Thứ Ba, 20 tháng 12, 2016

Tan hoang bên dòng sông Côn; Bình Định sập 27 cầu vì lũ, đường nào mà đi!

20/12/2016 08:54 GMT+7

TTO - Nhiều thôn xã dọc bên bờ sông Côn ở rốn lũ Tuy Phước vẫn đang bị ngập, cô lập bởi mênh mông là nước. Những bờ đê bị nước ăn hở hàm ếch, nhiều căn nhà tan hoang... 
​Tan hoang bên dòng sông Côn
Căn nhà bà Nguyễn Thị Nở (xã Phước Hoà, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định) đã bị lũ cuốn trôi. Nơi từng là căn nhà giờ là biển nước - Ảnh: MAI VINH
Thống kê của UBND huyện Tuy Phước, qua năm trận lũ dồn dập, gần 400 căn nhà ở các xã Phước Thuận, Phước Thắng, Phước Hoà… đã bị sập hoàn toàn. Có những căn bị nước giật sụp trong tích tắc, chỉ thoát được người không cứu được bất kỳ tài sản nào.
Xã Phước Hoà nằm ở đoạn cuối của sông Côn, chỉ riêng trong đợt lũ thứ 5 đã có hơn 150 căn nhà sập hoàn toàn. Đến thời điểm này, nước đang rút rất chậm. Hàng chục thôn vẫn còn đang bị cô lập, người dân sống chủ yếu bằng lương thực cứu trợ.  
Nước đang rút, nhưng hai bên bờ sông Côn là cảnh tượng tan hoang. Nhiều người phải tá túc nhà chùa, nhà thờ khi nhà cửa đã bị sập hoàn toàn.
​Tan hoang bên dòng sông Côn
Anh Phạm Hoàng Diệu (xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước) vẫn chất bao cát ở lối vào nhà vì sợ nước sông Côn bất thần dâng cao, trở tay không kịp - Ảnh: MAI VINH
​Tan hoang bên dòng sông Côn
Bờ đê sông Côn có hàng chục điểm sạt lở thành “hàm ếch” - Ảnh: MAI VINH
​Tan hoang bên dòng sông Côn
Bà Phạm Thị Khen (xã Phước Hoà, huyện Tuy Phước) có nhà ngay bên bờ sông Côn và căn nhà của bà bị thổi bay trong vòng 5 phút, bà thoát chết nhờ chạy kịp ra khỏi nhà - Ảnh: MAI VINH
​Tan hoang bên dòng sông Côn
Em Đặng Nguyễn Tin (Trường THCS Phước Hoà, huyện Tuy Phước) lục tìm sách vở từ căn nhà đã sập - Ảnh: MAI VINH
​Tan hoang bên dòng sông Côn
Ông Nguyễn Hữu Chói dời những đồ đạc còn dùng được sang nhà người quen sau khi nhà ông bị sập - Ảnh: MAI VINH
​Tan hoang bên dòng sông Côn
Người dân sống bên sông Côn sau 5 ngày ngâm trong lũ giờ vẫn còn tiếp tục di chuyển bằng ghe - Ảnh: MAI VINH
​Tan hoang bên dòng sông Côn
Thầu Võ Huy, hiệu trưởng Trường tiểu học số 2 Phước Hoà hong khô máy tính bị ngập - Ảnh: MAI VINH
​Tan hoang bên dòng sông Côn
Thầy cô Trường tiểu học số 2 Phước Hoà lau dọn bàn ghế đón học sinh đi học - Ảnh: MAI VINH
​Tan hoang bên dòng sông Côn
Trẻ em sống hai bên dòng sông Côn trog mùa lũ. Dự kiến nước sẽ rút hoàn toàn ở vùng rốn lũ Tuy Phước trong 3 ngày tới nếu trời không mưa - Ảnh: MAI VINH
MAI VINH


Bình Định sập 27 cầu vì lũ, đường nào mà đi!

20/12/2016 08:36 GMT+7
TTO - Hàng chục cây cầu trên các đường tỉnh, đường huyện và đường liên xã ở Bình Định đã bị lũ xoáy sập, cuốn đứt hoàn toàn khiến việc đi lại của dân vô cùng khó khăn. Nhiều vùng vẫn bị cô lập.

