- UBND tỉnh Bắc Ninh vừa kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Công an vào cuộc điều tra các cá nhân đe dọa cán bộ tỉnh.
Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh, UBND tỉnh đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Công an vào cuộc điều tra nguyên nhân sự việc, điều tra các cá nhân đe dọa cán bộ chuyên môn, lãnh đạo sở, ngành và Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh sau khi tỉnh này quyết định dừng dự án nạo vét luồng kết hợp tận thu cát sỏi trên sông Cầu.
Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Bắc Ninh
Trước đó, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Cục Đường thủy nội địa Việt Nam (Bộ GTVT) đã chấp thuận cho các đơn vị thực hiện nạo vét luồng kết hợp tận thu cát sỏi trên sông Cầu.
Theo UBND tỉnh Bắc Ninh, quá trình triển khai dự án đã xảy ra việc lợi dụng để khai thác cát trái phép. Bên cạnh đó, ngày 1/3/2016 tại vị trí K74+400 – K74+500 đê hữu sông Cầu đã xảy ra sạt lở đứng với chiều dài 50m, ăn sâu vào bãi 5 – 10m. Tỉnh đã phải bố trí 30 tỷ đồng để xử lý sự cố.
Có thời điểm, trên địa bàn dự án nạo vét luồng có 40 tàu hoạt động gây mất an ninh tại các xã Việt Thống, Quế Tân, Phù Lương (huyện Quế Võ).
UBND tỉnh đã khẳng định toàn tuyến sông Cầu không có đoạn cạn theo quy định, không có phương tiện thủy nội địa mắc cạn nếu đi đúng trọng tải và đúng luồng. UBND tỉnh đã nhiều lần kiến nghị tạm dừng triển khai dự án nạo vét đường thủy kết hợp tận thu sản phẩm trên địa bàn tỉnh.
“Sau khi tỉnh dừng triển khai thực hiện dự án nạo vét, duy tu luồng đường thủy nội địa kết hợp tận thu sản phẩm trên sông Cầu, nhân dân đồng tình ủng hộ cao, an ninh nông thôn được đảm bảo”, lãnh đạo Bắc Ninh cho hay.
Tuy nhiên, vừa qua UBND tỉnh tiếp tục nhận được văn bản của Bộ GTVT do Thứ trưởng Nguyễn Nhật ký và của Cục Đường thủy nội địa đề nghị tiếp tục tạo điều kiện thực hiện dự án.
Điều này theo UBND tỉnh Bắc Ninh là không đúng tinh thần buổi làm việc giữa Bộ trưởng GTVT với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Ninh ngày 23/2 vừa qua.
Theo đó, UBND tỉnh Bắc Ninh đề nghị Thủ tướng chỉ đạo Bộ trưởng GTVT Trương Quang Nghĩa thực hiện việc sơ kết đánh giá việc triển khai thực hiện dự án theo Thông báo kết luận số 357/TB-VPCP ngày 6/11/2015 của Thủ tướng về việc không cho tiếp tục triển khai thực hiện dự án nạo vét đường thủy nội địa kết hợp tận thu sản phẩm đoạn Km1+Km30 trên sông Cầu.
"Tỉnh Bắc Ninh đề nghị không cho tiếp tục triển khai thực hiện dự án nạo vét luồng đường thủy nội địa quốc gia kết hợp tận thu sản phẩm các đoạn từ Km1+000-Km30+000 trên sông Cầu", lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh kiến nghị.
Đặc biệt, lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo Bộ Công an vào cuộc điều tra nguyên nhân sự việc, điều tra các cá nhân đứng sau bảo kê, đe dọa cán bộ chuyên môn, lãnh đạo sở, ngành và Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh làm sự việc ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP cho biết Thủ tướng và Chính phủ thời gian qua phải họp nhiều do bộ trưởng, chủ tịch tỉnh né việc, "đẩy" việc lên.
Trần Thường - Hồng Nhì
Ông Nguyễn Tử Quỳnh. Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh.
Công an điều tra việc "bảo kê" đe dọa Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh
Hoàng Đan |
Theo lãnh đạo UBND tỉnh Bắc Ninh, hiện công an đang tiến hành điều tra việc các cá nhân "bảo kê" dự án trên sông Cầu đe dọa cán bộ, lãnh đạo và Chủ tịch UBND tỉnh.
Chiều 15/3, ông Nguyễn Tử Quỳnh, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh cho biết, công văn báo cáo của tỉnh về việc có các cá nhân từ trung ương đến địa phương đứng sau bảo kê dự án trên sông Cầu, đe dọa cán bộ, lãnh đạo tỉnh mới được gửi lên Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Vì thế, hiện chưa có thông tin phản hồi từ các cơ quan chức năng.
Cũng theo ông Quỳnh, hiện nay, phía công an cũng đang vào cuộc để điều tra làm rõ việc "bảo kê" đe dọa lãnh đạo tỉnh.
"Hiện công an đang làm rõ việc này", ông Quỳnh nói.
Theo UBND tỉnh Bắc Ninh, việc báo cáo là để Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải biết có sự việc các cá nhân từ trung ương đến địa phương đứng sau "bảo kê" dự án nạo vét duy tu luồng đường thủy nội địa quốc gia kết hợp với tận thu sản phẩm trên sông Cầu, đe dọa cán bộ, lãnh đạo tỉnh.
Sau khi gửi văn bản kiến nghị sự việc, UBND tỉnh Bắc Ninh sẽ chờ Thủ tướng chỉ đạo giải quyết.
TTO - Kiên quyết kiến nghị dừng dự án nạo vét luồng đường thủy nội địa, lãnh đạo UBND tỉnh Bắc Ninh cùng nhiều cán bộ chuyên môn các sở ngành bị đe dọa.
Đứng sau bảo kê, đe dọa?
Trao đổi với Tuổi Trẻ ngày 15-3, ông Nguyễn Tử Quỳnh, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, cho biết liên quan đến việc thực hiện dự án nạo vét trên tuyến đường thủy nội địa quốc gia sông Cầu, tỉnh vừa gửi kiến nghị đến Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Công an vào cuộc điều tra các cá nhân từ Trung ương đến địa phương đứng sau bảo kê, đe dọa cán bộ chuyên môn, lãnh đạo sở, ngành và chủ tịch UBND tỉnh.
Ông Quỳnh cho biết văn bản kiến nghị đồng thời cũng được gửi đến Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Hiện tại, tỉnh Bắc Ninh vẫn chưa nhận được phản hồi từ các cơ quan trung ương.
Theo UBND tỉnh Bắc Ninh, năm 2014, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có 3 dự án nạo vét, duy tu luồng đường thủy nội địa kết hợp tận thu sản phẩm do Cục Đường thủy nội địa làm chủ đầu tư.
Riêng dự án nạo vét duy tu luồng đường thủy nội địa quốc gia kết hợp với tận thu sản phẩm trên sông Cầu được Cục Đường thủy nội địa phê duyệt do Công ty cổ phần Trục vớt luồng hạ lưu thực hiện. Tuy nhiên, quá trình triển khai đã xảy ra việc lợi dụng thực hiện dự án để khai thác cát trái phép, gây bức xúc trong nhân dân.
Bên cạnh đó, “cát tặc” lộng hành và ảnh hưởng của việc khai thác dự án đã làm đê hữu Cầu, bờ bãi sông bị sạt lở đứng thành với chiều dài 50m, ăn sâu vào bãi từ 5 đến 10 mét.
Cũng theo UBND tỉnh Bắc Ninh, địa phương này đang phải bố trí 30 tỉ đồng từ nguồn kinh phí của tỉnh để xử lý sự cố trên. Do vậy, từ năm 2015, UBND tỉnh Bắc Ninh đã không cấp phép cho đơn vị nào thực hiện dự án như trên.
