đó được dựa trên kỳ vọng rằng TQ sẽ trở thành một nền kinh tế thị trường kiểu phương Tây.
Điều đó đã không xảy ra. Thay vào đó, nhà nước tiếp tục kiểm soát nền kinh tế TQ qua việc nỗ lực mở rộng thị phần của doanh nghiệp TQ ở cả nội địa, lẫn nước ngoài. Bắc Kinh đã tiến hành hoạt động gián điệp công nghiệp để có được công nghệ tiên tiến của phương Tây, buộc phải chuyển giao công nghệ của phương Tây cho các doanh nghiệp TQ thông qua liên doanh và các thỏa thuận sáp nhập, và trong một thời gian (dù không phải bây giờ), kềm hãm giá trị trao đổi tiền tệ để kích thích xuất khẩu. Từ năm 2006, Bắc Kinh đã sử dụng nhiều dạng quy định không bị WTO cấm đoán để làm cho các doanh nghiệp nước ngoài gặp khó khăn khi vào TQ và cạnh tranh trên thị trường nội địa của họ, và tạo lợi thế cho các doanh nghiệp TQ — đặc biệt là trong các lĩnh vực mũi nhọn như bán dẫn, sản xuất tiên tiến, và công nghệ thông tin và truyền thông.
Ảnh hưởng kinh tế ngày càng lan rộng của TQ đã góp phần vào chủ nghĩa dân túy và phong trào chống toàn cầu hoá đang nổi lên ở nhiều nước ở phương Tây hiện nay, kể cả ở Mỹ với Donald Trump. Trong một sự đảo ngược đáng chú ý, chính Chủ tịch TQ Tập Cận Bình chứ không phải là một nhà lãnh đạo châu Âu hay Mỹ đưa ra lời bảo vệ mạnh mẽ cho toàn cầu hóa trong cuộc họp tháng 1/2017 tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos.
Tổng thống Barack Obama tìm cách làm mạnh các đồng minh của Mỹ ở châu Á với hy vọng vẫn giữ sự trỗi dậy của TQ trong tầm kiểm soát. Ngược lại, Tổng thống Trump đã đặt câu hỏi về giá trị của các liên minh với Nhật Bản và Hàn Quốc, rút khỏi Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương, và đã tạm dừng hoạt động tự do đi lại của Mỹ (FONOPS) ở biển Đông trong một thời gian. Tại hội nghị thượng đỉnh Mar-a-Lago vào tháng 4, Trump đã hành động một cách ngượng ngập như học trò của Tập Cận Bình về vấn đề mối đe dọa hạt nhân ngày càng gia tăng của Bắc Triều Tiên, khi nêu rằng: “Sau khi nghe [Tập] mười phút, tôi nhận ra việc đó không phải quá dễ”. Sau đó, ông Trump bỏ qua những cam kết khi tranh cử về tăng thuế cho TQ và thách thức TQ về thao túng tiền tệ đã biến thành hy vọng hảo huyền, rằng TQ sẽ giải quyết vấn đề Bắc Hàn cho ông. Ngược lại, mối đe dọa đó đã chỉ lớn lên thêm, với việc Bình Nhưỡng thành công trong thử nghiệm tên lửa tầm xa có thể có khả năng bay tới Alaska hôm 4 tháng 7.
Làm cho vấn đề thành tồi tệ hơn, gia đình Trump đã công nhiên tự đặt họ dưới quyền sử dụng của TQ, chấp nhận lợi nhuận trong tương lai dưới hình thức thương hiệu (trademark) cho cả nhãn hiệu của Trump lẫn của Ivanka, và tìm kiếm đầu tư của TQ vào các dự án bất động sản của Kushner. Khi China Labor Watch (Tổ chức Theo dõi Lao động TQ – CLW), một tổ chức về quyền lao động tại New York, công bố thông tin về điều kiện tồi tệ trong một nhà máy nơi giày dép mang nhãn hiệu Ivanka vừa được sản xuất, TQ bắt giữ ba nhà điều tra tại chỗ của nhóm này, và đây là lần duy nhất mà các nhà điều tra của CLW đã bị giam giữ vì phơi bày việc sử dụng sai trái công nhân TQ.²
Những dấu hiệu nhầm lẫn này trong chính sách của Mỹ đã đẩy nhanh sự lớn mạnh về ảnh hưởng kinh tế và chính trị của TQ. Ở châu Á, Tổng thống Philippines, Rodrigo Duterte làm mềm mỏng lập trường của chính phủ Philippines trước đây về tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông với TQ và chấp nhận một gói đầu tư và thương mại lớn của TQ; thủ tướng Malaysia Najib Razak lần đầu tiên chấp thuận việc mua sắm tàu TQ cho lực lượng hải quân của mình; cử tri Hàn Quốc đã chọn tổng thống mới, Moon Jae-In là người hứa hẹn sẽ quan hệ gần gũi hơn với Bắc Kinh; và Việt Nam đã tăng cường quan hệ ngoại giao và quân sự với TQ.
Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe bị dính vào liên minh với Mỹ, nhưng nếu chính sách của Mỹ tiếp tục cho thấy yếu kém thì Nhật Bản cuối cùng sẽ đối mặt với chọn lựa hoặc là thoả hiệp với yêu sách lãnh thổ của TQ ở biển Hoa Đông hoặc tự tái vũ trang mạnh mẽ hơn, thậm chí có thể với cả vũ khí hạt nhân. Theo Graham Allison, giám đốc Trung tâm Khoa học và các vấn đề quốc tế Belfer, trường Harvard Kennedy, trong cuốn sách mới Destined for War (Buộc phải đi tới chiến tranh), “Vượt xa tới mức mà tầm mắt có thể nhìn thấy, câu hỏi định nghĩa về trật tự toàn cầu là liệu TQ và Mỹ có thể thoát khỏi bẫy Thucydides hay không”, theo ông, bẫy Thucydides là một cuộc chiến tranh có khả năng xảy ra giữa một cường quốc thống trị và cường quốc đang trỗi dậy.