Bình Định sập 27 cầu vì lũ, đường nào mà đi!
Cầu Dịch Nghi bắc qua sông La Tinh trên đường tỉnh 634 (Bình Định) bị lũ cuốn sập một nhịp - Ảnh: Duy Thanh
12g ngày 19-12, ông Phan Thanh Minh ở xóm Sơn Hồ, thôn Sơn Hồ, xã Cát Sơn, huyện Phù Cát (Bình Định) hối vợ là bà Đinh Thị Thu Trang thay đồ cho con trai Phan Cảnh Dương (học sinh lớp 2 Trường tiểu học Cát Sơn), để ông cõng con băng núi đến trường cho kịp giờ học vì cầu Dịch Nghi bắc qua sông La Tinh đã bị lũ cuốn sập.
Cầu sập, cõng con 
băng rừng đến trường
Ngày 19-12, Dương trở lại trường sau cả tuần nghỉ học vì mưa lũ, cũng là ngày đầu tiên ông Minh phải cõng con vượt đường rừng núi lầy lội, trơn trượt để đưa con đến trường.
“Cháu học ngày hai buổi, nên tôi phải vượt núi bốn lần đưa đón. Trước còn cầu thì lấy xe máy chở cháu chạy chừng năm phút là tới trường, còn giờ phải lội rừng vượt núi, mỗi lượt đi mất gần cả tiếng” - ông Minh thở dài.
Ông Nguyễn Ngọc Mỹ, người dân ở đây, lo lắng: “Cầu sập rồi, dân không biết làm cách nào đưa cây trái ở đây bán cho thương lái. Lo hơn là đêm hôm có người già, trẻ con bệnh thì biết đưa đi viện bằng cách nào...”.
Cầu Dịch Nghi được xây dựng bằng bêtông cốt thép kiên cố trên đường tỉnh 634, dài khoảng 20m, bắc qua sông La Tinh, không chỉ nối các địa phương phía đông xã Cát Sơn với vùng đất canh tác màu mỡ ở xóm Sơn Hồ, mà còn là cầu nối trên con đường huyết mạch phục vụ việc đi lại cho cán bộ, nhân viên vận hành hồ chứa nước Hội Sơn.
Chiều 15-12, khi nước lũ thượng nguồn đổ về quá dữ, hồ Hội Sơn mở lớn hai cửa xả lũ. Dòng nước xoáy đã gây xói lở mố cầu phía đông làm rơi một nhịp cầu xuống sông, cắt đứt hoàn toàn giao thông giữa phía tây cầu với phía đông.
“Hết lũ rồi mà làng tôi còn bị cô lập. Trong khi chờ làm lại cầu kiên cố, mong chính quyền đầu tư làm cầu tạm cho dân đi và cho lũ nhỏ đến trường...” - ông Phan Thanh Minh nói.
27 cầu sập hoàn toàn
Ông Nguyễn Tài Trung, bí thư Đảng ủy xã Cát Sơn, cho biết ngoài cầu Dịch Nghi bị sập hoàn toàn, hai cầu khác ở xã là Sơn Minh và Đập Tuận cũng bị sập, chia cắt các khu dân cư đôi bờ.
Cuối buổi chiều 19-12, khi chúng tôi gọi điện hỏi tình hình, ông Nguyễn Huỳnh Huyện, phó chủ tịch UBND huyện Phù Cát, nói cả huyện có tám chiếc cầu bị sập như thế.
“500 hộ dân ở hai thôn Chính Thắng và Chính Hùng của xã Cát Thành đang bị cô lập vì cây cầu bêtông trên đường liên xã bị lũ cuốn sập. Cũng ở xã Cát Thành, một chiếc cầu bêtông khác bị gãy làm 660 hộ dân ở thôn Cát Trung bị cô lập luôn. Thương nhất là mấy cháu học sinh, giờ cầu gãy, sập như vậy không biết làm sao đến trường...” - ông Huyện thông tin thêm.
Tại cuộc họp trực tuyến của UBND tỉnh Bình Định chiều 
19-12 để chỉ đạo khắc phục hậu quả mưa lũ, thông tin từ Sở Giao thông vận tải tỉnh cho biết trong mấy trận lũ liên tiếp vừa qua có đến 27 cây cầu trên các tuyến đường của tỉnh bị sập hoàn toàn, 128,5km đường hư, 310 vị trí bị sạt lở, gây ách tắc cục bộ nhiều địa phương...
Ông Hồ Quốc Dũng, chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, nói với chúng tôi: “Nhìn cảnh cầu sập, đường đứt, hạ tầng thủy lợi bị lũ xé nát mà tôi rối ren, không biết xoay xở nguồn lực từ đâu, tái thiết cái nào trước.
Trước mắt, tỉnh chỉ đạo các ngành và địa phương khắc phục tạm để dân đi lại, còn làm kiên cố cầu, đường lại phải một thời gian rất dài nữa vì lũ đã kéo lùi hạ tầng của Bình Định về 10 năm trước rồi…”.
Bình Định thiệt hại 1.230 tỉ đồng. Tỉnh đã có công văn gửi Thủ tướng xin hỗ trợ khẩn cấp 500 tỉ đồng để khắc phục thiệt hại; xin miễn học phí học kỳ 2 cho HS từ tiểu học đến THPT, đề nghị Thủ tướng chỉ đạo Bộ Giáo dục - đào tạo hỗ trợ sách vở cho 50.000 học sinh; sắp xếp vốn ODA để phục hồi, tái thiết cơ sở hạ tầng; chỉ đạo các bộ, ngành hỗ trợ lúa giống, thuốc phòng dịch bệnh...
Thừa Thiên - Huế thiệt hại 356 tỉ đồng. Ông Nguyễn Văn Phương, phó chủ tịch UBND tỉnh, cho biết tỉnh đã đề nghị trung ương cấp 1.000 tấn gạo hỗ trợ đồng bào vùng ngập lụt và 300 tấn lúa giống để gieo cấy vụ đông xuân.
TH.LỘC

BÌNH LUẬN (4)

SỰ IM LẶNG CỦA BỌN NHÀ VĂN VIỆT NAM TA

Nhà văn Phạm Ngọc Tiến. Ảnh: FB PNT.