Tuy nhiên, từ tháng 11-2016 đến nay, trên địa bàn sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Giang đã xuất hiện lại việc thực hiện dự án nạo vét, duy tu luồng đường thủy nội địa kết hợp tận thu sản phẩm gây bức xúc cho nhân dân trong tỉnh, gây mất an ninh tại nhiều xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Mỗi ngày có khoảng 40 tàu hút cát vận hành cả ngày lẫn đêm.
Theo ông Quỳnh, trước thực trạng trên làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự địa phương, tỉnh đã kiến nghị dừng dự án.
Tuy nhiên mới đây, tỉnh Bắc Ninh lại nhận được văn bản của Bộ GTVT và Cục Đường thủy nội địa về việc thực hiện dự án nên UBND tỉnh Bắc Ninh tiếp tục “kêu cứu” Thủ tướng cho dừng dự án này.
Đáng chú ý, UBND tỉnh Bắc Ninh kiến nghị Thủ tướng “chỉ đạo Bộ Công an vào cuộc điều tra nguyên nhân sự việc, điều tra các cá nhân từ trung ương đến địa phương đứng sau bảo kê, đe dọa cán bộ chuyên môn, lãnh đạo Sở, ngành và chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh làm sự việc ngày càng trở nên nghiêm trọng”.
Công an đang điều tra
Xác nhận với Tuổi Trẻ, ông Quỳnh cho biết liên quan đến dự án này bản thân ông cũng từng bị đe doạ.
Tuy nhiên khi hỏi về nội dung việc bị đe doạ, và đơn vị, cá nhân nào bảo kê, ông Quỳnh nói: “Tỉnh Bắc Ninh báo cáo để Thủ tướng chính phủ nắm được vụ việc. Việc lãnh đạo tỉnh bị đe doạ hiện cơ quan Công an đang vào cuộc điều tra nên chưa thể cung cấp thông tin chi tiết được”.
Quan điểm của địa phương, ông Quỳnh cho biết tỉnh Bắc Ninh đề nghị không tiếp tục triển khai thực hiện dự án nạo vét luồng đường thủy nội địa quốc gia kết hợp tận thu sản phẩm các đoạn từ Km1+000-Km30+000 trên sông Cầu.
Trước thông tin từ Cục Đường thủy nội địa về việc dự án này đã được dừng từ cuối năm 2016, ông Quỳnh cho biết đây là hướng được thống nhất trong buổi làm việc giữa Bộ GTVT với Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Ninh.
“Tuy nhiên, mới đây, ngày 2-3 tỉnh nhận được văn bản số 1689 do thứ trưởng Bộ GTVT ký và văn bản số 266 của Cục Đường thủy nội địa về việc thực hiện dự án. Vì vậy mà tỉnh mới phải kiến nghị lên Thủ tướng”, ông Quỳnh nói.
UBND tỉnh Bắc Ninh đề nghị điều tra, làm rõ việc bảo kê, đe dọa cán bộ và lãnh đạo tỉnh liên quan đến việc tỉnh cấm khai thác, nạo vét thông luồng tận thu cát trên sông Cầu - Ảnh: Thái Hùng - Đức Anh
TTO - “Tôi đã phát biểu trước Quốc hội rằng dưới lòng sông là tài nguyên và nơi đó cũng là một thế giới ngầm có cả xã hội đen, có bảo kê, có tội ác".
Công an tỉnh Bắc Ninh kiểm tra một sà lan khai thác cát trên sông Cầu - Ảnh: Hùng Thái
Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội Ngọ Duy Hiểu, một trong những người phát biểu gay gắt trước Quốc hội về nạn cát tặc, nói như vậy và cho biết ông rất chia sẻ với Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Tử Quỳnh.
"Thế giới ngầm có cả xã hội đen, có bảo kê, có tội ác"
Trao đổi với phóng viên Tuổi Trẻ tối 15-3, ông Hiểu nói: “Tôi từng làm lãnh đạo một huyện của Hà Nội (bí thư Huyện ủy Phúc Thọ - PV), chứng kiến bức xúc của người dân địa phương trước nạn khai thác cát trái phép, nên tôi hiểu tâm trạng của anh Quỳnh khi phải gửi văn bản lên cấp cao hơn".
"Tôi nghĩ rằng anh Quỳnh đã nói lên tâm trạng không chỉ của riêng anh ấy mà là tâm trạng của lãnh đạo không ít địa phương khác đang phải chịu sự hoành hành của cát tặc. Một người đứng đầu UBND cấp tỉnh mà phải viết đơn kiến nghị như vậy thì chứng tỏ sự việc rất nghiêm trọng” - ông Hiểu phân tích.
“Tôi đã phát biểu trước Quốc hội rằng dưới lòng sông là tài nguyên và nơi đó cũng là một thế giới ngầm có cả xã hội đen, có bảo kê, có tội ác.
Nạn khai thác cát trái phép, khai thác cát tràn lan gây ra quá nhiều hậu quả, từ mất an toàn giao thông đường thủy, thay đổi dòng chảy, xói lở bờ bãi, đe dọa cuộc sống và sản xuất của người dân hai bên bờ, làm mất an ninh trật tự ở địa phương.
Văn bản của tỉnh Bắc Ninh như một tiếng “kêu cứu” hối thúc các cơ quan chức năng của Chính phủ làm rõ sự việc cụ thể này, nhưng đồng thời phải khẩn trương thực hiện những chỉ đạo mà Phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình vừa kết luận cách đây ít hôm khi chủ trì cuộc họp có nội dung chống cát tặc” - ông Hiểu nói.
Công văn của UBND tỉnh Bắc Ninh “cầu cứu” Thủ tướng - Ảnh: HỮU THẮNG (Cổng TTĐT Bắc Ninh)
Cục Đường thủy nội địa: dự án dừng từ... tháng 12-2016
Theo Cục Đường thủy nội địa, dự án xã hội hóa nạo vét trên tuyến đường thủy nội địa quốc gia sông Cầu các đoạn cạn km1 đến km30+000 được khởi công ngày 4-5-2015.
Ngày 13-10-2016, tiến hành kiểm tra, đo đạc xác định hiện trạng, khối lượng còn lại của dự án. Qua kiểm tra, cao độ đáy luồng tại một số vị trí thuộc dự án chưa đạt chuẩn tắc theo quy định, hiện trạng đường bờ sau mùa mưa lũ không thay đổi so với trước khi thi công.
Vì vậy, đến ngày 26-10-2016 Cục Đường thủy nội địa chấp thuận cho nhà đầu tư tiếp tục triển khai dự án theo đề nghị của UBND tỉnh Bắc Giang. Cục yêu cầu nhà đầu tư chỉ được thi công trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh khi đã được UBND tỉnh này chấp thuận.
Ngày 1-12-2016, UBND tỉnh Bắc Ninh có đề nghị dừng việc thi công dự án. Cục Đường thủy nội địa yêu cầu nhà đầu tư tạm dừng từ ngày 5-12-2016 để khảo sát lại toàn tuyến sông Cầu, đánh giá sự cần thiết để tiếp tục dự án.
Ngày 9-1-2017 Cục Đường thủy nội địa cùng các đơn vị liên quan đã phối hợp với văn phòng UBND tỉnh Bắc Ninh, các sở, Công an tỉnh Bắc Ninh, UBND huyện Quế Võ và đại diện các chủ phương tiện vận tải thủy trên địa bàn Bắc Ninh có phương tiện mắc cạn tiến hành kiểm tra, đo đạc xác định lại khối lượng thực tế các đoạn cạn thuộc dự án.