Tuy nhiên, hai cuốn sách khác gần đây, khi tiếp cận chủ đề này theo những cách khác nhau, gợi ra rằng, TQ không gây đe dọa như nhiều nhà bình luận muốn chúng ta tin theo. Michael Auslin, một nhà nghiên cứu tại Viện Hoover bảo thủ, tuyên bố, thế kỷ châu Á kết thúc trước khi nó chưa thật sự bắt đầu, bởi vì các nước châu Á hàng đầu, trong đó có TQ, không chấp nhận kiểu cách hoạt động kinh tế thân thiện với doanh nghiệp, cải cách chính trị theo dân chủ, và các tổ chức hợp tác khu vực vốn giúp họ có thể đối đầu với phương Tây một cách hiệu quả. Oliver Stuenkel, một học giả Brazil thiên tả hơn, thay vì lập luận rằng sự xuất hiện của TQ và các cường quốc châu Á khác là một sự kiện hoàn tất không thể đảo ngược, nhưng việc chuyển đổi quyền lực không bày ra một mối đe dọa nghiêm trọng đến lợi ích của phương Tây. Mặc dù cả hai cuốn sách bàn về toàn bộ châu Á, TQ vẫn là trọng tâm các lập luận của họ.
Phân tích của ông Auslin có căn cứ trong nhóm các ý tưởng tranh đua thường được gọi là Đồng thuận Washington—niềm tin rằng thị trường tự do, thương mại tự do, và dân chủ về chính trị là cần thiết cho các nền kinh tế lớn mạnh và các hệ thống chính trị được ổn định. Vì cách tiếp cận của TQ không quan tâm đến lý thuyết này, Auslin cho rằng nước này sẽ bị vấp ngã trước khi có thể thách thức một cách đáng kể tính ưu việt của Mỹ. Ông nhìn thấy nhiều vấn đề trong nền kinh tế TQ, trong đó có số lượng và kích cỡ quá mức của các doanh nghiệp nhà nước, quản trị doanh nghiệp thiếu minh bạch, nợ công khổng lồ (200% GDP theo một số ước tính), bong bóng bất động sản, và việc quá phụ thuộc vào xuất khẩu. Nhưng điều này chỉ đơn giản thêm vào việc mô tả về cách nền kinh tế vận hành chứ không thêm lập luận nào rằng cách điều hành đó sẽ không có kết quả.
Trong thực tế, nền kinh tế TQ không phải dễ bị tổn thương như Auslin nghĩ. Thứ nhất, vì đồng tiền của TQ, đồng nhân dân tệ, không chuyển đổi một cách tự do, rất khó cho người nắm giữ nhân dân tệ đầu tư trên quy mô lớn ở bất cứ nơi đâu mà không được phép của chính phủ ngoại trừ TQ. Chắc chắn, có một dòng vốn nhỏ chạy ra nước ngoài đủ cho phép mua sắm bất động cao cấp sản tại Vancouver, Los Angeles và New York, nhưng điều này hầu như không đủ để làm đầu tư ở TQ chết đói hoặc khiến đồng nhân dân tệ bị đầu cơ. Thứ hai, cũng giống như đồng đô la Mỹ được hưởng “đặc quyền quá đáng” được chấp nhận ở khắp mọi nơi như một vật mang giá trị mặc dù nó không được hậu thuẫn bởi bất kỳ tài sản hữu hình nào, đồng nhân dân tệ TQ cũng thế, được những người tham gia nền kinh tế TQ chấp nhận và thậm chí tới một mức độ hạn chế ở nước ngoài như một vật mang giá trị, cho phép chính phủ có thể in tiền theo ý muốn để kích thích tăng trưởng kinh tế, với nguy cơ lạm phát có giới hạn.
Thứ ba, con nợ lẫn chủ nợ trong nền kinh tế TQ chủ yếu là các cơ quan chính phủ, do đó chính phủ có thể điều chỉnh quan hệ nợ nần của họ mà không gây ra khủng hoảng tài chính. Bắc Kinh đã tự tìm cách thoát ra khỏi mối đe doạ nợ lơ lững trước đây bằng cách tạo ra các “công ty quản lý tài sản” (hoặc “ngân hàng xấu”) để đưa nợ xấu ra khỏi sổ sách của các ngân hàng nhà nước, và việc đó có hiệu quả. Chiến thuật như vậy có thể được sử dụng lại nếu cần.
Auslin khá thuyết phục hơn khi đưa ra mức độ mà tham nhũng cấp cao đã gây thiệt hại cho tính chính đáng của nền cai trị độc đảng của TQ, và việc tuyên truyền nặng tay của chế độ nhằm củng cố tính chính đáng đó không hiệu quả tới mức nào. Dù vậy, các cuộc điều tra cho thấy công chúng TQ vẫn ghi công chế độ cho việc tăng trưởng kinh tế bền vững và cho việc tiến hành cuộc chiến chống tham nhũng nghiêm ngặt. Auslin đồng ý với một chuyên gia TQ không nêu tên—dường như là học giả được nể trọng David Shambaugh của Đại học George Washington — đó chính quyền TQ đã bước vào hồi “cờ tàn”.³ Điều này có thể đúng, nhưng dự đoán tương tự cũng đã được đưa ra quá thường xuyên trong nhiều thập kỷ đến mức rất khó để thuyết phục được nó bây giờ. Với việc nhìn chế độ TQ và các hệ thống chính trị châu Á khác như Thái Lan, Myanmar, và Malaysia vốn chưa phát triển chính phủ kiểu phương Tây như là ví dụ về các “cuộc cách mạng còn dang dở,” Auslin đã nhầm lẫn, gom ổn định chính trị và dân chủ làm một.
Không giống như Auslin, Stuenkel không tin rằng sức mạnh của TQ sẽ yếu dần, nhưng ông thấy tham vọng kinh tế của TQ nhiều hơn là quân sự. Đúng là TQ đã xây dựng và củng cố các đảo cát ở biển Đông, đã tăng mức phân bổ quân đội vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp quốc ở châu Phi, đã thành lập một căn cứ hải quân nhỏ ở Djibouti, đã sử dụng lực lượng hải quân TQ để sơ tán khoảng 36.000 công nhân TQ khỏi Libya, và đã phái tàu tham gia vào việc tuần tra nhiều bên chống cướp biển ở Vịnh Aden.