Thấy không ít nhà văn quan tâm đến chuyện anh Đàm khóc mẹ rồi chị Trinh cặp bồ già. Bảo thật nhé, thối lắm. Đất nước bao chuyện đại sự thì ngậm hột thị. Biển thì giặc ngoài thù trong. Sau Formosa giết chết biển 4 tỉnh miền Trung đến Cà Ná rút tên chủ đầu tư Tôn Hoa Sen nhưng vẫn nằm trong quy hoạch. Thậm chí còn rút ngắn tiến độ. Lụt miền Trung giời người cùng kết hợp khi mưa cộng với 15 thủy điện xả lũ hành hạ dân nghèo. Hà Nội tiền nuốt Triển lãm Giảng Võ để xây nhà nhà cao 50 tầng tính nhốt dân cả một khu vực Giảng Võ, La Thành vì tắc đường khi cộng thêm ông kễnh xe buýt nhanh vào hoạt động nuốt hẳn 1/3 đường dành riêng. Nhiều nhiều lắm. Nhà văn không đụng được đến nỗi thống khổ đồng loại thì thôi nhơn nhơn đi đào bới mấy chuyện thị phi kia thì vứt mẹ bút đi cho xong. Bốt lại cái bài SỰ IM LẶNG CỦA NHÀ VĂN để gây sự với các vị đây.

SỰ IM LẶNG CỦA NHÀ VĂN
 
Phạm Ngọc Tiến

Kính gửi các nhà văn yêu quý.

Không hiểu sao cứ những lúc cuộc sống có biến cố xảy ra, bao giờ tôi cũng nghĩ đến các nhà văn trước tiên. Chẳng hạn một đám cháy lớn. Một đám cháy, lẽ ra cần phải huy động cứu hỏa và họ chính là người tất cả cần nhất trong tình huống đó. Nhưng không, cứu hỏa đến với đám cháy là việc tất nhiên. Họ sẽ sử dụng chuyên môn của họ dập tắt đám cháy. Một việc quá đỗi bình thường. Còn các nhà văn thì tôi nghĩ nếu họ gặp đám cháy ấy họ sẽ làm gì? 

Vâng, nếu gặp một đám cháy thì các nhà văn sẽ làm gì? Câu hỏi ấy cứ xoay đi trở lại nhiều lần trong tôi. Sứ mạng của họ không phải để dập lửa. Luận theo lô zích thông thường, họ sẽ quan sát đám cháy, suy nghĩ rồi miêu tả nó. Những hậu quả. Bài học rút ra từ rất nhiều góc độ. Thậm chí là họ diễn giải tâm lý đám cháy trong nhiều chiều. Tất nhiên điều này có ích cho không chỉ nhà văn. Nhưng tôi biết sẽ có không ít nhà văn bình thản đứng nhìn đám cháy và lặng lẽ bước đi. Cái đám cháy ấy hoặc không đủ để tác động đến cảm xúc của họ hoặc nó chẳng liên quan gì. Tóm lại là họ bước qua đám cháy bằng sự im lặng. Một sự im lặng được gọi theo cách rất cũ kỹ ấy là vô cảm. Sự vô cảm cố hữu của đám đông trước những gì bất thường xảy ra của đời sống vốn đã không còn là sự lạ ở ngày hôm nay.

Lần ngược lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, các nhà văn của chúng ta luôn bám sát đời sống cùng những biến cố của đất nước. Đó là những cuộc chiến tranh giữ nước trường kỳ và khốc liệt. Những tác phẩm được viết ra bằng chính máu của nhà văn. Đó cũng là những sai lầm khó tránh ở mỗi thời kỳ và chính nhà văn lên tiếng. Không ít người đã phải trả giá bằng sinh mạng chính trị thậm chí bằng cả sự nghiệp của mình nhưng sự dấn thân của họ thật sự là những điều xã hội cần. Nó có ích. Tôi có may mắn quen biết một số nhà văn của những thời kỳ này. Họ thực sự là những nhân cách lớn. Thế hệ những nhà văn tham gia chiến tranh, họ là những người lính thực thụ và tác phẩm của họ xuất hiện trong tâm thế của người trong cuộc. Đọc tác phẩm viết về chiến tranh nếu của một ai đó không trong cuộc sẽ thấy sự hời hợt giả tạo. Ở chiều ngược lại, những trang viết khét lẹt khói súng, ta sẽ nhận được sự thuyết phục, chia sẻ và cảm nhận nhiều điều của chiến tranh mang tới để thấy được cái giá của hòa bình lớn lao mức nào và chiến tranh tàn khốc ra sao. Để rồi nhận chân giá trị sự sống và vì thế thêm yêu cuộc đời mà ta may mắn có mặt. 

Tôi nói những điều trên từ đúc kết của chính mình. Những trang văn của các thế hệ đàn anh đã giúp cho tôi những hiểu biết về đời sống về chiến cuộc về chân lý và lớn hơn là một tình yêu cuộc sống. Có lẽ tôi trở thành nhà văn phần nhiều cũng là nhờ ở điều này. Và tôi nhận thức được rằng, chẳng có sứ mạng to tát nào dành cho nhà văn cả. Giản đơn chỉ là anh hãy sống và viết từ chính thu nhận đời sống. Vậy thôi. Hãy là người trong cuộc.

Thưa các nhà văn kính mến.