Qua kiểm tra xác suất bằng máy siêu âm, có 3 trong số 4 đoạn cạn thuộc dự án trên địa bàn xã Phù Lãng, huyện Quế Võ chưa đạt chuẩn tắc theo thiết kế. Khối lượng nạo vét để đạt chuẩn cần khoảng 6.180m3.
Do đó, Cục Đường thủy nội địa kiến nghị Bộ GTVT có ý kiến với UBND tỉnh Bắc Ninh tạo điều kiện cho nhà đầu tư được tiếp tục triển khai thi công các đoạn cạn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 22-2-2017, Bộ GTVT đã có văn bản gửi UBND tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang đề nghị tạo điều kiện hỗ trợ, hướng dẫn nhà đầu tư để tiếp tục thi công nạo vét tại những vị trí chưa đảm bảo chuẩn tắc luồng đã được Cục Đường thủy nội địa phê duyệt.
Tuy nhiên theo ông Hoàng Hồng Giang, cục trưởng Cục Đường thủy nội địa, đến đầu tháng 3-2017, nhà đầu tư dự án đã có đề nghị cho dừng thực hiện dự án. Đến ngày 8-3, Cục Đường thủy nội địa thống nhất với nhà đầu tư dừng dự án.
“Ngày 15-3, tôi đã chỉ đạo chấm dứt hợp đồng dự án theo mong muốn của nhà đầu tư. Dự án đã tạm dừng từ đầu tháng 12-2016, nhà đầu tư không thi công. Nếu vẫn còn có hiện tượng khai thác cát trong phạm vi dự án thì có thể là cát tặc”.
Có bảo kê dự án?
Theo UBND tỉnh Bắc Ninh, sông Cầu chảy qua địa phận tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh với tổng chiều dài 83km. Năm 2014, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có 3 dự án nạo vét, duy tu luồng đường thủy nội địa kết hợp tận thu sản phẩm do Cục Đường thủy nội địa làm chủ đầu tư.
Riêng dự án nạo vét duy tu luồng đường thủy nội địa quốc gia kết hợp với tận thu sản phẩm trên sông Cầu được Cục Đường thủy nội địa phê duyệt do Công ty CP trục vớt luồng Hạ Lưu thực hiện.
Tuy nhiên, quá trình triển khai các dự án đã xảy ra việc lợi dụng việc thực hiện dự án để khai thác cát trái phép, gây bức xúc trong nhân dân.
Bên cạnh đó cát tặc lộng hành và ảnh hưởng của việc khai thác dự án đã làm đê hữu sông Cầu, bờ bãi sông bị sạt lở đứng thành với chiều dài 50m, ăn sâu vào bãi từ 5 - 10m.
Cũng theo UBND tỉnh Bắc Ninh, địa phương này đang phải bố trí 30 tỉ đồng từ nguồn kinh phí của tỉnh để xử lý sự cố trên. Do vậy, từ năm 2015, UBND tỉnh Bắc Ninh đã không cấp phép cho đơn vị nào thực hiện dự án như trên.
Tuy nhiên, từ tháng 11-2016 đến nay, trên địa bàn sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Giang đã xuất hiện lại việc thực hiện dự án nạo vét, duy tu luồng đường thủy nội địa kết hợp tận thu sản phẩm gây bức xúc cho nhân dân trong tỉnh, gây mất an ninh tại nhiều xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Một cảnh khu phố Tàu ở Hạ Long. Nguồn: báo Khám Phá
1. Hiện diện trên đất nước Việt Nam hôm nay dĩ nhiên không chỉ có người Trung Quốc. Tuy vậy, phải nói rằng chuyện người Trung Quốc có mặt ở Việt Nam để làm ăn, du lịch hay làm gì khác chưa bao giờ là vấn đề thôi mang tính thời sự, hiểu theo nghĩa nào đó. Đây là đề tài – một sự thật nhiều người biết, nhiều người thấy nhưng để nói ra thì chưa bao giờ là điều dễ dàng, thoải mái.
Còn nhớ cách đây không lâu, chuyện những thương lái Trung Quốc lặn lội vào tận các vùng thôn xóm hẻo lánh ở Việt Nam để thu mua những mặt hàng “độc và lạ”, không ai có thể ngờ tới như: móng trâu, bò, ong bầu, lá điều, cau non, cam non, đuôi chuột, đỉa, ốc bưu vàng…sau đó “lặn” một hơi mất tăm để lại một nỗi buồn vô hạn cho những người dân nghèo nhẹ dạ cả tin. Câu chuyện này sau nhiều lần lặp đi lặp lại ở nhiều địa phương mới nhận được sự quan tâm của dư luận cùng với đó là những quan điểm nhìn nhận, lý giải khác nhau. Trong cái nhìn của người làm kinh tế và nhất là đã lặn lội sang tận Trung Quốc tìm hiểu, tác giả Tony trong sách “Cà phê cùng Tony” cho biết, đây đơn giản chỉ là chiêu trò cấu kết, dùng miệng lưỡi cùng thủ đoạn “mua bán lòng vòng” để tìm cách nâng giá của bọn gian thương nhằm lừa gạt những người dân quê nghèo khó và ít học. Bởi lẽ, trên thực tế không có một món hàng nào chúng thu gom của đồng bào ta được chuyển về xứ họ. Bọn gian thương ấy không chỉ lừa gạt những người dân nghèo ở Việt Nam mà ngay cả những người dân nghèo ở Trung Quốc cũng là nạn nhân của chúng.
Cũng có người lý giải sự việc này góc nhìn khác, thậm chí có cả một “thuyết âm mưu” cho rằng, những chiêu trò ấy về lâu dài nhằm phá hoại nền kinh tế nước Việt. Nhìn chung, dù ở góc độ nào thì những cách lý giải đều gặp nhau ở một điểm: nhắc nhớ mỗi người dân Việt hôm nay chớ quên bài học xương máu về sự lờ là, nhẹ dạ cả tin của nàng An Thị Mỵ Châu cách nay mấy ngàn năm. Khi ấy, chỉ vì tình cảm riêng tư với chàng Trọng Thủy mà nàng Mỵ Châu đã vô tình gây nên họa mất nước.
2. Công bằng và khách quan mà nói, không phải chuyện gì liên quan đến người Trung Quốc hôm nay cũng đều tệ hại, xấu xa để chúng ta lên tiếng dè bĩu, nghi kỵ, bài trừ, lên án…(và nếu tự soi lại mình thì không ít người Việt hôm nay chưa chắc đã tốt đẹp hơn họ). Tuy vậy, trong bối cảnh với vô vàn sự phức tạp và nhạy cảm của đất nước hôm nay, một sự thận trọng và tỉnh táo trong suy nghĩ và hành động để mỗi người Việt không tự biến mình thành những “nàng An Thị” thời hiện đại là vấn đề rất nên được nghiêm túc nhìn nhận. Nhưng, thiển nghĩ để làm được điều ấy, rất cần một sự trao đổi chân thành và thẳng thắn về một vài vấn đề có liên quan. Nói khác đi, nếu nhìn xa hơn, thì đây chính là câu chuyện lớn liên quan đến rất nhiều ban ngành, đoàn thể chính quyền các các cấp trong vấn đề quản lý người nước ngoài nhất là người Trung Quốc sang Việt Nam làm ăn, sinh sống và định cư từ nhiều năm qua.