Nhưng theo cái nhìn của Stuenkel, những nỗ lực này không có khả năng dẫn đến việc tạo ra một đế chế quân sự toàn cầu kiểu Mỹ. TQ sẽ rất khó khăn trong việc bảo vệ mạng lưới lợi ích kinh tế mỏng manh của mình ở xa xôi chủ yếu bằng sức mạnh quân sự. Đầu tư to lớn của TQ về nguồn lực và cơ sở hạ tầng ở nước ngoài chỉ có thể thu lại khi hòa bình được duy trì trong các khu vực hỗn loạn này bằng phương tiện chính trị, trong đó có việc tôn trọng luật pháp quốc tế. Theo Stuenkel, TQ không muốn gì hơn là bảo tồn các yếu tố chính của trật tự giao dịch trên thế giới, mà từ đó TQ đã được hưởng lợi rất nhiều, trong khi đạt được ảnh hưởng lớn hơn trong các định chế thực thi và phát triển trật tự này.
Do cho đến gần đây Quốc hội Mỹ vẫn không đồng ý cho phép tăng quyền biểu quyết cho TQ trong Ngân hàng Thế giới và Quỹ và Tiền tệ Quốc tế —và có thể thêm rằng, do TQ tích lũy được một lượng dự trữ ngoại hối khổng lồ cần cho đầu tư—Bắc Kinh bắt tay vào việc tạo ra điều mà Stuenkel gọi là “trật tự song song” các định chế kinh tế quốc tế. Ông xác định 22 tổ chức đa phương mới vừa được tạo ra, từ Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á tới Tổ chức Hợp tác Thượng Hải về khu vực mậu dịch tự do của châu Á Thái Bình Dương, trong đó TQ là một bên tham gia và thường là thành viên đứng đầu.
Stuenkel lập luận, đây là những tổ chức “song hành” chứ không phải là tổ chức “thay thế”: chúng cung cấp đầu tư cơ sở hạ tầng, điều tiết thương mại, tạo thuận lợi cho thanh toán quốc tế, và thực hiện đối thoại an ninh và ngoại giao gần như cùng một cách như các tổ chức do phương Tây thống trị mà chúng song hành. Chúng hoạt động theo các quy tắc phù hợp với các định chế hiện có trong cùng lĩnh vực, và các bên tham gia của chúng vẫn tiếp tục đồng thời là thành viên của các tổ chức cũ. Theo quan điểm của Stuenkel, việc tạo ra chúng là một điều tốt:
[Chúng] sẽ cung cấp các nền tảng bổ sung cho hợp tác (trong các cường quốc ngoài phương Tây lẫn giữa các cường quốc ngoài phương Tây và các cường quốc phương Tây), và san sẻ gánh nặng đóng góp hàng hóa công toàn cầu [như các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp quốc, tuần tra chống cướp biển, và kiểm soát thay đổi khí hậu] đồng đều hơn … Tất cả các định chế này sẽ làm TQ hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu, có thể giảm nguy cơ xung đột, và nâng mọi thứ lên.
Auslin và Stuenkel đều bày tỏ, sử dụng cụm từ của James Mann, “kịch bản xoa dịu”: hoặc là sự trỗi dậy của TQ sẽ bị chựng lại trước khi trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng cho lợi ích của Mỹ, hoặc nó sẽ mang lại sức sống mới cho trật tự quốc tế hiện có. Nhưng cả hai đều quá lạc quan. Mặc dù tỉ lệ tăng trưởng của TQ đã chậm lại từ mức hai chữ số xuống một, tỉ lệ hàng năm chính thức (mà một số nhà kinh tế nghĩ là phóng đại) là 6,7 % trong năm 2016, và sẽ chậm hơn nữa khi nền kinh tế trưởng thành, ít người tin rằng nó sẽ giảm xuống dưới mức 3% trong tương lai gần.
Như Stuenkel chỉ ra, với tốc độ đó nó chắc chắn sẽ vượt qua nền kinh tế Mỹ, ngay cả khi Mỹ đẩy nhanh tốc tăng trưởng của chính mình, đơn giản chỉ vì dân số TQ nhiều gấp bốn lần dân số Mỹ. Trong vài thập niên tới, nền kinh tế TQ sẽ lớn gấp đôi nền kinh tế Mỹ. Một cuộc khủng hoảng kinh tế hoặc chính trị, nếu xảy ra, có thể làm chậm lại sự trỗi dậy của TQ, nhưng TQ sẽ không trở lại với sự nghèo đói thời trước cải cách.
Stuenkel khá thuyết phục khi lập luận rằng Bắc Kinh quan tâm chủ yếu đến ổn định chính trị trong nước và việc có thể làm ăn kinh tế ở nước ngoài, chứ không phải là về quảng bá mô hình chính trị độc tài của nó với phần còn lại của thế giới. Lãnh đạo TQ cũng không tìm cách, như một số người đã gợi ý, để xua Hoa Kỳ ra khỏi châu Á, hoặc để “thống trị thế giới.” Tuy nhiên, họ đang theo đuổi hai mục tiêu về cơ bản xung đột với lợi ích quan trọng của Mỹ (gác lại việc TQ lạm dụng quan hệ kinh tế Mỹ-Trung vốn là một vấn đề có thể giải quyết dần thông qua đàm phán).
Xung đột đầu tiên là nỗ lực của TQ nhằm thay đổi cán cân quân sự ở châu Á. Dọc theo đường bờ biển dài phô lộ ra, TQ đang phải đối mặt với một loạt các đồng minh và đối tác của Mỹ: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Singapore và Việt Nam. Có khoảng 60.000 lính Mỹ được triển khai trong khu vực, và các căn cứ của Mỹ ở Guam và Cảng Trân Châu điều hành Thái Bình Dương. Chỉ ngay bên ngoài đường 12 hải lý tính từ bờ biển TQ vốn xác định “lãnh hải” thuộc chủ quyền của họ, hạm đội 7 của Mỹ tiến hành thường xuyên các hoạt động thu thập thông tin tình báo và giám sát. Dọc theo biên giới đất liền, TQ cũng đối đầu với các triển khai, liên minh và hợp tác quân sự của Mỹ — ở Afghanistan, Pakistan, Trung Á, Mông Cổ, và Ấn Độ.
