Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017

Bí mật phong thủy đằng sau kiến trúc độc đáo của kinh thành Huế thời nhà Nguyễn (P.1); Ly kỳ chuyện chặt đứt long mạch chấn động lịch sử Trung Quốc

Có bài thơ rằng: 
“Sông Đằng một dải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”
(Bạch Đằng Giang Phú – Trương Hán Siêu) 
Lịch sử như dòng sông dài cuốn đi trong lớp sóng của nó bao nhiêu sự tích, chiến công, thành bại của cả một dân tộc. Thế kỷ 21 hiện đại với quá nhiều thú vui và dục vọng, mấy ai còn lưu tâm đến những huy hoàng của quá khứ, những tinh hoa của cổ nhân hay những bài học sâu sắc từ ngàn xưa? 
Việt Nam 4.000 năm văn hiến với nhiều triều đại kiệt xuất thấm đẫm văn hóa Phật Đạo Thần đã đem đến cho dải đất xinh đẹp này biết bao nhiêu kỳ tích và truyền kỳ vẫn còn rọi sáng đến tận hôm nay. Chúng tôi tiến hành loạt bài viết về lịch sử Việt Nam mong muốn đem đến cho quý độc giả một góc nhìn mới về sử Việt, chính là ôn cũ biết mới, ngẫm chuyện xưa nhìn chuyện nay, tự đúc rút cho mình những trải nghiệm riêng. 
Trong các di sản còn lại của thời phong kiến thì kinh thành Huế là còn nguyên vẹn và tiêu biểu nhất. Kiến trúc của kinh thành chính là thể hiện tầm vóc và sinh khí của cả dân tộc. Hãy cùng bắt đầu chuyến tham quan kinh thành Huế, khám phá đời sống của các đế vương, lần giở lại những trang sử lập quốc của một triều đại phong kiến Việt Nam đã từng rất hùng mạnh. 
Kiến trúc quan trọng nhất của kinh đô Huế chính là tòa kinh thành. Bằng một vốn văn hóa sâu dày trăm năm và tài trí của dân tộc, các vị Hoàng đế triều Nguyễn đã tạo nên một tòa hoàng cung tráng lệ. Ngoài việc dùng làm nơi sinh hoạt, tòa thành này còn có một vai trò vô cùng quan trọng, đó là: Tận dụng sức mạnh phong thủy, kế thừa truyền thống Nho học để định hình một quy chuẩn lãnh đạo chuẩn mực nhất cho muôn đời con cháu nhà Nguyễn noi theo. 

Toàn cảnh kinh thành Huế khi nhìn từ trên cao. Ảnh dẫn theo youtube.com

Tại sao một tòa thành lại có thể định hình tư duy và thậm chí định ra quy chuẩn lãnh đạo truyền lại đến đời sau như vậy? Vì phong thủy đỉnh cao vốn không phải dùng để chiêu tài cầu may mà chính là dùng cho Đế vương cai trị thiên hạ. Sắp xếp quốc gia sao cho Thiên – Địa – Nhân đạt đến sự hòa hợp cao nhất (Thái hòa) mà vươn đến thời toàn thịnh. Vậy nên kiến trúc phong thủy của cả tòa thành phải đạt được cảnh giới thông linh, có thể sinh ra trường năng lượng tốt lành, tác động được đến tư duy và cách sinh hoạt của chủ nhân khiến nó trở nên hài hòa chuẩn mực, biến chủ nhân thành một đấng minh quân.
Trong trường hợp ý Trời cho một người quá kém cỏi lên làm vua thì phong thủy của tòa thành cũng sẽ cứu vãn một phần, để vị vua ấy không trở thành hôn quân bạo chúa. Chính vì thế cố đô Huế mang một giá trị vĩnh hằng trong nghệ thuật kiến trúc đỉnh cao của Việt Nam, điều vốn không nằm ở tầm vóc quy mô công trình mà chính ở giá trị phong thủy tâm linh cũng như quá trình cải tạo phong thủy hơn 200 năm mà các vua chúa Nguyễn đã dày công gây dựng.
Nghệ thuật phong thủy đỉnh cao chính là phong thủy tâm linh với nền tảng nhân đức
Kinh thành Huế (hay Thuận Hóa) là một tòa thành ở cố đô Huế, nơi đóng đô của triều đại nhà Nguyễn trong suốt 143 năm (1802 – 1945). Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng.
Tòa thành được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520ha. Về mặt phong thuỷ, tiền án của kinh thành là núi Ngự Bình cao hơn 100 mét, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, nằm giữa vùng đồng bằng như một bức bình phong thiên nhiên che chắn trước kinh thành. Hai bên là Cồn Hến và Cồn Dã Viên làm tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ (rồng xanh bên trái, hổ trắng bên phải) tạo thế rồng chầu hổ phục, tỏ ý tôn trọng vương quyền. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng, nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành. 

Bằng một vốn văn hóa sâu dày trăm năm và tài trí của dân tộc, các vị Hoàng đế triều Nguyễn đã tạo nên một tòa hoàng cung tráng lệ. Ảnh dẫn theo huecitytour.com