Xã hội của chúng ta hiện nay đang ở trong một giai đoạn có quá nhiều biến động và khó khăn. Công cuộc đổi mới 30 năm đã có không ít thành tựu làm thay đổi diện mạo xã hội và đời sống người dân. Nhưng hơn bao giờ chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức lớn. Tình hình chính trị cũng như kinh tế của thế giới luôn trong tình trạng khủng hoảng có những tác động nhiều mặt đến đất nước chúng ta. Trong khu vực luôn căng thẳng vì những tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải tạo ra sự khó lường với những quốc gia có chung biển Đông. Hiểm họa ngoại xâm luôn hiển hiện thường trực đối với biển đảo của đất nước. Kinh tế trong nước gặp vô vàn khó khăn. Bộ máy quản lý bộc lộ những khiếm khuyết hệ thống. Phải thẳng thắn thừa nhận một bộ phận không nhỏ đội ngũ lãnh đạo yếu kém, tham nhũng gây sự trì trệ trên nhiều lĩnh vực. Môi trường sau những sai lầm từ những quyết sách của những cán bộ có thẩm quyền đã kéo theo bao hệ lụy, thậm chí là hủy diệt môi trường mà Formosa là điển hình. Niềm tin của nhân dân sút giảm. Mâu thuẫn giầu nghèo phân chia các giai tầng xã hội…Nhiều lắm, có thể nói đất nước chúng ta đang đứng trước những nguy cơ tiềm tàng thù trong, giặc ngoài. Văn học có những gì trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng này và nhà văn chúng ta đang đứng ở đâu?

Thừa nhận có rất nhiều tác phẩm đề cập đến những vấn đề của đất nước hôm nay. Không ít nhà văn miệt mài theo đuổi những giá trị của quá khứ thông qua những trang viết tái hiện các cuộc chiến. Nhiều nhà văn viết về những mảng nóng xã hội. Nhưng tại sao lại hiếm hoi những tác phẩm được công chúng đón nhận? Vì sao? 

Mới đây một phóng viên nữ hỏi tôi, tại sao trong những biến cố của đất nước hiếm thấy nhà văn các anh lên tiếng. Có phải nhà văn cần sự lắng đọng của thời gian để nghiền ngẫm mới phát biểu được bằng tác phẩm. Tôi chưa kịp trả lời thì nữ phóng viên cũng là một nhà thơ này kết luận. Ngụy biện thôi, khi anh không dám mở miệng trước lâm nguy dân tộc thì mặc nhiên anh đã đứng ngoài cuộc, đứng ngoài số phận nhân dân. Tháng trước khi đi qua Hà Tĩnh, tôi ghé vào Kỳ Phương là một phường của thị xã Kỳ Anh chịu trực tiếp hậu quả biển nhiễm độc từ thảm họa Formosa. Khi biết tôi là biên kịch của một vài phim chính luận có chút ít sự chú ý, người dân đã hỏi thẳng. Tại sao không làm phim về biển độc. Phải có những bộ phim nói về chúng tôi chứ, đời sống của chúng tôi nếu các anh không nói ra thì ai nói. Chúng tôi cần những phim như vậy. Trong cả hai trường hợp vừa nêu tôi đều im lặng. Một sự im lặng xấu hổ đến mức tủi nhục.

Hãy khoan bàn đến tác phẩm bởi rõ ràng câu hỏi nhà văn chúng ta đang đứng ở đâu lại là điều tiên quyết. Tôi làm việc trong những căn phòng máy lạnh. Di chuyển bằng những phương tiện đầy đủ tiện nghi, thu nhập khá và dứt khoát không nằm trong số đông nghèo khó. Các nhà văn khác cũng vậy. Nếu có ai đó bần hàn thì đó chỉ là cá biệt của sự lười biếng và bất tài. Nhà văn sống sung túc và được xã hội chiều chuộng. Danh xưng nhà văn giúp chúng ta dễ dàng có vị thế. Khi có chủ trương dự án bauxite Tây Nguyên, đứng trước những bất cập của dự án nhiều nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức…đã phân tích lên tiếng kêu gọi sự thận trọng của dự án. Lúc đó có bao nhiêu nhà văn lên tiếng. Thậm chí đến cả ký vào bản kiến nghị cho dừng dự án ngay chính tôi cũng không ký. Khi cá chết vì biển độc ở các tỉnh miền Trung có được mấy nhà văn đăng đàn hoặc viết bài về thảm họa này. Ngay trên mạng xã hội khi có những bài viết dũng cảm vạch tội Formosa thì cũng có rất ít nhà văn trong số những người sử dụng mạng dám bày tỏ sự đồng tình dù chỉ là một nút bấm like. Điều gì vậy? Biển đảo Tổ quốc bị xâm phạm, có bao nhiêu nhà văn bày tỏ chính kiến của mình?

Tôi gọi thẳng ra chúng ta im lặng bởi chúng ta sợ hãi. Nữ nhà báo nói rất trúng căn bệnh sợ hãi của nhà văn. Khi anh không dám mở miệng, anh im lặng vì sợ liên lụy, sợ mất đi bổng lộc thì đừng nói đến tác phẩm làm gì. Nhà văn đang đứng bên lề cuộc sống. Câu trả lời là vậy. Đã đứng bên lề cuộc sống thì sao phản ánh được những gì của cuộc sống diễn ra. Tất nhiên không phải tất cả nhà văn như thế. Vẫn có những nhà văn dũng cảm xông xáo bất chấp mọi hiểm nguy để bám sát hiện thực đời sống đưa vào tác phẩm. Đến đây chắc chắn sẽ có không ít nhà văn phản đối thậm chí dè bỉu lên án tôi. Vâng, tôi biết mình chỉ là một nhà văn bình thường là loại nhà văn số đông chứ không phải số ít nhà văn tài năng đặt được dấu ấn vào văn học. Nhưng chả nhẽ vì thế mà tôi không có quyền nói ra. Tôi nói những điều này nhưng thực chất cũng như tâm sự với chính mình. Sự sợ hãi đã khiến nhà văn chúng ta im lặng. Đúng là thế.