Với sức mạnh của TQ tăng lên, những nhà cai trị của họ không còn chấp nhận bị bao vây quá chặt như vậy. Bây giờ họ đang ở vị thế thúc giục Hàn Quốc đảo ngược việc triển khai hệ thống tên lửa phòng vệ (THAAD) của Mỹ, cho tàu quân sự và tàu ngầm TQ di chuyển ngang qua eo biển chiến lược giữa các đảo của Nhật; thách thức yêu sách của Nhật Bản đối với quần đảo Senkaku, quần đảo đang tranh chấp ở biển Hoa Đông; ép Đài Loan chấp nhận thống nhất với TQ; và quấy rối tàu và máy bay của Hoa Kỳ ở biển Đông. Những hành động này thách thức vị trí đã thiết lập của Mỹ ở châu Á.
Xung đột nghiêm trọng thứ hai về quyền lợi liên quan đến quyền tự do tư tưởng và biểu đạt. Chế độ này quá mẫn cảm về hình ảnh của nó do tính chính đáng ở trong nước không sâu đậm. Điều này đã làm cho TQ không những tham gia vào các quan hệ công cộng và công tác truyền thông tiêu chuẩn trên toàn thế giới, mà còn sử dụng sức ép ngoại giao, việc từ chối cấp visa, ảnh hưởng tài chính, giám sát, và việc đe dọa kiểm soát những gì mà nhà báo, học giả và sinh viên TQ cùng học giả ở nước ngoài nói về TQ. Các nỗ lực bịt miệng các nhà phê bình mở rộng tới các tổ chức nhân quyền như Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp quốc tại Geneva, nơi TQ tác động để bảo đảm rằng, nước này và các chế độ độc tài khác không bị chỉ trích; thậm chí vươn tới tận Hollywood, nơi các hãng phim muốn được tham gia vào thị trường TQ ngày càng tránh những miêu tả không thuận lợi về TQ. Cuộc tấn công này đặt ra một thách thức đặc biệt đối với phương Tây, một thách thức trong đó sáo ngữ thông thường về cân bằng các giá trị và lợi ích trong chính sách đối ngoại không áp dụng được. Khi TQ mở rộng nỗ lực kiểm soát tư tưởng vượt ra ngoài biên giới của riêng mình, giá trị của chúng ta là lợi ích của chúng ta.
Một số người cho rằng, Mỹ đã bước lùi trong vị trí của mình ở châu Á để thoả mãn mong muốn của TQ về ảnh hưởng quân sự lớn hơn trong khu vực của họ. Trong cuốn sách ‘On China’ (Về Trung Quốc) năm 2011, Henry Kissinger đề xuất hai bên đồng ý về một “cộng đồng Thái Bình Dương” – “một khu vực mà Hoa Kỳ, TQ, và các quốc gia khác đều thuộc về và trong việc phát triển hòa bình của nó, tất cả đều tham gia”. Các ý tưởng của Graham Allison cho việc làm thế nào để tránh chiến tranh đều chỉ là thứ thuốc giảm đau: “Hiểu điều TQ đang cố làm”, “Vạch chiến lược” và “Biến thách thức trong nước thành trung tâm”.
Các chiến lược gia khác đã đề xuất cụ thể hơn, rằng Hoa Kỳ và TQ nên thiết lập một sự cân bằng an ninh hai bên chấp nhận được bằng cách nhượng bộ lẫn nhau về Đài Loan, quần đảo Senkaku, triển khai quân đội, và các hệ thống tên lửa tấn công và phòng thủ. Thông qua cách tiếp cận như vậy, Washington và Bắc Kinh có thể chứng tỏ rằng mỗi bên không tìm cách đe doạ các lợi ích an ninh cốt lõi của bên kia.⁴
Khó khăn với các đề xuất như vậy là việc Bắc Kinh có thể sẽ diễn giải chúng như là yêu cầu họ phải chấp nhận một sự hiện diện khó chịu của Mỹ chỉ khi cán cân sức mạnh thay đổi mới cho phép tình huống đó được chỉnh lại. Và về phía Mỹ, nhường bước trước đối với tham vọng của TQ sẽ phá hủy uy tín của Mỹ với tất cả các đồng minh, không chỉ ở châu Á mà cả ở nơi khác nữa. Sự mất ổn định sinh ra sẽ không phục vụ lợi ích của Mỹ và TQ.
Khuyến nghị của Auslin cho việc điều tiết sự trỗi dậy của TQ đối với Mỹ là tăng cường hiện diện quân sự trong khu vực; xây dựng thêm các liên kết— như với Ấn Độ và Indonesia – thêm vào hệ thống liên minh hiện có; và tăng cường sức ép đối với việc chuyển đổi dân chủ. Ông nói, Mỹ nên bám chặt vào những chính sách này cho đến khi “lãnh đạo TQ … đi tới việc đánh giá cao những lợi ích của việc tham gia mang tính xây dựng”. Đây là một tầm nhìn lớn đối mặt với ba chướng ngại—sự thiếu nhất quán giữa các chính quyền ở Washington cần cho việc thực hiện một chiến lược như vậy; sự miễn cưỡng của các nước như Ấn Độ, Indonesia, và thậm chí các đồng minh chính thức của chúng ta, Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ nghiêng một cách dễ thấy về cường quốc khu vực lớn nhất còn đang lớn mạnh; và không có khả năng rằng TQ sẽ chấp nhận tư thế này của Mỹ, như là điều có lợi.
Về phần mình, Stuenkel khuyến cáo rằng, Hoa Kỳ nên mở rộng sự tham gia của các cường quốc đang trỗi dậy trong các định chế hiện có để họ có sự chia sẻ công bằng về ảnh hưởng, khuyến khích TQ và các cường quốc đang trỗi dậy khác đóng góp nhiều hơn nữa vào hàng hóa công toàn cầu như các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp quốc, tuần tra chống cướp biển và kiểm soát biến đổi khí hậu, và “dung nạp toàn bộ, chứ không chỉ trích hoặc cố cô lập” các định chế kinh tế song hành mới mà TQ đang tạo ra. Đây là những ý tưởng mang tính xây dựng, nhưng chúng không giải quyết những vấn đề cốt lõi về an ninh khu vực và nhân quyền.