Nói điều trên để thấy rằng, khi những người dân nghèo bị gian thương Trung Quốc lừa gạt đến nỗi “tiền mất tật mang” có người nói cũng tại dân mình tham lam quá nhưng nếu bình tâm nghĩ lại sẽ thấy dù sao những người dân nghèo ấy vẫn đáng thương hơn là đáng trách. Vì thực ra, người nghèo và ít học thì ở đâu cũng giống nhau ở một vài nét cơ bản nào đó. Thử hỏi trong hoàn cảnh mà cái bao tử lúc nào cũng sôi ùng ục lên vì đói thì làm sao họ có đủ thời gian để suy nghĩ sâu xa hay phân tích cặn kẽ những chiêu trò của bọn gian thương để từ chối những món hời trước mắt?
Không những vậy, theo lẽ thường, những thương lái Trung Quốc trước khi được tự do đi lại thoải mái đến tận các bản làng, thôn xóm nước Việt để thu mua những thứ “trời ơi đất hỡi” như thế nhất định phải hoàn thành các thủ tục tại các cửa khẩu hải quan. Cho dù có kẻ đã vào nước ta bằng đường “tiểu ngạch” đi nữa thì vẫn có cả một hệ thống chính quyền cùng rất nhiều các hội đoàn lớn nhỏ (như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Đoàn thanh niên, Tổ dân phố, Tổ tự quản…) từ trung ương đến địa phương kia mà. Và như thế, câu hỏi trước hể phải đặt ra ở đây là tại sao giữa thanh thiên bạch nhật tại một thành phố lớn mà cả một dãy phố 1.500 mét vuông với hàng loạt ngôi nhà kiến trúc kiểu Trung Quốc được dựng lên trái phép trong nhiều tháng; hay tinh thần trách nhiệm và cảnh giác kiểu gì để một nhóm người khác núp bóng đi du lịch đến thuê cả một doanh nghiệp, thuê luôn ruộng lúa sắp thu hoạch của nông dân để trồng giống “Sen lạ” hay thả nuôi hàng trăm con Tôm hùm đỏ trong một thời gian dài mới bị phát hiện?
Những người dân nghèo vì ít học và nhất là vì miếng cơm manh áo nên vô tình tự biến mình thành những “nàng An Thị” hiện đại đã đành nhưng những người “có học” và nhất là đang giữ trọng trách trong bộ máy công quyền từ trên xuối dưới thì sao? Đây là những câu hỏi nhất định phải cần được trả lời trung thực và thỏa đáng từ những người có trách nhiệm trong vấn đề quản lý. Đặc biệt là với không ít trường hợp những người Trung Quốc đến Việt Nam với một tâm thế và hành tung rất đáng ngờ mà dư luận báo chí ít nhiều đã phản ánh trong thời gian qua.
3. Nàng An Thị Mỵ Châu năm xưa chỉ vì nghe theo “tiếng gọi của tình yêu”, “tiếng nói của con tim” nên đã bị chàng Trọng Thủy lừa đánh tráo Nỏ Thần đưa đến họa mất nước. Tuy vậy, ở phương diện nào đó, rất nên biết rằng những chuyện thuộc về “tiếng nói của con tim” trong nhiều trường hợp rất khó để đưa ra một kết luận đúng “đúng”, “sai” huống hồ đây vốn là âm mưu mà kẻ thù của cha nàng đã rắp tâm sắp đặt từ trước. Nhưng dù thế nào thì nàng An Thị Mỵ Châu cũng đã trả một cái giá rất đắt cho sự nhẹ dạ của nàng. Một cái chết không toàn thây bởi chính lưỡi gươm oan nghiệt của vua cha. Nhưng lẽ nào, suốt mấy ngàn năm qua, mỗi khi nhắc nhớ về bài học mất nước này chúng ta chỉ biết đổ hết lên đầu nàng trong khi đó người chịu trách nhiệm chính trong chuyện này là Thục Phán An Dương Vương cùng những cận thần của ông lại ít khi “đụng” đến? Hình như có gì đó sai sai trong việc diễn giải và tuyên truyền về câu chuyện này từ trước đến nay? Mối tình của nàng Mỵ Châu xưa kia phải chăng chính là tấm bình phong nhằm che đậy và lấp liếm cho nhưng sai lầm trong “ngoại giao” của Thục Phán An Dương Vương –rộng hơn là những người nắm trong tay vận mệnh quốc gia từ trước đến nay nhưng chưa bao giờ họ có đủ dũng khí để thừa nhận những sai lầm ấy. Cũng giống như giờ đây, những người dân ít học nghèo khó, quanh năm “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, không bao giờ có cơ hội bàn chuyện quốc gia đại sự, nhưng lạ thay, lại được nhắc đến nhiều nhất về tinh thần cảnh giác. Ngoài ra, trong cái nhìn của không ít người, cái danh sách về những “thế lực thù địch” của dân tộc Việt Nam hôm nay lại dễ dàng bỏ qua dòng dõi, cháu con của những Triệu Đà, Triệu Trọng Thủy hiện nay? Phải chăng vì thế mới có chuyện các dự án lớn nhỏ – những “miếng ngon” nhất trên đất nước này bao giờ họ cũng được ưu ái giành phần trước nhất? Theo đà ấy, khắp các hang cùng ngỏ hẻm của dãy đất chữ S hôm nay chẳng có nơi nào mà họ không đặt chân lên trong tư thế của những kẻ “mạnh vì gạo, bạo vì tiền” cùng với đó là thái dộ ngạo mạn, nghênh ngang và bất chấp?
4. Nói cho cùng, đã là con người không ai trong đời không một lần vướng vào cái “cạm bẫy ái tình” như nàng An Thị Mỵ Châu năm xưa. Nhưng dù thế nào thì những người vướng vào cái bẫy tình ái như vậy vẫn đáng được cảm thông hơn những kẻ không vượt qua được cái cạm bẫy về tiền bạc, địa vị và danh vọng!? Phải chăng, bài học về sự cảnh giác trước kẻ thù của nàng An Thị ngàn năm trước rất nên được nhìn nhận lại đặc biệt là phải làm sao phù hợp tinh thần và bối cảnh của thời đại hôm nay: những “nàng An Thị” thời hiện đại vì tiền tài, danh vọng và quyền lực của phe nhóm và bản thân mình đã đan tâm bán rẻ dân tộc, quốc gia một cách tinh vi, hèn hạ nhất?
CT, 15/3/2017
Nguyễn Trọng Bình
—————
Nguồn tham khảo:
– Tony Buổi Sáng – “Chuyện nàng An Thị” (in trong sách“Cà phê cùng Tony”). Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2014.
Gần chục năm trước ở World Bank có một vị VIP phụ trách IT duyệt nhiều dự án mua sắm. “Chẳng hiểu sao”, ông đã mua số cổ phiếu giá trị gần 20 ngàn đô của một trong những công ty mà sau đó thắng thầu bán thiết bị IT.
Khi bị phát hiện, ông đã bị truất hết mọi quyền lợi và cấm đến các văn phòng World Bank trên toàn thế giới vì đã vi phạm luật “xung đột lợi ích – conflict of interest”.
Hiệu Minh Blog ít khi quan tâm đến tin tức về tài sản và xe hơi của các quan chức, vì cho rằng, mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, trong đó có quyền được giầu có. Quan có giầu thì dân mới giầu. Quan trọng là giầu bằng cách nào thôi.
Mấy tháng trước rộ lên tin tòa nhà bắp ngô (tòa nhà hành chính) giá 2000 tỷ của Đà Nẵng bị nóng quá, thành phố xem xét bán lại cho tư nhân và xây cái bắp ngô khác.
Rồi tiếp là xây đường hầm qua sông Hàn khoảng gần 5000 tỷ cho dù Đà Nẵng có tới 4 cây cầu đủ sức cho dân đi lại. Tôi qua đó nhiều lần nhưng chưa thấy lần nào tắc…cầu.