Trở lại với đám cháy. Sự im lặng của nhà văn nghĩa là cái đám cháy ấy sẽ không được nhà văn khả dĩ tìm ra được phương cách ngăn chặn để nó đừng xảy đến tương tự trong tương lai, điều mà công chúng cần ở văn học. Khi nhà văn im lặng trước an nguy đất nước thì cái trách nhiệm công dân nhà văn sẽ chẳng còn tác dụng nếu không muốn nói một cách cực đoan là nó đã bị chối bỏ bằng sự vô dụng. Sự vô cảm của nhà văn suy cho cùng cũng là hệ lụy chung của xã hội nhưng nó gây ra di chứng nhiều hơn. Dĩ nhiên đó cũng chính là nguyên nhân thiếu vắng những tác phẩm để đời như đã từng trong quá khứ. Tôi nghĩ đã đến lúc nhà văn cần lên tiếng mạnh mẽ để bước đi cùng nhịp với đời sống. Để những đám cháy đừng xảy ra. Hy vọng là thế./.

Đà Nẵng 12/8/2016
PNT

Không phải Trump mà là Clinton bị đại cử tri đảng Dân chủ "phản bội"

Phạm Huân | 

Không phải Trump mà là Clinton bị đại cử tri đảng Dân chủ "phản bội"

Ít nhất 5 đại cử tri đảng Dân chủ, những người đã cam kết bầu cho ứng cử viên Hillary Clinton, đã bỏ phiếu cho ứng cử viên khác.

Đây là số đại cử tri bất trung lớn nhất trong lịch sử bầu cử Mỹ trong vòng hơn 100 năm qua.
538 đại cử tri đang bỏ phiếu trên toàn nước Mỹ để chính thức bầu ra Tổng thống và Phó Tổng thống. Trái với nhiều dự báo sẽ có một số đại cử tri đảng Cộng hòa sẽ thay đổi quyết định vào phút chót, ít nhất 5 đại cử tri đảng Dân chủ (4 ở bang Washington và 1 ở bang Maine) đã phá vỡ cam kết và không bầu cho bà Clinton, thay vào đó họ bầu cho những ứng cử viên khác.
Đây được coi là số đại cử tri không ủng hộ ứng viên của đảng mình lớn nhất kể từ năm 1872 khi 63 đại cử tri đảng Dân chủ không bầu cho ứng cử viên Horace Greeley, người đã chết sau cuộc bỏ phiếu và trước khi cử tri đoàn nhóm họp.
Trong khi đó, tới thời điểm này, chưa có đại cử tri đảng Cộng hòa nào phá vỡ cam kết của mình, toàn bộ đều bầu cho ông Donald Trump.
Ứng cử viên của đảng Cộng hòa Donald Trump tới thời điểm này đã giành hơn 270 phiếu đại cử tri cần thiết để trở thành Tổng thống thứ 45 của Mỹ. Kết quả bỏ phiếu của cử tri đoàn sẽ chính thức được công bố ngày 6/1 tại Quốc hội dưới sự chủ trì của Phó tổng thống Joe Biden./.
theo VOV

“Lợi ích chung của hai nước Việt-Trung lớn hơn bất đồng”- Một “tổng quyết toán”gian của Trung Quốc? ( Phần 3)

                                                    Phạm Viết Đào.


                -Chùm bài viết nhân 70 năm Chính phủ VNDCCH ký Hiệp định sơ bộ với Chính phủ Pháp

( 6-3-1946-6-3-2016 ); Chùm bài nhằm thẩm định lại các giá trị quyết toán của “Tài khoản quan hệ chính trị”                     liên quan tới các giá trị đối ứng NỢ-CÓ của quan hệ Việt-Trung qua 2 cuộc chiến tranh...

Đăng kèm NGHỊ ĐỊNH THƯ 42 ngày 13 tháng 11 năm 2003

GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA VỀ VIỆC XÓA MỘT PHẦN NỢ CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.

  • Bài liên quan:

Phần 1:“Lợi ích chung của hai nước Việt-Trung lớn hơn bất đồng”- Một “tổng quyết toán”gian của Trung Quốc? 

Phần 2:“Lợi ích chung của hai nước Việt-Trung lớn hơn bất đồng”- Một “tổng quyết toán”gian của Trung Quốc?



Bài 3:Pháp đã bỏ ra bao nhiêu sức người, sức của để 

đầu tư xây dựng tuyến đường săt Hải Phòng-Côn Minh ?