Vòng thành có chu vi gần 10km, cao 6,6m và dày 21m được xây khúc khuỷu với những pháo đài được bố trí cách đều nhau, kèm theo các pháo nhãn, đại bác, kho đạn. Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây gạch. Bên ngoài vòng thành có một hệ thống hào bao bọc. Riêng hệ thống sông đào (Hộ Thành Hà) vừa mang chức năng bảo vệ vừa có chức năng giao thông đường thủy có chiều dài hơn 7km.
Xem ra phong thủy kinh thành Huế dường cũng không có gì đặc biệt nếu so với các linh địa nổi tiếng khác trên thế giới. Nhưng nếu kết hợp với quá trình tích đức 200 năm khởi nguồn là việc xây chùa Thiên Mụ để tụ linh cho long mạch thì kinh thành Huế chính là kết quả của sự dày công tụ linh tích đức đó. Trong lịch sử có dòng họ nào làm Chúa đến 200 năm rồi lại làm Hoàng Đế thêm 143 năm, mở mang ra một lãnh thổ rộng lớn và hùng mạnh hơn bất kỳ thời nào trong 4000 năm lịch sử Việt Nam? Kinh đô Huế phải được xem xét đúng với giá trị vĩ đại của nó. Huế vừa là kỳ quan phong thủy tâm linh, vừa từ phong thủy mà khai sáng cả một thời đại thịnh trị của dân tộc. Để xây dựng nên nó, họ Nguyễn đã mất hơn 232 năm vừa chuẩn bị âm đức vừa tiến hành xây dựng. 
Kỳ đài – Ý chí của Hoàng gia, chính khí Nho học mãi trường tồn
Kỳ đài là kiến trúc cao nhất trong kinh thành Huế, nằm ở góc chính Nam của kinh hành đối diện Ngọ Môn. Kỳ Đài gồm hai phần: đài cờ và cột cờ. Đài cờ gồm ba tầng hình chóp cụt chữ nhật chồng lên nhau. Tầng thứ nhất cao hơn 5,5m, tầng giữa cao khoảng 6m, tầng trên cùng cao hơn 6m. Tổng cộng của ba tầng đài cao khoảng 17,5 m.

Kỳ Đài cao 3 tầng tượng trưng Thiên – Địa – Nhân hòa hợp và Tam cương (vua tôi, cha con, vợ chồng), là nền móng của đạo đức Nho học. Ảnh dẫn theo khamphahue.com.vn

Theo văn hóa cổ thì kỳ đài nằm ở phía chính Nam, thuộc cung Ly, hành Hỏa tượng trưng cho sự vui vẻ hòa hợp, tinh thần sáng suốt và sự giáo dục, giáo hóa dân chúng. Ngoài ra cung này còn tượng trưng cho toàn dân Viêt Nam vì Việt Nam là đất nước cuối cùng nằm ở phương Nam (so với Trung Quốc).
Lá cờ tượng trưng cho Hoàng quyền màu vàng, hành Thổ, được sinh vượng bởi hành Hỏa của nhân dân, ngụ ý đây là triều đại chính thống trị vì một cách lâu dài. Quyền lực của Hoàng đế phải đem lại sự hòa hợp, sáng suốt trong cai trị và giáo hóa dân chúng để đạt đến thịnh trị. Vì lửa luôn bốc lên cao, luôn hướng thượng, hướng về điều tốt đẹp.
Hành Hỏa còn tượng trưng cho việc tu hành đắc Đạo hay đời sống tâm linh nên nó còn ngụ ý sâu hơn chính là Hoàng đế tốt nhất phải là người tu Đạo, trở thành Thánh nhân. Nói cách khác, Hoàng đế phải coi quốc gia như một nơi để mình tu tâm và thực hành trị quốc theo Đạo. Đạo ở đây chính là Thiên Đạo vì Hoàng đế chính là con trời. Có như vậy mới đưa quốc gia trở nên thời Nghiêu Thuấn, một thời đại lý tưởng theo quan niệm của Nho gia khi quốc gia được trị vì bởi Thánh nhân.
Đài cao 3 tầng tượng trưng Thiên – Địa – Nhân hòa hợp và Tam cương (vua tôi, cha con, vợ chồng), là nền móng của đạo đức Nho học. Ngụ ý Hoàng đế phải thuận theo ý Trời, an lòng dân, luôn giữ vững chuẩn mực cai trị, sống đời đạo đức, chăm sóc đời sống tâm linh cho nhân dân nếu muốn vận nước được lâu dài.
Kỳ đài xây dựng cao to bề thế nhất kinh thành đại biểu cho ý chí của hoàng gia phải luôn vững mạnh và hướng thượng như một ngọn lửa soi sáng cho quốc dân, giữ vững cương thường để chính khí Nho học luôn mãi trường tồn và làm gương cho thiên hạ.
Đây là chuẩn mực đầu tiên và tổng quát nhất về việc cai trị mà một vị tân Hoàng đế đều phải nắm rõ. Và đó chỉ là một yếu tố, vẫn còn hàng loạt những bài học nữa đã được khéo léo cài sẵn trong những kiến trúc ở kinh thành. Chúng tồn tại một cách trầm mặc như những ông thầy nghiêm khắc nhất luôn nhắc nhở Hoàng đế không ngừng nghỉ suốt cả cuộc đời. 
Ngọ Môn và Ngũ Phụng Lâu, noi gương Thánh nhân mà cai trị
Ngọ Môn là cổng chính của Hoàng thành Huế, là nơi ra vào của Hoàng đế trong những đại lễ quan trọng. Nó nghĩa là Cửa Nam vì nằm ở Ngọ theo trục Tí Ngọ của phong thủy. Theo Dịch học, hướng Nam là hướng dành cho bậc vua Chúa để “nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trị” (hướng về ánh sáng để nghe thiên hạ và cai trị thiên hạ một cách sáng suốt). 