Mỹ nên hợp tác với TQ trong những lĩnh vực mà lợi ích chung tồn tại, chẳng hạn như không phổ biến vũ khí hạt nhân và biến đổi khí hậu (bất kể vị thế của chính quyền Trump). Và Hoa Kỳ phải liên tục thúc đẩy mở cửa nền kinh tế TQ trên một cơ sở đối ứng — một nỗ lực có thể đã được trợ giúp rất nhiều qua việc ở lại trong TPP. Nhưng để đáp ứng thành công với sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của TQ, Mỹ phải giữ vững lằn ranh nơi mà các lợi ích chiến lược xung đột nhau, chẳng hạn như đối với Đài Loan và sự hiện diện của hải quân Mỹ ở biển Đông. Trên hết, Hoa Kỳ phải bảo vệ các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền và tự do mạnh mẽ hơn nhiều so với những năm gần đây; sẽ không có ý nghĩa để trì hoãn các điều nhạy cảm ồn ào của chế độ TQ ngay cả khi TQ gây rối nhiều hơn và thường xuyên hơn vào các quyền tự do của chúng ta. Cạnh tranh, ma sát và thử nghiệm giữa Hoa Kỳ và TQ là không thể tránh khỏi, có thể trong nhiều thập niên. Để vượt qua quá trình này, Mỹ cần đánh giá chính xác lợi ích của TQ, nhưng thậm chí chính xác hơn về lợi ích của chính mình.
————-
James Mann, The China Fantasy: How Our Leaders Explain Away Chinese Repression – Ảo tưởng TQ: các nhà lãnh đạo của chúng ta giải thích cuộc đàn áp của TQ thế nào (Viking, 2007).
John Ruwitch, “Activist Probing Factories Making Ivanka Trump Shoes in China Arrested: Group” (Các nhà hoạt động điều tra vè các xí nghiệp sản xuất giày hiệu Ivanka Trump ở TQ bị bắt”, Reuters, ngày 31 tháng năm, năm 2017.
David Shambaugh, China’s Future (Tương lai TQ) (Polity, 2016).
Chẳng hạn, James Steinberg và Michael E. O’Hanlon, sách “Strategic Reassurance and Resolve: US–China Relations in the Twenty-First Century” – Bảo đảm và quyết tâm chiến lược: Quan hệ Mỹ-Trung trong thế kỷ XXI (Đại học Princeton Press, 2014), và Lyle J. Goldstein, “Meeting China Halfway: How to Defuse the Emerging US–China Rivalry” – Đáp ứng TQ giữa chừng: Làm thế nào để xoa dịu sự cạnh tranh Mỹ-Trung đang trỗi dậy (NXB Georg Etown University Press, 2015).
Chúng ta thường có quan niệm, ai đối tốt với ta thì ta tốt lại, ai xử tệ với ta thì ta sẽ tìm cách trả đũa tới cùng. Thế nhưng, đó không phải là cách đối đãi của một người quân tử.
Làm người quân tử, tranh cãi với tiểu nhân thì chỉ tốn thời gian của mình. (Ảnh: DKN)
Đương đầu tiểu nhân, tự sẽ có thiên địch
Trong cuộc sống “tiểu nhân” không chỗ nào là không có, để lời nói hành động của tiểu nhân ảnh hưởng đến cảm xúc bản thân là điều không đáng.
Đừng để bị cuốn vào vòng luẩn quẩn của tiểu nhân, cũng đừng để tiểu nhân lọt vào tâm hồn của mình.
Đối với tiểu nhân có thể thường xuyên chào hỏi, nhưng ít nói chuyện; không chủ động tới lui, nhưng không từ chối tới lui; không thâm giao, nhưng không tuyệt giao; có thể cho tiểu nhân lợi ích, nhưng không thể chiếm dụng của tiểu nhân.
Không cần giúp đỡ, không ngăn trở, không khuyên nhủ, không tham dự, không thảo luận, mặc kệ phát triển, mặc kệ tự sinh tự diệt.
Tiểu nhân làm nhiều điều bất nghĩa, sớm muộn gì cũng bị mọi người nhận ra
Không cần để ý người khác ở sau lưng nhìn bạn, nói xấu bạn, bởi vì những lời này không thay đổi được sự thật, nhưng lại có thể đảo loạn tâm bạn.
Tâm nếu loạn, hết thảy đều sẽ loạn. Người hiểu bạn, không cần giải thích; người không hiểu bạn không đáng để bạn giải thích.
Tâm nếu loạn, hết thảy đều sẽ loạn. Người hiểu bạn, không cần giải thích; người không hiểu bạn không đáng để bạn giải thích. (Ảnh: Pinterest)
Bởi vì ở cùng nhau lâu ngày không nhất định nảy sinh tình cảm, nhưng nhất định có thể nhìn thấy nhân tâm.
Người quý ở đại khí, hãy học cách tự nói với mình, và hãy tin tưởng những người thực sự hiểu bạn, tuyệt đối đừng vì một số điều “có hay không có” mà phủ định mình.
Đại khí không phải là tính cách, mà là một loại sức hút của nhân cách. Dưỡng tốt đại khí của mình, tin tưởng vào bản thân, mọi thứ đều sẽ ổn.
Đại khí là khí chất, khí độ của một người, là một loại biểu hiện bên ngoài của thế giới nhân tâm, là một loại năng lượng vô hình mà tổng hợp các tố chất của một người phát ra ngoài.
Đại khí không phải từ lúc sinh ra đã có, mà là có từ quá trình không ngừng tu dưỡng qua những trải nghiệm cuộc sống, nó bộc lộ ra bên ngoài một cách tự nhiên nhất, là thứ có muốn giả cũng không được.
Đại khí là nhã nhặn bình hòa, không vội vã, không lười biếng, khi xử lý vấn đề thì mạnh như thác đổ, khiến người khác phải lắng đọng.