Cuối năm 2016, tin mừng là ông Huỳnh Đức Thơ, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, khẳng định những công trình gây ô nhiễm sẽ được di dời ra khỏi khu dân cư. Người ta nhắc đến nhà máy Dana – Ý khá nhiều.
“Hiện các cơ quan chức năng đang làm việc và sẽ sớm có câu trả lời. Quan điểm của lãnh đạo TP Đà Nẵng là cương quyết từ chối các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Đà Nẵng không đánh đổi sự phát triển kinh tế để lấy những dự án như vậy”, ông Thơ cho hay.
Giờ là chuyện liên quan đến ông Thơ bị báo giới soi có tài sản khủng. Chưa biết thông tin chính xác tới đâu và bên Tp Đà Nẵng cũng phản hồi, nhưng có một chi tiết làm người đọc bán tín bán nghi.
Ngoài chuyện đồn thổi của báo giới, từ thời làm PCT Đà Nẵng, ông Thơ kê khai sở hữu căn nhà diện tích xây dựng 300m2, cùng 4 mảnh đất có diện tích từ 150m2 đến 1.021m2 ở trung tâm Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam.
Ngoài ra, ông Thơ còn góp vốn 3ha đất trồng rừng và sở hữu 1,5ha đất nuôi tôm. Ông Thơ cũng kê khai tài sản góp vốn ở 4 cơ sở sản xuất kinh doanh với giá trị kê khai 2,5 tỷ đồng (không ghi rõ là cơ sở sản xuất kinh doanh nào).
Và thú vị đối với người viết bài này là ông Thơ mua cổ phiếu Công ty Dana – Ý với số tiền 500 triệu đồng từ năm 2007.
Công ty Dana – Ý chính là công ty gây ra ô nhiễm môi trường, dân kêu phải đóng cửa và ông Thơ là người phát biểu “không đánh đổi…”
Nếu ông Thơ mua cổ phiếu của công ty Dana – Ý lúc đương chức và nếu ông tham gia duyệt dự án cho nhà máy thì đây gọi là conflict of interest – xung đột lợi ích, y chang ông VIP IT của World Bank mua cổ phiếu của công ty bán thiết bị cho tổ chức này.
Không hiểu lúc đóng nhà máy thì ông Thơ còn cổ phiếu nào trong nhà máy hay đã sang tên đổi chủ. Chi tiết này mới nói lên sự thực đâu là “đánh đổi” từ miệng các quan lớn.
Biết trước có dự án, mua cổ phiếu từ khi vài nghìn, khi nhà máy đi vào hoạt động, thì giá đã lên trời. Chuyện kiếm tiền bằng thông tin có từ ngàn đời.
Tiếp theo, bí thư thành ủy trẻ măng đi xe xịn do doanh nghiệp tặng cùng với số đẹp đã râm ran và cuối cùng hình như đã trả…quà.
Lắp ghép vài tin trên làm cho dân vỉa hè tha hồ đoán già đoán non về tài sản khủng bỗng nhiên mà có.
Quyền được giầu là quyền của mọi công dân kể cả VIP. Nhưng quyền được nghi ngờ về tài sản khủng của VIP là quyền của dân.
Đừng để dân rì rầm về những dự án nhỏ to, phết phẩy mà ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo, cho dù xây đường hầm, chuyển nhà hành chính, có thể rất cần.
Đã làm quan ăn lương và hưởng lợi từ tiền thuế của dân, các vị phải minh bạch về lý lịch và tài sản trước khi nhậm chức và sau khi về vườn.
Nếu không làm được việc đó thì đừng làm quan cho đỡ ỷ eo.
Biên dịch: Ngô Việt Nguyên | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Rex Tillerson, tân Ngoại trưởng Mỹ kiêm cựu Tổng giám đốc ExxonMobil, có thể không gây sóng toàn cầu bằng của sếp ông, Tổng thống Donald Trump. Nhưng trong phiên điều trần phê chuẩn vị trí của ông ở Thượng viện vào ngày 11/01/2017, ông đã gây chấn động cộng đồng theo dõi Trung Quốc khi hứa rằng: “Chúng ta sẽ phải gửi đến Trung Quốc một tín hiệu rõ ràng rằng, trước tiên, việc bồi đắp đảo phải ngừng lại, và thứ hai, họ không được tiếp cận các hòn đảo này”.
Những phát ngôn này ngay lập tức tạo nên một sự đồng thuận toàn cầu bao gồm những nhân vật diều hâu ở Trung Quốc đến những người ủng hộ giải pháp hòa bình ở phương Tây. Một bài xã luận trên tờ Thời Báo Hoàn Cầu, một tờ báo quan trọng của những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc, cảnh báo rằng: “Trừ khi Washington lên kế hoạch cho một cuộc chiến quy mô lớn ở Biển Đông, thì bất kỳ cách tiếp cận nào khác nhằm cản trở Trung Quốc tiếp cận các hòn đảo này sẽ là điều ngu xuẩn.”
Cựu thủ tướng Úc Paul Keating cũng phản ứng một cách giận dữ, nói rằng: “Khi Ngoại trưởng được chỉ định của Mỹ đe dọa sẽ lôi Úc vào một cuộc chiến với Trung Quốc, người dân Úc cần phải chú ý. Đó là cách duy nhất để diễn giải phát biểu của Rex Tillerson rằng một ‘tín hiệu’ phải được gửi đến Trung Quốc là ‘việc tiếp cận những hòn đảo đó sẽ không được cho phép’ và rằng các đồng minh của Mỹ nên có mặt ‘để hỗ trợ’ Hoa Kỳ.” Từ Bắc Kinh đến Sydney, một sự nhất trí đã được xác định – rằng quan điểm của Tillerson không có cơ sở về luật quốc tế, là tương đương với một hành động chiến tranh, và không có lý trên phương diện chiến lược. Nói ngắn gọn hơn, những người phản đối lập luận rằng, góc nhìn mà tân Ngoại trưởng Mỹ đề xuất không có cơ sở luật pháp, nguy hiểm về mặt chính trị, và vô ích trên thực tế.
Sự đồng thuận này dựa trên niềm tin rằng Trung Quốc sẵn sàng và có thể tiến hành chiến tranh chống lại những khiêu khích nghiêm trọng. Nhưng điều này đã diễn giải sai đề nghị của Tillerson và không hiểu được thực tế phức tạp ở Biển Đông. Một cuộc phong tỏa bằng hải quân không phải là cách duy nhất đề đạt được những mục tiêu của Tillerson, và Trung Quốc có quyền lợi lớn trong việc tránh chiến tranh với Mỹ ở khu vực.
Để thấy được điều này, chúng ta phải sử dụng góc nhìn “năng lực tổng hợp” mà không phải hoàn toàn tập trung vào Mỹ. Từ góc nhìn này, đề xuất của Tillerson sẽ không tập trung vào một cuộc phong tỏa quân sự như các nhà bình luận nghĩ. Ngược lại, Mỹ và các đối tác có khả năng sử dụng một loạt những hành động bao gồm đàm phán ngoại giao và trừng phạt kinh tế cùng những ràng buộc hành động có khả năng trực tiếp hoặc gián tiếp ngăn cản việc xây dựng thêm và quân sự hóa các hòn đảo nhân tạo đó.