Khung cảnh bề thế của Ngọ Môn và Lầu Ngũ Phụng khi nhìn từ bên trong cho thấy trình độ học vấn về phong thủy uyên thâm của các vua chúa triều Nguyễn. Ảnh dẫn theo wikipedia.org

Tất cả vua chúa xưa đều xem trọng phương Nam vì Khổng Tử vốn xuất thân ở miền Nam. Chu Dịch mà Khổng Tử học cũng xuất xứ từ phương Nam nên văn hóa cổ coi phương Nam là phương của Thánh nhân. Ngoài ra Ngọ Môn thiết kế hình chữ U ở thế thu vào, mục đích là thu cát khí của phương Nam, sinh vượng cho tòa thành, nói cách khác chính là luôn tiếp thu sự đóng góp tốt lành của nhân dân và thần tử để đế quốc luôn tốt đẹp.
Bên trên Ngọ Môn có Ngũ Phụng Lâu là nơi vua ngự khi có các sự kiện quan trọng. Vì chim phượng hoàng chính là loài chim thiêng. Người ta tả chim phượng hoàng với các đặc điểm sau: Đầu gà, hàm én, cổ rắn, lưng rùa, đuôi cá, có 5 màu và cao 6 thước. Nó tượng trưng cho 6 thiên thể, có thể hiểu nôm na: Đầu là trời, mắt là Mặt Trời, lưng là Mặt Trăng, cánh là gió, chân là đất và đuôi là các hành tinh. Lông của nó đại diện cho màu sắc của Ngũ hành: Đen, trắng, đỏ, xanh và vàng. Người ta dùng hình tượng chim phượng hoàng để tượng trưng cho vũ trụ xung quanh nơi vua ngự.
Tên Ngũ Phụng còn là vì lầu này có 5 gian chính, ở giữa lợp ngói hoàng lưu ly dành cho vua và hoàng gia ngự. Bốn gian phụ hai bên lợp ngói thanh lưu ly dành cho quần thần. Tổng cộng lầu có 9 gian, vì số 9 và 5 tượng trưng cho Hoàng đế. Tòa lầu này có tổng cộng 100 cây cột, tượng trưng cho bách tính hay số 100 trong độ số của Lạc Thư, Hà Đồ, mang chung một ý nghĩa chỉ vũ trụ và toàn quốc quy phục xung quanh nhà vua.
Tóm lại, Ngọ Môn và Lầu Ngũ Phụng chính là được xây để Hoàng đế luôn ý thức được rằng sự trị vì của mình phải đạt đến thịnh thế, cai trị bằng nhân đức như các bậc Thánh nhân ngày xưa. Cũng bởi phượng hoàng là loại chim chỉ được nói đến trong thời bình thịnh thế mà thôi. Kiến trúc của Ngọ Môn và Lầu Ngũ Phụng cũng nhắc nhở các bậc Thiên tử khi ngự ra cổng lớn phải nhớ rằng xung quanh mình chính là cả một vũ trụ, phải cư xử sao cho đúng với đạo làm vua.
Thật là:
Trời làm màn gối, đất làm chiênNhật nguyệt cùng ta một giấc yênĐêm khuya chẳng dám dang chân duỗiChỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng
(Lý Thái Tổ)
(Còn nữa)
Tĩnh Thủy


Ly kỳ chuyện chặt đứt long mạch chấn động lịch sử Trung Quốc


Núi Vân Long gồm có 9 sườn núi giống dáng như chín con rồng đang bay, chính vì thế cổ xưa gọi là núi Cửu Long. Theo cách nói của các thuật sĩ phong thủy đây chính là mảnh phong thủy bảo địa tuyệt đẹp, giúp vương triều nhà Kim lớn mạnh.