Đại khí là không so đo biện giải, phân bua thắng thua với tiểu nhân, bởi vì như thế là đang lãng phí sinh mệnh của chính mình.
Đôi điều viết thêm về thông tin của FB Hoàng Hải Vân về vụ PMU 18:
Bài viết dưới đây của Fb
Hoàng Hải Vân hé ra các thông tin cho thấy Cựu TT Võ Văn Kiệt đã ủng hộ báo
Tuổi trẻ và Thanh Niên trong vụ PMU 18: "Anh Nguyễn Công Khế cũng đã gặp ông Sáu Dân, ông bảo với anh Khế rằng báo Thanh Niên không thể im lặng trong vụ bắt người này. Sau đó ông có tỏ thái độ với ai nữa hay không thì chúng tôi không được biết, vì lúc này ông Sáu Dân không còn khỏe nữa, ông đã qua đời đúng 1 tháng sau khi các nhà báo bị bắt và trước khi người ta đập tan bộ máy lãnh đạo của 2 tờ báo...
-Sau
khi 2 nhà báo bị bắt, anh Nguyễn Công Khế đã giao nhiệm vụ cho anh Nguyễn Quốc
Phong mang một tập tài liệu chứng minh 2 nhà báo vô tội gửi cho một vị lãnh đạo
Bộ Công an. Vị này nói với anh Quốc Phong rằng “tổng chỉ huy” vụ này là Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng và đề nghị anh Phong gặp Thủ tướng. Anh Quốc Phong đã
mang tập tài liệu này đến gặp Thủ tướng Dũng, ông tiếp anh Phong khoảng 10
phút, bảo ông sẽ xem tài liệu.
Nhưng trước đó, ngay sau khi 2 nhà báo bị bắt, để bảo vệ phóng
viên của mình trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng, anh Nguyễn Quốc Phong vẫn tìm
cách gửi tập tài liệu nói trên đến cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, lúc đó đang ở Hà
Nội. Đọc tập tài liệu xong, ông Sáu Dân bảo việc bắt người là không thể chấp
nhận được.
Một nguồn tin thân cận cho chúng tôi hay, ông Sáu Dân đã cho
người mời một Ủy viên Bộ Chính trị đến, ông giận dữ vứt tập tài liệu trên bàn
và kịch liệt phản đối việc bắt người.
Riêng Phạm Viết Đào sau khi đổ bể vụ PMU 18, lúc đó đang là
Trưởng phòng Thanh tra Báo chí xuất bản đã nhảy tham chiến vào năm 2006 với
loạt bài 4 kỳ viết cho báo Lao Động:
Sau khi loạt bài này ra, Cựu TT Võ Văn Kiệt đã gọi
điện cho TBT Vương Văn Việt ( báo Lao Động ) nhờ chuyển lời cảm ơn của ông tới
tác giả loạt bài này là P.V.Đ.
Vào năm 2008, khi sự cố rung động: nhà báo Nguyễn Việt
Chiến ( Thanh Niên) và Nguyễn Văn Hải ( Tuổi trẻ ) bị khởi tố bắt giam. Là người
thường xuyên theo dõi báo chí và thường xuyên “săm soi” 2 tờ báo này; tôi thấy những
bài viết của báo Thanh Niên và báo Tuổi trẻ về vụ PMU 18 không có bài nào vi phạm
Luật Báo chí trong giai đoạn 2006-2008…
Nếu vi phạm Luật Báo chí thì tôi là người đứng ra lập
biên bản xử phạt vi phạm hành chính…Quy trình xứ lý hình sự một phóng viên của
một tờ báo bao giờ cũng phải qua bước hành chính ( Thanh tra Bộ Văn hóa) trước,
rồi mới xử lý hình sự (nếu buộc phải xứ lý) vì viết báo không phải là loại tội
danh đặc biệt nguy hiểm…
Sau khi 2 nhà báo Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến
bị khởi tố bắt giam, là Trưởng phòng thanh tra báo chí của Bộ Văn hóa, tôi đã
nhận được thông tin ngay ( không nhớ ngày): Yêu cầu báo chí dừng đưa tin, bình
luận về việc bắt giam Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến; Khi có lệnh này rồi
mà báo nào đăng thì chuẩn bị “thừng chão” để bắt về xử phạt hành chính…
Khi nhận được lệnh này, tôi lao đến trụ sở văn
phòng báo Tuổi trẻ ở Thụy Khuê, Hà Nội; Tôi gặp được TBT Lê Hoàng vừa đến, tôi
đề nghị cung cấp cho tôi Lệnh khởi tố vụ án và Lệnh khởi tố bị can 2 nhà
báo…TBT Lê Hoàng đã cung cấp cho tôi 2 bản sao…
Về Bộ Văn hóa, tôi nghiên cứu 2 lệnh này thì phát
hiện: Vụ án hình sự liên quan tới 2 bào Thanh Niên và Tuổi trẻ khi khởi tố vụ
án là một tội danh khác nhưng lệnh khởi tố bị can lại một tội danh khác...