Một trong những hành động như vậy là những trừng phạt có chọn lọc mục tiêu nhắm đến những cá nhân và công ty đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi, hay là tham gia những hoạt động phi pháp của Bắc Kinh ở Biển Đông. Dự luật được đề xuất bởi Thượng nghị sĩ Marco Rubio vào tháng 12 năm 2016 là điển hình của hướng đi này. Nó sẽ bao gồm việc đóng băng tài sản và cấm đi lại đối với những cá nhân và tổ chức đã “tham gia các dự án xây dựng và phát triển” trong những khu vực tranh chấp và những ai đã “đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định” ở Biển Đông và Biển Hoa Đông. Nó cũng sẽ cấm những hành động hàm ý rằng Mỹ công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với các khu vực tranh chấp trong những vùng biển này và làm hạn chế hỗ trợ của cộng đồng quốc tế cho những quốc gia công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực. Những biện pháp trừng phạt chính này có thể được bổ sung bởi những lệnh trừng phạt phụ chống lại những ai làm ăn với những đối tượng vi phạm. Dự luật của Rubio có thể được hoặc sẽ không được thông qua, nhưng trừng phạt có mục tiêu vẫn là một công cụ quan trọng nhằm thay đổi gián tiếp hành vi của Trung Quốc.
Một biện pháp trực tiếp hơn là việc Mỹ và đồng minh mượn cách Trung Quốc sử dụng chiến thuật “cải bắp” nhằm ngăn Trung Quốc tiếp cận những hòn đảo ở Biển Đông. Chiến thuật cải bắp là cách bao bọc những hòn đảo tranh chấp trong nhiều lớp bảo vệ quân sự và bán quân sự của Trung Quốc. Như cải bắp của Trung Quốc, cải bắp chống Trung Quốc cũng sẽ có ba lớp, vây quanh những hòn đảo mục tiêu bằng tàu dân sự ở lớp phía trong, các tàu hành pháp ở lớp ngoài, và tất cả đều được bảo vệ từ xa bởi tàu chiến ở lớp ngoài cùng.
Liên quân chống Trung Quốc không thể sánh được bằng Trung Quốc trong việc sử dụng dân quân biển trong những chiến dịch như vậy, nhưng họ có thể mời các tình nguyện viên dân sự tham gia vào hàng phòng ngự đầu tiên. Liên minh không cần bắn hạ máy bay hay là đặt ngư lôi phong tỏa cảng của Trung Quốc, mà họ có thể sử dụng phương tiện không người lái, gồm những phương tiện trên không và dưới mặt nước, được gửi đi từ những tàu dân sự và tàu của lực lượng bảo vệ bờ biển để ngăn chặn việc tiếp cận các đường băng và cảng biển trên các đảo nhân tạo.
Trái ngược với những gì mọi người thường nghĩ, những hành động này có thể hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế. Nếu Trung Quốc không công nhận quyền tự do hàng hải của đất nước nào, thì đất nước đó có quyền đáp lại bằng cách hạn chế quyền tự do đi lại của Trung Quốc. Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực vào tháng 7 năm ngoái, vốn đã trở thành một phần quan trọng của luật quốc tế mặc cho sự phản đối của Trung Quốc, đưa ra phán quyết rằng “đường chín đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, việc chiếm đóng Đá Vành Khăn, từ chối không cho Philippines tiếp cận bãi cạn Scarborough, xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa, và việc quấy nhiễu tàu thuyền trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines đều là bất hợp pháp.
Nhưng tòa án không có công cụ để thực thi phán quyết, và vì thế phán quyết này dựa vào việc các thành viên của cộng đồng quốc tế hành động đại diện quyền lợi chung và nhằm thúc đẩy Trung Quốc tuân theo những nghĩa vụ của họ. May mắn là luật quốc tế cho phép các nước chống lại những hành động sai trái. Như James Kraska, giáo sư luật quốc tế tại Đại học Hải chiến Hoa Kỳ, đã lập luận, việc thách thức quyền của Trung Quốc trong việc tiếp cận các đảo nhân tạo phù hợp với luật quốc tế. Dù gì thì cũng công bằng khi gây cho Trung Quốc những điều mà Trung Quốc đã gây ra cho những nước khác.
Nhiều người lo lắng rằng mặc cho sự hợp pháp của biện pháp này, việc ngăn cản Trung Quốc tiếp cận những hòn đảo bị chiếm đóng sẽ đồng nghĩa với một hành vi gây chiến và gây nên rủi ro xung đột vũ trang. Nhưng nỗi lo này bị thổi phồng quá mức. Khi Trung Quốc ngăn cản việc tiếp cận bãi cạn Scarborough và Bãi Cỏ Mây, không ai gọi nó là một hành vi chiến tranh và xung đột vũ trang không nổ ra. Bằng việc mượn cách Trung Quốc làm, chiến thuật “cải bắp” nhằm ngăn quyền tiếp cận sẽ vô hiệu hóa lý do gây chiến của Trung Quốc và làm cho Bắc Kinh e ngại trong việc tham chiến.
Mặc dù vậy, vẫn có những lo lắng rằng sức ép của dư luận mang nặng màu sắc chủ nghĩa dân tộc và trong một nỗ lực nhằm bảo toàn hình ảnh quốc gia và tính chính danh của chính quyền, lãnh đạo Trung Quốc có thể leo thang mức độ xung đột và tham chiến chống Mỹ. Nhưng như bà Jessica Weiss, một chuyên gia hàng đầu về chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc, phân tích trong bài nghiên cứu về những cuộc biểu tình mang màu sắc chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc, dư luận dân tộc chủ nghĩa chủ yếu đóng vai trò là một công cụ trong tay nhà nước nhằm thể hiện ý chí, hơn là một động lực thúc đẩy chính sách đối ngoại hiếu chiến của Bắc Kinh. Một phân tích gần đây hơn của Alastair Iain Johnson, giáo sư chính sách đối ngoại Trung Quốc tại Đại học Harvard, cũng đi đến một kết luận tương tự, cho thấy một sự suy giảm tinh thần dân tộc chủ nghĩa trong dân thường Trung Quốc kể từ năm 2009.
Là bên yếu hơn và phụ thuộc nhiều hơn vào giao thông trên Biển Đông, Trung Quốc thực ra có nhiều quyền lợi hơn nhiều trong việc tránh xung đột ở trong khu vực hơn so với Mỹ. Thực sự, việc tránh xung đột quy mô lớn là một trong những điều quan trọng nhất trong chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông. Trung Quốc đã trở nên hung hăng hơn trong những năm gần đây bởi vì thiếu sự răn đe của Mỹ ở những vùng xám phân cách chiến tranh và hòa bình. Việc Bắc Kinh chuyên sử dụng những hoạt động nằm trong vùng xám cũng là minh chứng cho sự hữu dụng của những biện pháp răn đe hạt nhân và răn đe thông thường. Cách thức để tránh chiến tranh với Trung Quốc và buộc Trung Quốc phải tuân theo luật quốc tế nằm ở cách tiếp cận song song hai hướng, bao gồm việc kết hợp khéo léo sức mạnh của những cây gậy với sức mạnh của các củ cà rốt, đồng thời vô hiệu hóa những điểm yếu của chúng.
Khi nghĩ đến các xung đột liên quan đến những hòn đảo này, chúng ta không thể chỉ tưởng tượng rằng Trung Quốc và Mỹ là những phe duy nhất có liên quan, một loạt những hành động và nhân tố khác cũng hiện diện, bao gồm trừng phạt, đàm phán, các nước trong khu vực, và xã hội dân sự quốc tế. Tình huống tốt nhất, tuy rằng tính khả thi của nó không cao trong tình hình ngoại giao hiện tại, là việc kết hợp tất cả những hành động nêu trên, vì nó sẽ có khả năng cao trong việc thuyết phục Trung Quốc tuân theo luật quốc tế, đặc biệt nếu nó được thực hiện thông qua một nỗ lực có phối hợp giữa Mỹ, các nước lớn khác như Nhật và Ấn Độ, và những nước trong khu vực như Philippines và Việt Nam.