phong thủy, nỗ nhĩ cáp xích, nhà kim,
Chân dung Nỗ Nhĩ Cáp Xích. (Ảnh: Kknews)
Nỗ Nhĩ Cáp Xích dựng nước ở Đông Bắc, lấy quốc hiệu là “Kim”, sử sách ghi là “hậu Kim”, ông muốn tưởng nhớ đến Kim quốc của tổ tiên tộc Nữ Chân đã dựng lên, hi vọng có thể tiếp tục sự nghiệp mà tổ tiên chưa hoàn thành.
Thế lực của Nỗ Nhĩ Cáp Xích ngày càng lớn mạnh, không ngừng mở mang bờ cõi ra ngoài biên ải và tạo thế uy hiếp to lớn đến vương triều Đại Minh.
Lúc này có người bẩm với Thiên Khải Hoàng đế Chu Do Hiệu rằng việc Nỗ Nhĩ Cáp Xích đang phô trương thanh thế ở phía Đông Bắc là do “vương khí” của Kinh Tây Kim Đế lăng đã nhập táng hơn 300 năm trước của tộc Nữ Chân giờ đây lại bắt đầu phát. Chỉ có cách triệt phá phong thủy, chặt đứt long mạch, để lọt hết “vương khí” mới có thể giải trừ được nguy cơ lớn nhất từ Nỗ Nhĩ Cáp Xích.
Nhắc đến nước Kim, tuy không phải là một vương triều thống nhất trong lịch sử Trung Quốc, nhưng sự tồn tại của nó không thể phủ nhận. Năm 1115, Hoàn Nhan A Cốt Đả đã xưng đế ở Hội Ninh (nay thuộc A Thành, Hắc Long Giang).
Theo ghi chép trong sử sách thì đây được coi là thái tổ của nhà Kim, sau này nước Kim lớn mạnh, đã tràn vào Trung Nguyên giết chết Triệu Khuông Dận – Hoàng đế khai quốc nhà Tống, cùng tồn tại song song với nhà Tống nuôi mưu đồ thống nhất giang sơn.
Nhưng chưa thành đại nghiệp thì đến năm 1234 đã bị tan rã dưới vó ngựa của đội quân Mông Cổ hùng mạnh. Nước Kim tồn tại 120 năm trong lịch sử, trải qua 9 đời hoàng đế, tuy chưa hoàn thành được cục diện đại thống nhất nhưng lại viết lên 1 trang lịch sử vô cùng huy hoàng trong văn hóa lăng tẩm hoàng thất Trung Quốc cổ đại, đặc biệt là bố cục về phong thủy của các lăng tẩm có thể được coi là kinh điển.
Đế Vương lăng của Kim triều vốn đã được chọn đặt bên bờ Hắc Long Giang, Hải lăng Vương Hoàn Nhan Lượng đã nhìn ra thế phong thủy của núi Vân Long, cho nên con cháu tộc Nữ Chân đã đưa mộ tổ từ nơi xa xôi vạn dặm về định tại núi Vân Long.
Núi Vân Long gồm có 9 sườn núi giống dáng như chín con rồng đang bay, chính vì thế cổ xưa gọi là núi Cửu Long. Theo cách nói của các thuật sĩ phong thủy đây chính là mảnh phong thủy bảo địa tuyệt đẹp.
Phía trước có ít nhất 2 ngọn “sơn” tức “triều sơn”, “án sơn”. Hai bên tả hữu tương xứng là “hộ sa” (“triều sơn” chính là các văn võ bá quan trong triều, “án sơn” chính là nơi hoàng đế đặt biện công trác “án cơ”).
9 sườn núi của núi Vân Long chạy theo hướng từ cao đến thấp và lần lượt tỏa ra các hướng. Đỉnh chính giữa phía trước là vách núi cao sừng sững, khu ở giữa bằng phẳng, hai bên nhô lên hai gò cao.
phong thủy, nỗ nhĩ cáp xích, nhà kim,
Núi Vân Long. (Ảnh: Must See Places)
Phía Đông là những ngọn núi trập trùng, phía Tây chi chít các gò, đồi cao thấp. Dưới chân đỉnh chính là dòng suối uốn lượn, quanh năm nước chảy. Cây cối um tùm tươi tốt, mây tím che phủ lưng trời, có thể thấy sơn hình địa mạo của núi Vân Long vô cùng phù hợp với các điều kiện phong thủy cần có.
Vách núi cao ở phía xa chính là “triều sơn”, những gò, đồi thấp và bằng phẳng hơn chính là “án sơn”, hai bên tả hữu chi chít các gò đồi bằng phẳng chính là “hộ sa” tức “tả Thanh Long”, “hữu Bạch Hổ”.
Cho nên các thuật sỹ phong thủy thời cổ đại đã nhận định rằng phong thủy lăng mộ của Kim Đế vương lăng chính là một công trình kinh điển về phong thủy bảo địa. Chính vì thế đã giúp bảo vệ sự hưng vượng cho gia tộc Nữ Chân suốt 300 năm sau này.
Sau khi nhà Kim bị diệt vong, vì mục đích báo thù mà người Mông Cổ đã đập phá Kim Đế vương lăng. Nhưng sau khi người Mông Cổ thống nhất Trung Quốc, họ lại coi Kim quốc là người một nhà và tiến hành trùng tu Kim Đế vương lăng về nguyên dạng. Kim Đế vương lăng đã trở thành một trong “Kinh Tây bát cảnh” nổi tiếng thời bấy giờ.
Sau khi nhà Minh thành lập, Chu Nguyên Chương cũng không đập phá Kim lăng cho đến khi Chu Do Hiệu lên nắm triều chính mới tạo nên vết nhơ “thiên khải quật lăng” trong lịch sử. Lúc này thế lực của Hậu Kim vô cùng hùng cường, trong vòng chưa đến một năm Thẩm Dương lượt thất thủ, toàn bộ bờ tây Liêu Hà cũng rơi vào tay nhà hậu Kim. Chưa đến tháng Giêng Thiên Khải năm thứ 2 đã công chiếm Tây Bình Bảo làm lên trận “Tây Bình Bảo chiến dịch” nổi tiếng trong lịch sử.
Nhà Minh cũng vài lần phản công nhưng đều thất bại, Bức Đắc Chu Do Hiệu đã không lo lắng tìm cách cứu vận nước mà còn tranh thủ cơ hội sai người đến đào bới lăng mộ tổ nhà Hậu Kim với mục đích chặt đứt long mạch nhằm ngăn không cho Bát Kỳ tiến sâu vào Trung Nguyên.
Theo cách nói của các nhà phong thủy thì: sơn mạch, giang hà chính là long mạch, nếu long mạch đứt, tiên thiên long khí tiêu tán, sinh long thành tử long, mọi việc đều tan, đại sư kinh thiên động địa này đã làm tổn thương Long thần, thiên nhân cảm ứng, tất sẽ giáng họa lên con người.
Để chặt đứt hoàn toàn long mạch của tộc Nữ Chân các đại sư phong thủy đã tìm ra huyệt vị long mạch của Kim lăng. Ở đoạn “long đầu” chặt đi một miếng đá núi lớn coi như là chặt đầu Long, phần được coi là yết hầu của “long đầu” đào một hố sâu và nhét đầy đá sỏi nhằm chặt đứng hẳn long mạch, lộ hết vương khí.
Cảm thấy chưa yên tâm, họ còn xây thêm 1 tòa “tháp cao” trên lăng chỉ. Tuy đã tính toán kỹ lưỡng, thuật phong thủy cao siêu nhưng triều Minh đã quên mất một điều vô cùng quan trọng rằng bánh xe lịch sử luôn hướng về phía trước, khi khí số của giang sơn đại Minh đã tận chỉ, dựa vào triệt long mạch của tộc Nữ Chân để bảo vệ giang sơn chỉ là chuyện hoang đường.
Nói cách khác theo thuyết phong thủy thì nơi vùng đất bao la rộng lớn phía Đông Bắc thì long mạch quyết định sự phát triển cho tương lai của hậu Kim có lẽ đã không còn nằm ở Kim Đế vương lăng nữa mà đã chuyển đến nơi nào cũng chưa hay.