Tôi lập tức viết một bài đâu 800, chữ gửi cho Quốc
Phong-PTBT báo Thanh Niên đề nghị đăng ý kiến này của tôi về sự tréo ngoe giữa
tội danh trong lệnh khởi tố vụ án và tội danh trong lệnh khởi tố bị can. ( Lâu
ngày tôi không nhớ cụ thể chi tiết về sự tréo ngoe này…)
Tôi đã phân tích chứng minh bằng Luật Báo chí: với
tội danh được quy kết trong lệnh khởi tố bị can đối với 2 nhà báo Nguyễn Văn Hải
và Nguyễn Việt Chiến thì sai phạm đó nếu xử lý thì dưới mức xử phạt hành chính;
nếu rắn lắm không phạt quá 3 triệu…Thanh tra Bộ Văn hóa đã bỏ qua sai sót này có
nghĩa là chưa nghiêm trọng đến mức phải xử lý hình sự. Do đó việc xử lý hình
sự 2 nhà báo này là quá mức pháp luật cho phép…
Quốc Phong cảm ơn tôi và “gãi tai” nói Thanh Niên
không dám đăng ý kiến này; đề nghị tôi nhờ báo khác đăng; Trong khi các báo đã
nhận được lệnh cấm chỉ bàn luận vệ vụ bắt 2 nhà báo này…
Tôi lập tức gửi cho báo Tuổi trẻ và sau nửa tiếng
báo Tuổi trẻ đăng ngay trong mục “Ý kiến bạn đọc” ở tranh nhất; Ghi tên độc giả
Phạm Viết Đào không đề chức danh; Bài ra ngay trong ngày có lệnh cấm báo chí
đưa tin về vụ bắt 2 nhà báo…Đưa như thế để còn thanh minh là thông tin này ngay
có thể nhập nhèm về thời gian, cõ thể cãi là đưa từ trước khi nhận được lệnh…
Sau khi “mẩu ý kiến bạn đọc” của tôi khoảng 800 chữ
này được Tuổi trẻ đăng để tìm cách cứu Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến; Phải
3-4 tháng sau không thấy Tuổi trẻ gọi tới lấy nhuận bút, tôi đến tòa soạn đòi
nhuận bút. Phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ, Đà Trang ( Trưởng Văn phòng đại diện
báo Tuổi trẻ ở Hà Nội), hình như có gọi điện vào Sài Gòn xin ý kiến, sau đó
thanh toán cho tôi 400.000 đ.
Còn với Nguyễn Việt Chiến, khi Tòa chuẩn bị ra xử,
tôi có gặp Quốc Phong đề nghị báo mời tôi tham gia bào chữa cho Nguyễn Việt Chiến
vì tôi nắm vững Luật Báo chí chắc chắn hơn luật sư…
Tôi và Quốc Phong bàn nhau: Muốn để tôi bao chữa
thì phải sinh hoạt trong một đơn vị luật sư; không thể lấy danh nghĩa Trưởng
Phòng Thanh tra Báo chí để ra tòa biện hộ cho Chiến được…Tốt nhất nên lấy tư
cách hội viên Hội Nhà văn của tôi và Nguyễn Việt Chiến để tôi vào biện hộ…
Quốc Phong liền đến Hội nhà văn VN gặp Hữu Thỉnh đề
nghị Chủ tịch Hội Nhà văn Vn có công văn với Tòa, cử nhà văn Phạm Viết Đào thay
mặt Hội Nhà văn VN vào tham gia tố tụng và biện hộ cho Nguyễn Việt Chiến. Nhưng
Hữu Thỉnh đã né; Quốc Phong thông tin lại với tôi điều đó…
Sau này, Hữu Thỉnh có cử tôi với tư cách hội viên Hội
nhà văn VN vào tham gia một vụ tố tụng ở Vĩnh Phúc để biện hộ cho 1 truyện ngắn
của nhà văn Xuân Mai bị khởi kiện. Tôi đã bảo vệ thành công để nhà văn Xuân Mai
không bị Tòa xử phạt vì can tội viết ra cái truyện ngắn đó…
Nhân FB Hoàng Hải Vân kể về cái chết của ông Võ Văn
Kiệt dưới đây, Phạm Viết Đào ghi lại chuyện này độc giả thử liên hệ xem nó có
quan hệ “nhân quả” gì không với cú bị “ nhập kho 15 tháng” trong năm 2013 ?
Fb
Hoàng Hải Vân
VỤ PMU18, AI MUỐN XÉ BỎ PHÁP QUYỀN ?
Nếu ai để ý
sẽ thấy trong số báo ra ngày 13-5-2008, kèm theo bản tin 2 nhà báo bị bắt, báo
Thanh Niên có đặt câu hỏi ngay trên trang nhất : Có hơn 1000 bài báo viết về vụ
PMU18 đăng trên gần 100 tờ báo, sao lại bắt 2 nhà báo của Thanh Niên và Tuổi
Trẻ ? Câu hỏi đó chẳng bao giờ được ai trả lời.
Sau khi Thanh
Niên đăng loạt bài “Hãy trả tự do…” cùng với phản ứng trên báo Tuổi Trẻ trong
đó có bài “Vì sao ?” của anh Bùi Thanh, hậu quả là 4 nhà báo bị thu thẻ và thôi
chức là anh Nguyễn Quốc Phong và tôi ở báo Thanh Niên, anh Bùi Thanh và anh Đà
Trang ở báo Tuổi Trẻ. Quyết định thu thẻ nhà báo ký ngày 1-8-2008, đến ngày
22-8, Bộ TT&TT ra thông báo giải thích lý do, nói rằng đây là những người
“đã trực tiếp viết, biên tập, duyệt đăng các tin bài về vụ PMU 18, trong đó có
những thông tin sai sự thật nghiêm trọng. Đặc biệt là những thông tin kích động
phản đối hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong loạt tin bài sau khi
2 nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải bị cơ quan an ninh điều tra khởi
tố, bắt giam”.
“Những thông
tin sai sự thật nghiêm trọng” đó là những thông tin gì ? Chẳng có bất cứ văn
bản nào kết luận, trước đó cũng không hề có ai chỉ ra, không ai yêu cầu giải
thích hay đổi chất. Tôi biết chắc Bộ TT&TT cũng không hề có một chứng cứ
nào để đưa ra lời giải thích đó. Do đó chỉ có thể hiểu rằng Bộ này được lệnh
miệng từ cấp trên phải thu thẻ của 4 nhà báo và bị buộc phải lấy nội dung áp
đặt từ cơ quan an ninh điều tra để ra bản thông báo nói trên.