Bình luận về những phát ngôn của Tillerson, Ngoại trưởng Philippines Perfecto Yasay nói rằng: “Nếu Mỹ muốn làm như vậy, họ có lực lượng để làm như thế, vậy để họ làm đi.” Một cách tiếp cận “cải bắp” nhầm ngăn sự tiếp cận của Trung Quốc đến bãi cạn Scarborough hay bãi Vành Khăn sẽ hợp pháp và hiệu quả hơn nếu nó bao gồm cả lực lượng tuần duyên Philippines và những tình nguyện viên là dân thường đến từ Philippines và những nước khác. Những quốc gia Đông Nam Á thường phòng bị nước đôi giữa Trung Quốc và Mỹ và thường nghiêng về phe nào mạnh hơn và có quan tâm đến họ hơn. Nếu chính phủ Trump tăng sự hiện diện của Mỹ ở Biển Đông, cam kết bảo vệ Philippines ở mức độ tương tự như với Nhật và Hàn Quốc, và dừng việc chỉ trích chính sách đối nội của Manila, Mỹ có thể xoay chuyển được vị tổng thống có đầu óc thực dụng Rodrigo Duterte quay sang ủng hộ Mỹ.
Những trừng phạt có lựa chọn mục tiêu chống lại những công dân và công ty Trung Quốc có liên quan đến những dự án ở Biển Đông sẽ có hiệu quả hơn nếu chúng được hỗ trợ không chỉ bởi Mỹ mà còn bởi những nền kinh tế khác và các quốc gia khác. Với thành phần quốc doanh lớn, Trung Quốc sẽ chịu ảnh hưởng nhiều bởi những biện pháp trừng phạt có mục tiêu. Những dự án xây dựng và phát triển ở Biển Đông đã được nhiều công ty quốc doanh tham gia, và những công ty này cũng mong muốn được làm ăn ở nước ngoài. Nếu những lệnh trừng phạt được thiết kế một cách khôn ngoan, nó sẽ gây ảnh hưởng mạnh đến những công ty như là CNOOC, công ty đã đưa một giàn khoan khổng lồ vào khoan trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào năm 2014; hãng hàng không China Southern Airlines và Hainan Airlines, những hãng có đường bay đến các hòn đảo nhân tạo; China Mobile, China Telecom, và China United Telecom, những công ty vận hành hệ thống viễn thông trên những hòn đảo tranh chấp, và Công ty Xây dựng Giao thông Trung Quốc, công ty đã nạo vét cát để xây các hòn đảo nhân tạo ở Trường Sa, qua đó tạo nên một động lực lớn từ bên trong Trung Quốc nhằm khuyến khích họ từ bỏ những yêu sách bất hợp pháp ở Biển Đông.
Ra tín hiệu sẵn sàng ngăn cản việc xây dựng đảo và hạn chế việc Trung Quốc tiếp cận những hòn đảo giả này là phản ứng hợp lý nhất nếu Mỹ thực sự muốn khôi phục khả năng răn đe ở Biển Đông. Một phần của thất bại trong việc hạn chế sự bành trướng của Trung Quốc xuất phát từ sự nhầm tưởng về một cuộc chiến sắp xảy đến chống lại Trung Quốc, điều làm cho việc sử dụng những biện pháp răn đe hữu lý trở nên bất khả thi. Điều này tạo nên một sự tự hạn chế không những không cần thiết mà còn là sai lầm nghiêm trọng về mặt chiến lược.
Alexander L. Vuving là giáo sư tại Trung tâm Daniel K. Inouye châu Á – Thái Bình Dương về Nghiên cứu An ninh. Quan điểm trong bài thể hiện ý kiến riêng của tác giả và không phản ánh quan điểm của chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ Hoa Kỳ.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2017/03/16/cach-co-gianh-quyen-kiem-soat-o-bien-dong/#sthash.deWj0YGu.dpuf
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Sáng 15/3, tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì hội nghị quy mô lớn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức nhằm tìm giải pháp phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các bộ, ngành và các địa phương liên quan; đại diện các Hiệp hội, cơ sở nghiên cứu và nhất là các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân trong vùng.
Đối mặt nhiều thách thức
Không chỉ có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng, an ninh, Đồng bằng sông Cửu Long là một trong số ít khu vực trên thế giới có lợi thế đặc biệt về sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với đất đai bằng phẳng, màu mỡ và diện tích lớn (gần 2 triệu ha đất lúa và 4 triệu ha gieo trồng), nguồn nước dồi dào do từ dòng sông Cửu Long.
Cây lúa - sinh kế chính của người dân Đồng bằng sông Cửu Long, cung cấp đến 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước, có thời điểm, xuất khẩu gạo mang về 3,67 tỷ USD cho nền kinh tế quốc dân.
Đây chính là tiềm năng, là động lực phát triển sản xuất lúa gạo nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung của cả vùng, là điều kiện quan trọng để đưa gạo Việt Nam xuất khẩu trên 150 nước, thị trường chính là Trung Quốc (38%), Philippines (9%), Malaysia (9%)...
Tuy nhiên, thực tiễn trong những năm qua cho thấy ngành hàng lúa gạo đã và đang đối mặt với những thách thức to lớn, đe dọa tới sự phát triển bền vững, sự sống còn của một ngành hàng gắn bó với hàng chục triệu người dân.
Theo các báo cáo tại hội nghị, ước tính 2 tháng đầu năm 2017, các doanh nghiệp xuất khẩu 787.235 tấn gạo, trị giá hơn 328 triệu USD, giảm 18,5% về lượng, 21,4% về trị giá so với cùng kỳ. Bên cạnh kết quả đạt được, hạn chế của ngành lúa gạo được xác định là hiệu quả chuỗi giá trị còn thấp do tỷ lệ thất thoát cao. Chất lượng gạo xuất khẩu còn thấp, tỷ lệ gạo trên 15% tấm còn chiếm tới 36%.
Khó khăn lớn của cây lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay chính là biến đổi khí hậu, khô hạn, nước biển dâng, xâm nhập mặn. Cùng với đó là sự thay đổi căn bản về nguồn nước ở thượng nguồn sông Mekong do hoạt động kinh tế của các quốc gia đầu nguồn.
Một trong những giải pháp đáng chú ý được đưa ra tại hội nghị lần này nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu là sử dụng linh hoạt diện tích đất trồng lúa theo hướng tùy theo từng vùng, thời vụ mà chuyển đổi từ đất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản và những loại cây có hiệu quả kinh tế cao hơn. Cùng với đó là bố trí lại vụ gieo trồng cho phù hợp với diễn biến thời tiết, khả năng đáp ứng nguồn nước và các điều kiện cho cây lúa sinh trưởng.
Ngoài ra, theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường, nông dân sản xuất lúa gạo của Đồng bằng sông Cửu Long vẫn nghèo do hiệu quả kinh tế, thu nhập từ sản xuất lúa gạo còn thấp, người sản xuất được hưởng lợi nhuận thấp nhất trong chuỗi sản xuất lúa gạo.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, mỗi hộ canh tác 3 vụ lúa thu được lợi nhuận 35-40 triệu đồng/ha/năm, thấp hơn 2,7 lần so với Thái Lan. 1,5 lần so với Indonesia và Philippines.
Chính sách cho lúa gạo: Không để tình trạng “đánh bùn sang ao”
Mặc dù có những tồn tại và thách thức lớn song sản xuất lúa gạo vẫn là thế mạnh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vẫn là ngành hàng có nhiều thời cơ do nhu cầu tiêu thụ lúa gạo trên thế giới vẫn tiếp tục tăng 70% so với hiện nay để nuôi sống 9 tỷ người vào năm 2050, trong đó một nửa dân số coi gạo là lương thực chính.