Trong phần 1 và phần 2, blog Phạm Viết Đào đã tạm "khái toán" các khoản chi phí tạm ghi vào phần Dư NỢ cho phía Trung Quốc và phần Dư CÓ cho phía Việt Nam về tổng chi phí mà Trung Quốc đã xuất sang Việt Nam ( viện trợ) trong 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, với giá trị khái toán: 3,5 tỷ USD...
Số tiền mà Việt Nam vay này tạm khái toán Việt Nam mang NỢ Trung Quốc như bài viết đã đặt vấn đề: hoàn toàn chưa đụng đến củ khoai hạt gạo của nhân dân Trung Quốc...
Theo chủ blog thì khoản tiền này đối ứng với một khoản Dư NỢ mà Trung Quốc phải hạch toán đối ứng với một nguồn tài sản có giá trị có nguồn gốc từ Việt Nam: Đó là Hiệp định sơ bộ ký ngày 6/3/1946 giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại diện cho Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp và Hiệp ước Pháp-Hoa ký giữa Chính phủ Pháp với đại diện Chính quyền Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch, ký đầu năm 1946 trước khi Pháp ký với Chính phủ Hồ Chí Minh...
Cái lõi của 2 hiệp ước này là: Chính quyền Tưởng Giới Thạch đồng ý rút quân ra khỏi miền Bắc Việt Nam, nhường cho quân đội Pháp vào miền bắc danh nghĩa là để giải giáp quân đội phát-xít Nhật; Việc thỏa thuận này được sự đồng thuận của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thể hiện trong Hiệp định sơ bộ 6/3/1946...
Để đổi lại sự đồng thuận này: quân đội Tưởng Giới Thạch chịu rút ra khỏi miền bắc Việt Nam, phía Pháp đồng ý nhượng lại một số tô giới thuộc quyền sở hữu khai thác của Chính phủ Pháp trên đất Trung Hoa... 
Một trong những món hàng đổi chác này đó là quyền khai thác tuyến đường sắt Hà Khẩu-Vân Nam, tuyến đường sắt do phía Pháp đầu tư xây dựng từ 1901-1910 theo dạng giống như BOT ngày nay; Nước Pháp được quyền khai thác, thu lợi tuyến đường sắt này 100 năm tức tới năm 2010...
Với 2 hiệp ước ký đầu năm 1946, kể từ năm 1946, quyền khai thác tuyến đường sắt do người Pháp bỏ tiền xây dựng này về tay Quốc dân đảng và sau năm 1949 thì về tay Cộng hòa nhân dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông..
Như vậy, do cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam với quân đội phát xít Nhật và quân đội Pháp mà: chính quyền Tưởng Giới Thạch và chính phủ Bắc Kinh không giây máu mà được ăn phần...
Để hiểu được phần Dư NỢ mà phía Cộng hòa nhân dân Trung Hoa của ông Mao phải chịu hạch toán đối ứng với xương máu của nhân dân Việt Nam, chúng ta cùng nghiên cứu việc người Pháp đã bỏ ra bao nhiêu sức người, sức của để xây tuyến đường sắt này; các tài liệu, số liệu hiện đang được lưu về việc các công ty của Pháp xây dựng tuyến đường sắt này hiện đang giữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia 1...
Các số liệu được ghi bằng giá trị của đồng tiền thới kỳ đó cho thấy có mấy số liệu đáng chú ý;

"-Công việc khởi đầu năm 1901 và kéo dài đến năm 1910, băng qua những vùng núi cao vực sâu hết sức hiểm trở.

-Tuyến đường sắt Vân Nam bắt đầu xây dựng năm 1901 và hoàn thành năm 1910 với chi phí xây dựng là 87.700 đồng bạc/km cho đường sắt đoạn Hải Phòng- Lào Cai và 147.300 đồng/km cho đường sắt đoạn Lào Cai- Vân Nam Phủ. Tổng chi phí cho cả tuyến đường lên đến 102 triệu đồng bạc, tương đương với 243.500.000 phơ-răng tính theo tỷ giá của các năm xây dựng.
--Ít nhất có 12.000 trên tổng số 60.000 công nhân bản địa và khoảng 80 người châu Âu đã chết trong thời gian xây dựng tuyến đường sắt, trong đó nhiều người chết vì bệnh sốt rét. Để vượt chênh lệch độ cao 1.900m giữa Hải Phòng và Côn Minh, đoàn thi công phải bắc 173 cây cầu và đào 158 đoạn đường hầm xuyên núi..."
Việc quy đổi khoản chi phí trên ra giá trị tiền hiện nay là việc khó khăn nhưng không thể không tính được; 
Chủ blog chỉ đưa ra một khái toán: Hiện Trung Quốc đang đề nghị giúp Lào xây dựng tuyến đường sắt nối Vân Nam xuyên qua Lào tới Lao Bảo với dự toán 7,5 tỷ USD...Khi tuyến đường sắt xuyên Lào với giá trị 7,5tỷ USD thì nếu Trung Quốc bỏ tiền ra xây dựng tuyến đường sắt Côn Minh-Hà Khẩu không thể dưới 4 tỷ USD...
Cộng với số lợi tức mà TRung Quốc khai thác tuyến đường sắt này từ năm 1949 tới năm 2010, về pháp lý thuộc của Pháp, chắc chắn sẽ vượt xa khoản tiền 3,5 tỷ USD mà Trung Quốc đa bỏ ra chi phí cho 2 cuộc chiến tại Việt Nam...
Cơ sở để chủ blog đưa ra kết luận: số tiền 3,5 tỷ USD mà Trung Quốc chi phí để đánh Mỹ, đánh Pháp đến người Việt Nam cuối cùng ấy, chắc chắn chưa đụng đến một củ khoai, hạt gạo của nhân dân Trung Quốc...
Chỉ tính riêng khoản lợi tức khai thác tuyến đường sắt Hà Khẩu-Côn Minh, Trung Quốc hưởng lợi lớn, đang mang NỢ đối với nhân dân Việt Nam !