TinhHoa tổng hợp
Xem thêm:

TRUNG QUỐC KHỞI CHIẾM VỊ XUYÊN-HÀ GIANG TỪ NĂM NÀO ? (Nhân chứng 2)

                                          Ghi chép của Phạm Viết Đào.
Trong cuộc chiến chống Trung Quốc tại Vị Xuyên, Hà Giang, bộ đội ta ngoài vũ khí của Liên Xô, 
có sử dụng vũ khí của Mỹ và Ấn Độ...
                                                                                   Bài liên quan:




CCB SƯ 313 VŨ VĂN SOÁI, QUÊ HOẰNG HÓA, THANH HÓA:

Phạm Viết Đào: -Chào anh đề nghị anh cho biết quý danh ?
Vũ Văn Soái: -Tôi là Vũ Văn Soái quê ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa
Phạm Viết Đào:- Anh lên Hà Giang năm nào ?
Vũ Văn Soái:-Tôi lên Hà Giang tháng 2/1979 đúng lúc xảy ra chiến tranh biên giới với Trung Quốc
Phạm Viết Đào:-Anh rời Hà Giang năm nào ?
Vũ Văn Soái:- Tôi rời Hà Giang năm 1993
Phạm Viết Đào:- Như vậy anh ở Hà Giang mười mấy năm
Vũ Văn Soái:- Tôi ở Hà Giang 11 năm
Phạm Viết Đào:- Trước 1979 anh ở đâu ?
Vũ Văn Soái:-Trước 1979 tôi ở Quân khu IV
Phạm Viết Đào:- Đề nghị anh kể cho diễn biến 1979 Trung Quốc đánh ở Hà Giang như thế nào ?
Vũ Văn Soái:-Năm 1979, đơn vị của tôi được giao nhiệm vụ chốt giữ điểm cao 1800 A, 1800 B, 872, sau khi mình chốt giữ thì Trung Quốc đưa quân tấn công mình từ tháng 2/1979 cho đến năm 1980 thì mình bị mất những cái chốt ấy…
Phạm Viết Đào:- Hồi đó anh là lính giữ chốt ở trên đó ?
Vũ Văn Soái:- Hồi đó tôi làm Trưởng ban quân nhu của Trung đoàn…
Phạm Viết Đào:-Theo anh vì sao mình không giữ được những cái chốt ấy ?
Vũ Văn Soái:-Lúc đó quân của mình mỏng quá, chủ yếu là quân địa phương, quân chủ lực ít.
Phạm Viết Đào:-Mình bố trí bao nhiêu quân giữ những cái chốt ấy ?
Vũ Văn Soái:-Mình bố trí 1 trung đoàn chốt giữ ( Vị Xuyên) riêng những cái chốt ấy mình bố trí 1 tiểu đoàn…
Phạm Viết Đào:-Mình chỉ có 1 trung đoàn chốt giữ mặt trận Vị Xuyên Hà Giang ? Thế Trung Quốc đánh thì mình giữ được bao lâu ?
Vũ Văn Soái:-Mình giữ cho tới 1981 thì mất…
Phạm Viết Đào:-Thế cao điểm 1509 mất như thế nào anh có nắm được không ?
Vũ Văn Soái: Cao điểm 1509 giữa ta và Trung Quốc giằng co nhau Trung Quốc đánh chiếm, ta lấy lại…Cho đến tháng 4/1984 thì cao điểm 1509 mất hẳn…
Đến năm 1984 ta mới đưa một loạt sư đoàn quân chủ lực lên như Sư 356, Sư 316…
Phạm Viết Đào:-Anh có nhớ gì trận 28/4/1984 khi Cao điểm 1509 bị mất hẳn
Vũ Văn Soái:-Thời kỳ đó tôi đang đi học dưới Yên Bái nên diễn biến của trận đánh tôi không nắm được…

Phạm Viết Đào:- Anh ở Hà Giang từ 2/1979 tới năm 1993, anh có kỷ niệm gì đáng nhớ không ?
Vũ Văn Soái:-Tôi nhớ nhất là trận đánh để lấy lại Cao điểm 1688; Dành đi giật lại, đánh đi lấy lại hết đơn vị này đến đơn vị khác nhảy vào, tất nhiên mình vẫn giữ được nhưng tổn thất của mình quá lớn…
Phạm Viết Đào: -Ước tính mình thiệt hai bao nhiêu ánh có nhớ được không ?
Vũ Văn Soái: -Có cả những trung đoàn, tiểu đoàn của ta bị xóa sổ
Phạm Viết Đào:- Nghĩa trang của lính Sư 313 của mình bây giờ nằm ở đâu ?
Vũ Văn Soái:-Nghĩa trang của lính Sư 313 nằm ở 3 nơi: một nơi nằm ở ngã ba Thanh Thủy; Hình như bây giờ được chuyển về km 17, ở xã Đạo Đức…
Nói thực ra cuộc chiến tranh với Trung Quốc…giữa cái sống và cái chết, giữa cái còn và cái mất không kể hết được. Bên nó cũng chết nhiều…Bên mình cũng tương đối…
Phạm Viết Đào:-Năm 1979 thì anh chính thức ở chỗ nào ở Hà Giang ?
Vũ Văn Soái: -Tôi đóng quân ở cầu Khỉ
Phạm Viết Đào:- Trung Quốc đưa quân tràn sang như thế nào ?
Vũ Văn Soái:- Trung Quốc vẫn đưa quân theo chiến thuật “ đầu nhọn đuôi dài”…; Trung Quốc đưa bộ binh tràn sang, ta tấn công thì họ lại lùi…
Phạm Viết Đào:-Anh ở bộ phận quân nhu, vậy hồi đó quân mình trang bị những loại vũ khí gì ?
Vũ Văn Soái:- Hồi đó mình đã sử dụng H 12 loại 12 nòng, 24 nòng và 36 nòng…, Súng DKB, pháo cối, pháp 85, 105, 122 của Liên Xô…, thiết giáp, xe tăng…
Phạm Viết Đào:-Theo anh thì hỏa lực của ta so với Trung Quốc như thế nào ?
Vũ Văn Soái:- Nếu mình sử dụng so với Trung Quốc thì hỏa lực của mình mạnh hơn nó nhưng nó lại nhiều đạn hơn mình.
Phạm Viết Đào:-Hồi đó mình sử dụng vũ khí của Liên Xô có sử dụng vũ khí của Mỹ không ?
Vũ Văn Soái:-Có sử dụng vũ khí của Mỹ, pháo 105 là của Mỹ…
Phạm Viết Đào:-Mình có đủ đạn bắn không; Nguồn đạn Mỹ mình lấy từ đâu ?
Vũ Văn Soái:- Nói chung mình sử dụng vũ khí của Mỹ để đánh chặn khi Trung Quốc tấn công, bắn cầm canh…phòng thủ là chủ yếu…
Phạm Viết Đào:-Nghe nói hồi đó ta có nguồn đạn từ Ấn Độ phải không ?
Vũ Văn Soái:- Ta sử dụng vũ khí, nguồn đạn từ Liên Xô, Ấn Độ, chiến lợi phẩm từ các kho của Mỹ để lại…