Hội nghị cũng đặt ra chỉ tiêu đảm bảo lợi nhuận cho người trồng lúa ở vùng sản xuất lúa hàng hóa từ 30% tổng thu trở lên, tỷ lệ diện tích sử dụng giống xác nhận chiếm trên 75% vào năm 2020 và 100% vào năm 2030; giảm tổn thất sau thu hoạch dưới 8%; giảm phát thải gây hiệu ứng nhà kính 10-20% so với hiện nay.
Tại hội nghị, đại diện cho khối doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh lúa gạo, lãnh đạo Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An đề nghị Chính phủ giải quyết sớm những vướng mắc hiện hữu cản trở hoạt động kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp trong lĩnh vực này; đồng thời việc ban hành chính sách cần có tính thực tế cao, tránh xa vời, “đánh bùn sang ao."
Làm sao để đời sống người nông dân khá hơn?
Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đặt vấn đề, phải làm sao để đời sống người nông dân khá hơn, doanh nghiệp phát triển tốt, thị trường ổn định trong môi trường cạnh tranh cao.
Đánh giá cao vai trò của khoa học công nghệ và sự chỉ đạo, điều hành của các địa phương trong vùng, đặc biệt là bà con nông dân Đồng bằng sông Cửu Long miệt mài, cần cù “một nắng, hai sương” trên đồng ruộng, Thủ tướng cũng ghi nhận vai trò của các doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến tiêu thụ gạo thời gian qua, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và phát triển ngành sản xuất lúa gạo của cả nước.
Thủ tướng cũng nhìn nhận hiệu quả trồng lúa còn thấp, kể cả sản xuất 3 vụ /năm, lãi gộp cao nhất cũng chưa đến 30 triệu đồng.
Trên vựa lúa lớn nhất của đất nước, người nông dân bao đời nay cũng chỉ lấy công làm lãi, Thủ tướng nói.
Thủ tướng nêu rõ lúa gạo ở Việt Nam, đặc biệt là ở Đồng bằng sông Cửu Long, tiếp tục được khẳng định là vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, mang tầm quốc tế. Lúa gạo đóng vai trò không thể thay thế được trong nông nghiệp Việt Nam - trụ đỡ của nền kinh tế với giá trị xuất khẩu từ nông nghiệp chiếm trên 32 tỷ USD năm 2016; đồng thời có tới 70% dân số cả nước sống ở nông thôn; gần 50% lao động cả nước thuộc lĩnh vực kinh tế nông nghiệp.
Nhấn mạnh, lúa gạo còn là một trong những loại nông sản chiến lược mà Việt Nam có lợi thế hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực nông nghiệp, Thủ tướng cho rằng nếu áp dụng sản xuất lớn, kết hợp chế biến sâu, tiếp thị tốt thì hiệu quả kinh tế ngành lúa có thể tăng nhiều lần và tiếp tục sinh lợi cao.
Thêm vào đó, xét về điều kiện sinh thái, khó có cây trồng nào có thể thay thế được diện tích lúa trên quy mô lớn ở Việt Nam. Đặc biệt, nếu có giải pháp khoa học công nghệ tốt còn có thể kết hợp trồng lúa với cây màu, nuôi trồng thủy sản phù hợp với biến đổi khí hậu. Đây còn là truyền thống quý báu của cha ông ta, Thủ tướng nói.
Đổi mới toàn diện ngành lúa gạo
Thủ tướng nêu vấn đề ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam đang đứng trước "giờ G" của công cuộc đổi mới. Việc này đòi hỏi một tư duy kiến tạo toàn diện từ nền tảng chính sách pháp luật đến cấu trúc vận hành, công nghệ sản xuất. Bởi vậy, ngành lúa gạo Việt Nam cần một tầm nhìn mới đi kèm những hoạch định chiến lược phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, để hạt gạo Việt Nam đáp ứng sâu sắc nhu cầu tiêu dùng châu Á và thế giới; đem lại giá trị gia tăng tốt nhất cho người trồng lúa ở Việt Nam và các doanh nghiệp lúa gạo.
Việt Nam sẽ không chỉ là một quốc gia xuất khẩu lúa gạo đạt mức kim ngạch hàng đầu thế giới mà phải phấn đấu trong 10 đến 20 năm tới, hạt gạo do người nông dân và doanh nghiệp Việt Nam sản xuất ra sẽ đem lại những giá trị gia tăng tốt nhất dựa trên việc đáp ứng một cách tinh tế các nhu cầu và tiêu chuẩn phổ quát về dinh dưỡng và dược liệu, góp phần củng cố danh tiếng của một trong những nền văn minh nông nghiệp lâu đời nhất của thế giới, Thủ tướng nêu rõ.
Trên tinh thần đó, Thủ tướng đề nghị đổi mới toàn diện ngành sản xuất lúa gạo bằng những giải pháp đột phá về thể chế chính sách và cả mô hình phát triển. Thủ tướng gợi mở, đầu tiên là phải thay đổi quy mô từng nông hộ bằng cách mở rộng hạn điền một cách phù hợp.
Thủ tướng nêu rõ phải giữ đất lúa nhưng xem xét lại mùa vụ, xen canh cùng với đất lúa trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học. Không có chủ trương sử dụng đất lúa làm sân golf hoặc sử dụng đất lúa làm xây dựng cơ bản.
Đánh giá, quy trình lúa gạo từ nông dân ra đến các nhà máy chế biến còn đi lòng vòng, phí trung gian lớn, Thủ tướng đề nghị các địa phương cần xử lý tốt các vấn đề cò lúa, thương lái; cơ cấu hợp lý hơn chi phí lãi vay ngân hàng trong thu mua, chế biến.
Thủ tướng đề nghị ngành hàng lúa gạo cần chú trọng phục vụ tốt hơn thị trường gần 100 triệu dân Việt Nam, tránh tình trạng xâm thực gạo tại thị trường trong nước.
Về vấn đề thể chế, Thủ tướng đề nghị các địa phương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo đuổi một chính sách an ninh lương thực linh hoạt, khôn ngoan. Các bộ liên quan sớm trình Chính phủ và báo cáo Quốc hội xem xét sửa đổi chính sách mở rộng hạn điền, trong đó, bồi thường thỏa đáng cho người dân trong thu hồi đất, khuyến khích đầu tư tư nhân vào nông nghiệp; mở rộng quyền sử dụng đất, bảo hộ quyền này cho doanh nghiệp tư nhân; bãi bỏ quy định không cần thiết để thúc đẩy phát triển lúa gạo.
Phải dựa vào dân, vào khoa học công nghệ để phát triển nông nghiệp nông thôn, chứ không phải dựa vào Nhà nước, Thủ tướng nhấn mạnh.
Thủ mong muốn sau hội nghị này, mở ra một chương mới cho ngành sản xuất lúa gạo của vùng và cả nước, tìm ra được một cách làm mới với năng suất, hiệu quả cao hơn, khắc phục tốt những hạn chế, bất cập thời gian qua.
Nhân dịp công tác tại An Giang, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tới thăm mô hình chế biến, sản xuất tại Công ty cổ phần rau quả thực phẩm An Giang tại huyện Châu Phú. Đây là một trong những doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và xuất khẩu các loại rau quả đông lạnh và đóng hộp.
Doanh nghiệp này có 49,4% vốn góp của Nhà nước, hiện có 3 nhà máy chế biến rau quả với tổng công suất thiết kế 20.000 tấn/năm.
Năm 2017, công ty đặt mục tiêu doanh thu 336 tỷ đồng./.