Xin đưa lại tư liệu về việc các Công ty Pháp đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Côn Minh-Hải Phòng dưới đây:

Lịch sử đường sắt Đông Dương qua tài liệu lưu trữ

Lộ trình và hoạt động

Tuyến đường sắt này dài 855 km, trong đó 390 km nằm trên lãnh thổ Việt Nam (từ Hải Phòng lên đến Lào Cai), và 465 km trên lãnh thổ Trung Quốc (từ Hà Khẩu lên đến Côn Minh). Thời gian xây dựng tuyến đường sắt này được xây dựng trong vòng 10 năm, từ 1901 đến 1910,
( WikiPedia )

Kỳ II: Tuyến đường Hải Phòng – Vân Nam

Tuyến đường sắt Hải Phòng – Vân Nam được người Pháp cho xây dựng nhằm thâm nhập và thúc đẩy trao đổi thương mại giữa các xứ bảo hộ với thị trường Trung Quốc.
 Tuyến Lào Cai- Vân Nam
Công ty nhượng quyền đã giao việc xây dựng tuyến đường Vân Nam với tổng kinh phí 96 triệu phơ-răng cho một nhà thầu (Công ty xây dựng đường sắt Đông Dương), tuy nhiên công ty này đã không lường được hết các khó khăn gặp phải khi thi công. Vùng được chọn xây dựng tuyến đường sắt là khu vực đông nam tỉnh Vân Nam với hai điểm nút cực là Vân Nam Phủ (Yunnanfou)- thủ phủ, trung tâm tiêu thụ, phân bố chính của vùng và Mông Tử (Mongtseu)- ga quan trọng của huyện mỏ Kokieou giúp xuất khẩu thiếc, hoạt động kinh tế chủ đạo của tỉnh Vân Nam. Tuyến đường Lào Cai- Mông Tử là tuyến đường trung chuyển độc đạo cho xuất nhập khẩu của Vân Nam. Vùng này tập trung bồn địa của ba con sông là sông Hồng, sông Quảng Châu và sông Dương Tử với nhiều loại địa hình phức tạp. Trụ sở “Ban chỉ đạo công trình” được dựng ở Mông Tử- trọng tâm của tuyến đường và là nơi tập trung thương mại quốc tế có sự hiện diện công sứ Pháp. Từ Hà Nội, các tàu bè di chuyển đến Man-Hao, tiếp tục 2 -3 chặng đi bằng ngựa hoặc kiệu từ Man-Hao đến Mông Tử, ở độ cao 2.120m nên phải mất gần 1 tháng mới tới nơi. Đội tàu của Công ty xây dựng đường sắt trên sông Hồng gồm 50 ghe, 2 tàu sà lúp chạy bằng hơi nước và một ca nô gắn động cơ. Những khó khăn trong vận chuyển phục vụ xây dựng tuyến đường chỉ được khắc phục khi tuyến đường Hà Nội- Lào Cai chính thức đi vào hoạt động ngày 01/02/1906. Việc tiếp tế cho các đơn vị rải rác suốt dọc tuyến đường cũng rất khó khăn, do 250 người Âu đảm trách trong các điều kiện địa hình khó khăn. Tháng 2 và 3/1903, các công trình trên toàn tuyến được đem ra đấu thầu với 12 nhà thầu, nhưng đến năm 1906, con số này đã lên đến 54 nhà thầu. Ba đoạn tuyến đầu hợp thành phần thứ nhất dài 144 km được gọi là “Nam-Ti” hay “Hạ Phần”, hai đoạn tuyến tiếp theo độc lập trực thuộc quản lý của Ban chỉ đạo công trình. Từ Km200, 4 đoạn tuyến cuối cùng hợp thành phần thứ hai “Thượng phần” vì chúng gần như nằm ở độ cao trên 1.200 m. Việc chấm công các cu-li và thợ xây sẽ do các nhân viên đặc biệt thực hiện.
Tuyến đường sắt Vân Nam bắt đầu xây dựng năm 1901 và hoàn thành năm 1910 với chi phí xây dựng là 87.700 đồng bạc/km cho đường sắt đoạn Hải Phòng- Lào Cai và 147.300 đồng/km cho đường sắt đoạn Lào Cai- Vân Nam Phủ. Tổng chi phí cho cả tuyến đường lên đến 102 triệu đồng bạc, tương đương với 243.500.000 phơ-răng tính theo tỷ giá của các năm xây dựng. Các khoản thu gộp trong năm 1915 đạt 2.770.000 đồng bạc, năm 1921 tăng lên 3.540.000 đồng bạc, năm 1924 đạt tới 4.228.000 đồng bạc đánh dấu mức tăng trung bình năm là 162.000 đồng bạc. Công ty Hoả xa Đông Dương Vân Nam phụ trách khai thác tuyến Hải Phòng - Lào Cai ở Bắc Kỳ dưới sự chỉ đạo của một giám đốc khai thác và các trưởng bộ phận chuyên môn. Các nhà xưởng được xây dựng ở Gia Lâm, gần Hà Nội đảm nhiệm việc lắp ráp, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị.
Trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1931 mà Đông Dương cũng chịu ảnh hưởng, để cạnh tranh với các hình thức vận tải khác, Công ty Hoả xa Đông Dương Vân Nam bắt buộc phải hạ giá cước vận chuyển cũng như tiến hành một số biện pháp nhằm cải thiện và hiện đại hoá phương thức khai thác: tăng điểm dừng trên suốt toàn tuyến, đưa vào vận hành các đầu máy có công suất lớn, cho ra đời dịch vụ lấy và giao hàng tại nhà ở các thành phố lớn. Đặc biệt, một số dịch vụ thư tín bằng xe hơi cũng được mở cho các vùng Hà Giang và Sa Pa, Đồ Sơn và Tam Đảo cũng như các trạm dừng mới được thiết lập giữa Yên Bái và Lào Cai phục vụ cho việc định dân ở vùng thượng du sông Hồng. Công ty cũng cho xây dựng ở Phố Mới một nhà nghỉ rất hiện đại và tiện nghi nhằm cải thiện điều kiện du lịch cho điểm nghỉ dưỡng Sa Pa.
Khai thác sử dụng sau năm 1945
Ngày 15/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh huỷ quyền nhượng quyền khai thác tuyến đường sắt Hải Phòng - VânNam ký giữa chính phủ Pháp cho Công ty Hoả xa Vân Nam theo Thoả thuận ngày 16/6/1901 (4). Quyền sở hữu và hưởng lợi từ tuyến đường sắt này cũng như các động sản và bất động sản phụ trợ chuyển thuộc chính phủ Cộng hoà Việt Nam. Kể từ ngày sắc lệnh trên được ký, chính phủ Cộng hoà Việt Nam tiếp quản tuyến đường sắt Hải Phòng - Vân Nam, giao cho Bộ Giao thông và Công chính quản lý tổ chức. Tuyến đường này được sáp nhập vào tuyến Hà Nội- Sài Gòn (Mạng lưới đường sắt không nhượng quyền) cũng thuộc sở hữu của chính phủ để thống nhất chế độ quản lý. Bộ Giao thông và Công chính có thể quyết định trưng dụng nhân sự của Công ty Hoả xa Vân Nam, thiết bị, tài sản thuộc sở hữu của Công ty trong trường hợp xét thấy cần thiết cho việc tái cơ cấu tổ chức các tuyến đường sắt. Tuyến đường sắt Vân Nam được mở lại vào năm 1993, theo thoả thuận song phương giữa chính phủ Việt Nam và Trung Quốc.
Hoàng Anh - Ngọc Nhàn, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I