P.V.Đ.
( Còn nữa…)


NGHĨ VỀ LÁ THƯ CỦA NHÀ THƠ HỮU THỈNH VÀ THƯ TRẢ LỜI CỦA NHÀ VĂN PHAN NHẬT NAM; Lưu Trọng Văn - Một nhà văn không cho phép mình đánh đồng thể chế mình không ưa với tổ quốc của mình.

Gã có tí toáy viết văn nhưng không nhận mình là nhà...văn. Tuy vậy chuyện văn chương là chuyện rung dây động ...lòng con người nên gã cũng quan tâm nhiều lắm.

Nhà thơ Hữu Thỉnh (bìa trái) và Nhà văn Phan Nhật Nam (bìa phải).
Nhà thơ Hữu Thỉnh (bìa trái) và Nhà văn Phan Nhật Nam (bìa phải).
Mới đây nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo một tài thơ đương đại của nước nhà có đưa ra lời bình về việc nhà văn Phan Nhật Nam từ chối thẳng thừng lời mời của nhà thơ Hữu Thỉnh nhân danh Hội NV VN về nước dự diễn đàn các nhà văn hoà giải, hoà hợp dân tộc.

Nói cho nhanh, gã tôn trọng ý kiến của Phan Nhật Nam. Và nói cho nhanh nữa gã không đồng tình bác Tạo cho rằng việc Phan Nhật Nam từ chối lời mời là....quá khắt khe.

Vấn đề của một người như nhà văn Phan Nhật Nam từng trải, đau đời, yêu nước chịu cảnh tha hương không hề là chuyện thù hận cá nhân cái chính thể mà bác Thỉnh đại diện cho nhánh văn chương. Nếu vậy, bác Nam quá nhỏ nhặt, tầm thường.

Vấn đề là với tư cách một nhà văn mà những tư tưởng công bằng, nhân văn, bác ái và nghệ thuật đích thực là tôn chỉ của ngòi bút cùng ngòi bút ấy đứng về nhân dân, dân tộc hay không, bác Nam có quyền có những khắt khe của mình. Bác Nam thậm chí có quyền xem xét đối tượng của mình có thành tâm vì quốc gia dân tộc hay không để nhận lời mời. Đó là niềm kiêu hãnh chính đáng của một nhà văn mà ở VN lâu nay nhiều người mang tiếng là nhà văn nhưng bỏ quên mất.

Vì vậy, khi phê bác Nam không mở lòng với bác Thỉnh, thì bác Tạo đã quên yếu tố là niềm tin. Với nhà văn chân chính niềm tin là thước đo của trang viết và sự nghiệp. Bác Nam không tin bác Thỉnh, thì bác Tạo một thi nhân chả phe phái nào cần đặt cáu hỏi vì sao bác Nam lại không tin bác Thỉnh chứ? Vậy thì vấn đề là bác Thỉnh chứ đâu phải là bác Nam.

Tuy vậy bác Phan Nhật Nam kính mến à, nếu bác từ chối về thăm tổ quốc và đồng bào của mình, với gã ,lại là câu chuyện khác đấy nhá.

Một nhà văn không cho phép mình đánh đồng thể chế mình không ưa với tổ quốc của mình.

Một nhà văn không cho phép mình đánh đồng những nhà cai trị mình ghét với đồng bào của mình.

Phạm Duy lớn chính ở điều ấy.

Quốc gia, dân tộc hơn bao giờ hết cần những tác phẩm hay nhất, rạng rỡ nhất cho người Việt , và đó là những giá trị đích thực nhất mà nhà văn cống hiến cho quốc gia,dân tộc của mình.

Vâng,ở góc nhìn đó thì sự tha hương hay sống trên quê hương chỉ là chọn lựa của nhà văn mà thôi,vì nó không hề ảnh hưởng đến sự vĩ đại của nhà văn có cống hiến như thế cho quốc gia dân tộc.

Lưu Trọng Văn

(FB Lưu Trọng Văn)


Nguyn Trng To đã thêm 2 nh mi — cùng với Song Hào Trn và 61 ngưi khác.
5 giờHà Ni