Trước khi nói
tiếp quá trình xử lý 4 nhà báo và 2 Tổng Biên tập, xin trở lại việc bắt 2 nhà
báo, 1 thượng tá và khởi tố 1 vị tướng cảnh sát mà không hề có chứng cứ phạm
tội. Bắt giam, khởi tố người mà không có chứng cứ phạm tội, lại liên quan đến
một vụ án đang xôn xao cả nước thì dù có mười cơ quan an ninh điều tra cũng
không dám, Bộ trưởng Công an tôi chắc cũng không dám, nên phải có cấp cao hơn
chỉ đạo. Cấp cao hơn đó là ai ? Đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Tôi khẳng
định điều này vì ngay sau khi 2 nhà báo bị bắt, anh Nguyễn Công Khế đã giao
nhiệm vụ cho anh Nguyễn Quốc Phong mang một tập tài liệu chứng minh 2 nhà báo
vô tội gửi cho một vị lãnh đạo Bộ Công an. Vị này nói với anh Quốc Phong rằng
“tổng chỉ huy” vụ này là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và đề nghị anh Phong gặp Thủ
tướng. Anh Quốc Phong đã mang tập tài liệu này đến gặp Thủ tướng Dũng, ông tiếp
anh Phong khoảng 10 phút, bảo ông sẽ xem tài liệu. Anh cũng đã gặp và giao tập
tài liệu cho một vị Ủy viên Bộ Chính trị khác, vị này hứa sẽ tìm cách giao cho
những người có thẩm quyền, nhưng dặn anh Quốc Phong không giao tài liệu đó cho
ai nữa.
Nhưng trước
đó, ngay sau khi 2 nhà báo bị bắt, để bảo vệ phóng viên của mình trong hoàn
cảnh dầu sôi lửa bỏng, anh Nguyễn Quốc Phong vẫn tìm cách gửi tập tài liệu nói
trên đến cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, lúc đó đang ở Hà Nội. Đọc tập tài liệu
xong, ông Sáu Dân bảo việc bắt người là không thể chấp nhận được. Một nguồn tin
thân cận cho chúng tôi hay, ông Sáu Dân đã cho người mời một Ủy viên Bộ Chính
trị đến, ông giận dữ vứt tập tài liệu trên bàn và kịch liệt phản đối việc bắt
người. Anh Nguyễn Công Khế cũng đã gặp ông Sáu Dân, ông bảo với anh Khế rằng
báo Thanh Niên không thể im lặng trong vụ bắt người này. Sau đó ông có tỏ thái
độ với ai nữa hay không thì chúng tôi không được biết, vì lúc này ông Sáu Dân
không còn khỏe nữa, ông đã qua đời đúng 1 tháng sau khi các nhà báo bị bắt và
trước khi người ta đập tan bộ máy lãnh đạo của 2 tờ báo.
Tôi kể lại
chuyện này để chứng minh rằng chúng tôi hoàn toàn có đủ căn cứ để công khai
trên mặt báo yêu cầu “Phải trả tự cho cho các nhà báo chân chính”. Nhưng cũng
chính vì sự phản ứng đó cùng với việc tìm cách cung cấp tài liệu về sự thật đến
những người có trách nhiệm đã làm tăng thêm mối nguy hiểm cho chúng tôi. 4 nhà
báo bị thu thẻ và 2 vị Tổng biên tập là anh Nguyễn Công Khế và anh Lê Hoàng đã
bị cơ quan an ninh điều tra hành hạ cho lên bờ xuống ruộng, riêng anh Nguyễn
Quốc Phong còn bị hành hạ nặng hơn do tìm cách lưu hành tập tài liệu này.
Vấn đề là các
Ủy viên Bộ Chính trị khác đương nhiên là biết việc bắt người nhưng vì họ không
biết có việc chỉ đạo sai pháp luật nên không ai phản đối việc bắt người. Vì sao
như vậy ? Có 2 lý do. Thứ nhất, do không biết có chỉ đạo bắt người nên họ nghĩ
đây là nghiệp vụ bình thường của cơ quan công an làm theo pháp luật, họ không
can thiệp. Thứ hai, họ được cơ quan an ninh cung cấp các chứng cứ ngụy tạo. Có
phải tất cả họ đều được cung cấp chứng cứ ngụy tạo hay không thì tôi không thể
biết, nhưng anh Nguyễn Công Khế nói lại với tôi là có một Ủy viên Bộ Chính trị
khuyên anh không nên bảo vệ anh Chiến vì bên an ninh có chứng cứ anh Chiến
“nhận tiền của phản động nước ngoài”. Tất nhiên anh Khế và chúng tôi hoàn toàn
không tin điều đó, nên Thanh Niên vẫn tìm mọi cách bảo vệ anh Chiến tới cùng.
Và sự thật diễn ra tại phiên tòa đã chứng minh việc “nhận tiền của phản động
nước ngoài” là hoàn toàn bịa đặt.
Theo dõi bài
viết của tôi có thể có các đồng bào làm an ninh, làm “dư luận viên” và “hoạt
động dân chủ”, nên trước khi kể tiếp câu chuyện PMU18 tôi xin lưu ý chung với
các đồng bào này rằng : Công cuộc Đổi Mới mà các vị lãnh đạo tiền nhiệm của đất
nước đã phải mướt mồ hôi sôi nước mắt để khởi xướng, duy trì và thúc đẩy nhằm
đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu không phải là sự nghiệp riêng của
Đảng Cộng sản mà là sự nghiệp của toàn dân. Cơ chế thị trường chỉ có thể vận
hành trong khuôn khổ luật pháp của một nhà nước pháp quyền. Nhưng cơ chế thị
trường nửa vời thì thúc đẩy tham nhũng, nhà nước pháp quyền nửa vời thì dung
túng cho lợi ích nhóm và sự lộng hành của tội phạm.
Trên lĩnh vực
truyền thông, mấy chục năm nay Báo Thanh Niên và Báo Tuổi Trẻ là hai tờ báo nổi
bật trong những cơ quan truyền thông đi đầu hậu thuẫn cho công cuộc Đổi Mới và
bảo vệ nhà nước pháp quyền. Chính vì vậy mà từ cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho
đến Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đều yêu mến, trọng thị
Thanh Niên và Tuổi Trẻ. Và cũng chính vì vậy mà Thanh Niên và Tuổi Trẻ trở
thành kẻ thù của các thế lực muốn xé bỏ pháp quyền trong Đảng Cộng sản Việt
Nam. Đó là sự trả lời cho câu hỏi đặt ra ở đầu bài viết này.
(Còn tiếp –
Kỳ tới : Vụ PMU18, đập tan 2 tờ báo hậu thuẫn công cuộc đổi mới)