Tài liệu tham khảo tra cứu:
(1)               Phông Công chính Bắc Kỳ TPT 1394
(2)               và (4) Phông Đường sắt Đông Dương- Vân Nam hộp số 65
(3)               Phông Đường sắt Vân Nam hộp số 306
(5) RST 6531
(6) Phông Kiến trúc Ga Hà Nội hộp 163
Created by doanthuha
 

Tin khác:


   Chủ tịch Hồ Chí Minh với công cuộc xây dựng và củng cố chính quyền Nhà nước 1945 - 1946 (15/05/2013)

BỘ NGOẠI GIAO
*******
Số: 42/LPQT


Hà Nội, ngày 13 tháng 11 năm 2003

Nghị định thư giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc xóa một phần nợ của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu lực từ ngày 16 tháng 10 năm 2003./.


TL. BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO
VỤ TRƯỞNG VỤ LUẬT PHÁP VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ




Trần Duy Thi

NGHỊ ĐỊNH THƯ
GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA VỀ VIỆC XÓA MỘT PHẦN NỢ CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (dưới đây gọi tắt là Phía Việt Nam) và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (dưới đây gọi tắt là Phía Trung Quốc);
Nhằm ủng hộ sự phát triển kinh tế dân tộc, giảm nhẹ gánh nặng nợ nần của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với Phía Trung Quốc;
Đã tiến hành thảo luận về việc xoá nợ cho Phía Việt Nam của Phía Trung Quốc;
Đã đi đến thoả thuận và ký Nghị định thư với những khoản như sau:
Điều 1. Phía Trung Quốc đồng ý miễn trừ nghĩa vụ hoàn trả hai khoản vay không lãi của Phía Việt Nam đối với Phía Trung Quốc đã đến hạn trả nợ tính đến tháng 12 năm 2001, hai khoản vay không lãi này cụ thể như sau:
1. Khoản vay không lãi 141.750.000 Rúp quy định trong Hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật giữa hai Bên Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 31 tháng 01 năm 1961, đã sử dụng 104.230.700 Rúp, theo tỷ giá hối đoái bình quân năm giữa Nhân dân tệ và Rúp trong lúc đến kỳ hạn hoàn trả lần thứ nhất quy ra 231.621.600 Nhân dân tệ, và theo tỷ giá hối đoái giữa Nhân dân tệ và Đô la Mỹ lúc bấy giờ quy ra 94.086.300 Đô la Mỹ.
2. Khoản vay không lãi 85.000.000 Rúp quy định trong Hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật giữa hai Bên Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 05 tháng 12 năm 1965, đã sử dụng hết, theo tỷ giá hối đoái giữa Nhân dân tệ và Rúp năm 1971 quy ra 188.887.000 Nhân dân tệ, và theo tỷ giá hối đoái giữa Nhân dân tệ và Đô la Mỹ lúc bấy giờ quy ra 84.133.000 Đô la Mỹ.
Điều 2. Các khoản vay nói trên đã sử dụng với tổng số tiền là 189.230.700 Rúp, Phía Việt Nam chưa hoàn trả, Phía Trung Quốc đồng ý xoá toàn bộ.
Điều 3. Việc xử lý tài vụ đối với việc xoá số nợ nói trên sẽ do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Trung Quốc làm thủ tục chuyển sổ cụ thể.
Điều 4. Nghị định thư này là bộ phận cấu thành của các Hiệp định được nêu trong Điều 1 nói trên, và có hiệu lực kể từ ngày ký.
Nghị định thư này được ký tại Bắc Kinh ngày 16 tháng 10 năm 2003, thành hai bản, mỗi bản bằng Tiếng Việt và tiếng Trung. Mỗi Phía giữ một bản, cả hai văn bản đều có giá trị ngang nhau.


THAY MẶT CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
THỨ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH




Lê Thị Băng Tâm
THAY MẶT CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA
THỨ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI




Lưu Hiếu Kỳ