NGHĨ VỀ LÁ THƯ CỦA NHÀ THƠ HỮU THỈNH VÀ THƯ TRẢ LỜI CỦA NHÀ VĂN PHAN NHẬT NAM.
Câu chuyện này đang gây sự chú ý của giới văn chương cả trong nước và hải ngoại. Lá thư của nhà thơ Hữu Thỉnh với tư cách là Chủ tịch hội Nhà Văn VN mời nhà văn Phan Nhật Nam về nước giao lưu với các nhà văn nhân dịp tổ chức "Cuộc gặp mặt Mùa Thu Hà Nội cùng những giá trị bền vững của tâm hồn Việt... trong khuôn khổ một cuộc gặp mặt của Hội Nhà văn Việt Nam với các nhà văn Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài"; và lá thư từ chối lời mời này của nhà văn Phan Nhật Nam.
Theo tôi nghĩ, Hữu Thỉnh (1942) và Phan Nhật Nam (1943) là hai nhà văn lính cùng thời, cùng thế hệ ở 2 trận tuyến đối lập trong chiến tranh. Trong cuộc chiến, tất nhiên là hai bên mang 2 ý thức hệ khác nhau, 2 lý tưởng khác nhau. Và cuộc chiến đẫm máu đã xảy ra. Văn chương cũng vậy, cả 2 văn tài đều viết theo lý tưởng của mình. Và cả 2 người đều nổi tiếng. Chiến tranh kết thúc, cả 2 văn tài này cũng có những số phận khác nhau. Hữu Thỉnh được đi học tiếp và trở thành người lãnh đạo hội Nhà văn VN. Phan Nhật Nam bị cầm tù 9 năm rồi sang Mỹ theo diện HO, thành công dân Mỹ và vẫn tiếp tục viết văn. Mỗi người đều đeo đuổi sự nghiệp văn chương của mình.
Cái đau nhất là sau thống nhất đất nước, dân tộc chưa hòa giải được để lòng người Việt trên khắp thế giới này "qui về một mối". Lỗi ở đâu, lỗi ở ai, sau hơn 4 thập niên, các nhà văn đều biết. Và dù hận thù có kinh hoàng đến đâu từ cả 2 phía, thì điều lớn hơn là đều mong cho "nước nhà thống nhất lòng người".
Tôi cho rằng, hệ thống chính trị/thể chế đã quá lạc hậu với thời cuộc và lương tâm dân tộc sau thống nhất, nhưng việc đó không chỉ do hệ thống, mà chính lòng tự ái hay tự trọng quá lớn của bên thắng bên thua sau cuộc chiến đã làm lóa mắt tất cả. Và hận thù lúc này hay lúc khác vẫn chưa lu mờ trong khi các ý thức hệ vẫn còn tồn tại.
Tôi nghĩ, các tài năng văn chương lớn bao giờ cũng vượt qua tất cả những điều đó, để mang tới cho dân tộc Việt Nam những tác phẩm được người Việt và cả thế giới yêu thích - đó là tinh thần nhân văn cao cả.
Chỉ có những nhà văn không cố chấp mới nắm tay nhau đi tới bến bờ mới của tương lai.
Một lời mời là thiện chí. Một lời từ chối cũng không thiếu thiện chí. Nhưng nếu tất cả các nhà văn 2 phía (quá khứ) đều không mời nhau, không bắt tay nhau, thì đó là sự kéo lùi tương lai về hiện tại, thậm chí về quá khứ.
Đã có 11 phi công Mỹ ném bom Việt Nam đã tới Việt Nam gặp gỡ giao lưu đầy thiện chí; và ngược lại, 11 phi công VN đã tới Mỹ trong sự chào mừng hoan hỉ. Họ nói, ngày xưa tìm cách tấn công nhau trên bầu trời, còn giờ đây là những cái bắt tay thân thiện và khâm phục.
Chả lẽ các nhà văn lại từ chối nhìn mặt nhau. Thật xấu hổ với những "giặc lái" đã trở thành bè bạn.
Ngày xưa, chúng ta đã xẻ chiến hào trên chiến trường, trong văn học, giờ đây lại đào thêm hố sâu ngăn cách giữa các nhà văn, thì còn là nhà văn nữa hay không?
Vì thế, tôi không thích lá thư của nhà văn Phan Nhật Nam, dù anh đòi hỏi nhiều điều mà theo tôi, tất cả các nhà văn chúng ta cần phải làm chứ không chỉ hệ thống chính trị/thể chế hiện thời. Vì điều đó không chỉ anh Nam biết và muốn. Chúng tôi cũng vậy thôi, thậm chí đã nghĩ từ rất lâu và đã viết. Nhưng anh là nhà văn thì anh cũng nên coi những nhà văn khác đều có sứ mệnh như mình. Sứ mệnh này đâu phải chỉ riêng anh.
Và tôi biết nhiều nhà văn nổi tiếng hải Ngoại cũng có thể nghĩ như anh, nhưng họ đã vượt qua cái lằn ranh suy nghĩ ấy. Họ sẽ về gặp mặt với các nhà văn trong nước để tận hưởng những ý nguyện của nhau: Văn chương vì con người, vì dân tộc và vì thế giới.
Tôi tôn trọng ý kiến anh Nam, nhưng tôi không nhất trí với anh. Tôi chỉ nhất trí một điều, anh về hay không về, đó là quyền của riêng anh.
Và lời mới của Hữu Thỉnh, theo tôi vẫn là một lời mời có ý nghĩa sâu xa và đáng tôn trọng trong thời điểm lịch sử này.
Nhớ cách đây 2 năm, trong lễ đón Xuân của Hội Nhà Văn VN, tôi có phát biểu, nên có một/nhiều cuộc gặp gỡ giữa các nhà văn trong nước và hải ngoại, đặc biệt là các nhà văn trước đây từng là "đối phương" của nhau, và tôi đã đọc hai câu thơ cười ra nước mắt của nhà thơ Anh Ngọc (một người lính Bắc Việt tham chiến Quảng Trị):
"Ta già, địch cũng già rồi
Dắt nhau đến trước ông Trời phân bua
Trời cười đã biết hay chưa
Thắng thua thì cũng đều thua ông Trời".
P/S Đọc đầy đủ bài thơ của Anh Ngọc:
https://nhathonguyentrongtao.wordpress.com/…/ta-gia-dich-c…/
- Đọc Thư Hữu Thỉnh và Thư Phan Nhật Nam ở đây:
https://hoingovanchuong.wordpress.com/…/nghi-ve-la-thu-cua…/
(Ảnh: Nhà thơ Hữu Thỉnh và Nhà văn Phan Nhật Nam)
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười, đang ngồi và kính mắt

TRUNG QUỐC HOÃN CHIẾU PHIM CA NGỢI BÀNH LỆ VIÊN ( VỢ TẬP CẬN BÌNH ) HÁT CA CUỘC CHIẾN XÂM LƯỢC BIÊN GIỚI VIỆT NAM

TQ hoãn chiếu phim 'về chiến tranh với VN'




Cảnh trong phim Phương HoaBản quyền hình ảnhXINHUA
Image captionCảnh trong phim Phương Hoa

Bộ phim 'Phương Hoa', có chi tiết về cuộc chiến biên giới Việt - Trung 1979, bị tạm hoãn vào phút chót, chưa cho chiếu tại Trung Quốc.
Phim 'Phương Hoa' (tên tiếng Anh: Youth) của đạo diễn Phùng Tiểu Cương, kể về một nhóm văn công quân đội, đi từ Cách mạng Văn hóa 1966 đến thập niên 1990.
Phim cũng đề cập cuộc chiến ngắn ngày năm 1979 giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Thông tin chính thức nói rằng cục điện ảnh Trung Quốc và các cơ quan liên quan kiến nghị thay đổi lịch chiếu.
Bộ phim ban đầu dự kiến ra mắt ngày 29/9.
Báo South China Morning Post dẫn một nguồn tin cho rằng giới chức không muốn phim ra mắt trước khi Đại hội Đảng khai mạc.



PhimBản quyền hình ảnhCHINA NEWS AGENCY
Image captionPhim Phương Hoa đã ra mắt lần đầu ở Liên hoan phim quốc tế Toronto đầu tháng Chín

Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc, diễn ra năm năm một lần, sẽ khai mạc hôm 18/10.
Phim Phương Hoa đã ra mắt lần đầu ở Liên hoan phim quốc tế Toronto đầu tháng Chín.
Bộ phim kể về số phận một nhóm văn công quân đội vào cuối thời kỳ Cách mạng Văn hóa, tham gia cuộc chiến biên giới chống Việt Nam và bộ phim kéo dài đến thập niên 1990.
Phùng Tiểu Cương là một trong những đạo diễn nổi tiếng nhất Trung Quốc.
Đường Sơn đại địa chấn, do ông làm năm 2010 về trận động đất năm 1976, khi đó lập kỷ lục phim ăn khách nhất Trung Quốc với doanh thu 101 triệu đôla.

Ảnh vợ chồng Tập Cận Bình - Bành Lệ Viên hát mừng "chiến thắng" của TQ trong chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979

BLA: Ngày hôm nay 5-11-2015, Đảng và Nhà nước đã đón tiếp vô cùng trọng thị vợ chồng lãnh đạo TQ Tập Cận Bình - Bành Lệ Viên. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có tấm ảnh đi vào lịch sử với họ Tập. 21 loạt đại bác đã nổ. Xét về mặt chính trị, xã giao - điều ấy là hiểu được.

Bành Lệ Viên (vợ Tập Cận Bình) hát mừng "chiến thắng" của TQ trong cuộc Chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 (ảnh Internet)

Nhưng chính vì Tập Cận Bình (đang là Tổng bí thư đảng cộng sản, Chủ tịch nước TQ) là người đã thúc đẩy, tăng tốc công cuộc xâm lược của TQ trên Biển Đông một cách ghê gớm và hiểm độc nhất từ trước đến nay. Chính họ Tập là người đã xé toạc 16 chữ vàng 4 tốt. Chính họ Tập cũng vừa tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa là của TQ từ thời cổ đại ... - nên ngày hôm nay trên mạng xã hội người dân đã bùng bùng biểu thị sự giận dữ, khinh bỉ đối với con người giả dối và nham hiểm này.

Cả ở Hà Nội và Sài Gòn đều đã diễn ra những cuộc biểu tình (tuy nhỏ), phản đối Tập Cận Bình - trong bối cảnh an ninh được xiết chặt. Việc biểu tình rất khó khăn.

Đặc biệt, trên mạng facebook đã xuất hiện và lan tỏa rất nhanh hai tấm ảnh ghi cảnh vợ chồng Tập Cận Bình - Bành Lệ Viên đang hát mừng "chiến thắng" (tất nhiên là của TQ) tại núi Lão Sơn, trước mặt vong linh của hàng ngàn chiến sỹ bộ đội Việt Nam đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Trung Quốc ở biên giới phía Bắc năm 1979.

Cảm thấy tiếc cho 21 loạt đại bác đã dùng một cách uổng phí.


Bành Lệ Viên đang hát mừng "chiến thắng"


Tập Cận Bình có mặt

Nguồn ảnh: facebook nhà thơ Đỗ Trung Quân

Sở TNMT: Hải sản chết tại Vĩnh Tân là do mưa lớn

RFA

Vùng biễn nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân.
Vùng biễn nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân.
 RFA photo
Hải sản chết tại khu vực biển gần Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân là do mưa lớn dẫn đến nước biển giảm độ mặn, độ đục tăng nên ảnh hưởng đến đời sống thủy sinh.
Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Thuận giải thích như vừa nêu trong báo cáo về nguyên nhân cá, sò, mực chết tại khu vực này trong mấy ngày gần đây.
Ngày 15/9, sau khi người dân phản ánh về tình trạng hải sản chết, các cơ quan chức năng tỉnh Bình Thuận đã tiến hành kiểm tra và phân tích mẫu nước. Kết quả cho thấy các thông số môi trường đều nằm trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên nồng độ chất rắn lơ lửng trong nước tương đối cao, độ PH thấp, là nguyên nhân khiến thủy sản chết.
Giải thích về phản ánh nước biển đục của người dân, Sở Tài nguyên- Môi trường Bình Thuận nói rằng do trong tháng 9 vùng biển bị ảnh hưởng từ cơn bão số 10 gây mưa lớn làm giảm độ mặn và cuốn theo bùn cát từ đất liền.
Sở này cho biết sẽ phối hợp với sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan chức năng để tiếp tục theo dõi môi trường nước biển quanh khu vực Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân.