Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

Vì sao Mỹ thất bại ở Biển Đông?

Posted on  by The Observer

Print Friendly
Tác giả: Ngô Di Lân

Cuộc chiến giành ngôi vương ở Châu Á – Thái Bình Dương vẫn còn chưa ngã ngũ nhưng rõ ràng Mỹ đã thất bại trong việc ngăn chặn bước tiến của Trung Quốc ở Biển Đông. Trung Quốc chưa trở thành một bá quyền thực thụ ở Châu Á, song họ đã thành công trong việc đơn phương thay đổi nguyên trạng lãnh thổ ở Biển Đông mà không bị trừng phạt. Từ các nước láng giềng Châu Á cho đến Mỹ đều phải ngầm chấp nhận rằng những hòn đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã xây nên một cách trái phép ở Biển Đông là “sự đã rồi”. Trong thời gian trước mắt sẽ không có bất kì thế lực nào sẵn sàng thách thức sự kiểm soát của Trung Quốc đối với những hòn đảo này. Bước đầu trong đại kế hoạch “chấn hưng phục quốc” của người Trung Hoa đã thành công.
Nguyên nhân Mỹ thất bại
Lịch sử gần như chắc chắn sẽ ghi nhận Obama như một trong những tổng thống có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ bởi những di sản đối nội mà ông đã để lại như việc thông qua đạo luật chăm sóc y tế “Obamacare”. Nhưng Obama cũng sẽ là một nhân vật gây tranh cãi bậc nhất bởi ông được cho là để lại một di sản đối ngoại không thể tệ hơn cho nước Mỹ. Không ít người cho rằng “thế giới hậu Obama” là một thế giới vô cùng hỗn loạn và nguy hiểm mà trong đó vị thế của Mỹ ngày càng bị suy yếu đáng kể. Đây không phải là một quan điểm vô lý.
Ở Châu Âu, nước Nga đang trở mình mạnh mẽ để tìm lại vị thế cường quốc năm xưa. Cuộc khủng hoảng Ukraine cùng quyết định sáp nhập bán đảo Crimea của Nga đã phá tan sự bình yên bấy lâu nay của “thiên đường” Châu Âu và đặt khối NATO vào thế báo động. Đồng minh thân cận nhất của Mỹ là Anh Quốc đã rời khối EU, gây ảnh hưởng ít nhiều đến sự đoàn kết trong khối. Tệ hơn nữa, Brexit đã vô tình đặt ra tiền lệ cho việc một quốc thành viên ra rút khỏi EU – điều rất có thể sẽ đe doạ sự tồn tại của EU trong tương lai lâu dài.
Ở Châu Á, Trung Quốc vẫn ngang nhiên ỷ thế nước lớn bắt nạt các nước láng giềng nhỏ. Bên cạnh đó, Bắc Kinh vẫn không ngừng mở rộng và quân sự hoá tranh chấp ở Biển Đông mà không vấp phải sự chống đối đáng kể nào. Mặc dù Obama tuyên bố xoay trục về Châu Á nhưng không có động thái gì thực chất để thách thức các nước cờ ngoại giao cứng rắn của Trung Quốc trên Biển Đông. Trong khi đó, Hiệp định thương mại TPP được cho là yếu tố chủ chốt trong chính sách tái cân bằng thì Obama lại không thể thông qua Quốc hội trong nhiệm kỳ của mình và giờ TPP về cơ bản đã bị Trump xoá sổ.
Ở Trung Đông, cuộc nội chiến Syria vẫn chưa đến hồi kết và sự tung hoành của nhóm phiến quân Nhà nước Hồi giáo (IS) đang tiếp tục đặt cả khu vực này vào tình thế bất ổn. Hơn nữa, sự bất ổn ở khu vực Trung Đông đang tạo ra một cuộc khủng hoảng di cư chưa từng có, gây ảnh hưởng trực tiếp tới ổn định xã hội ở các nước Châu Âu do sự gần gũi về mặt địa lý. Hệ quả là sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tuý và cánh hữu cực đoan ở nhiều nước Châu Âu. Một khi chủ nghĩa cánh hữu bài ngoại lên ngôi, rất có thể Châu Âu sẽ một lần nữa tự đẩy mình đến bờ vực chiến tranh, một việc lâu nay được xem là không tưởng.
Nếu nhìn vào bức tranh tăm tối này, có lẽ nhiều người sẽ kết luận rằng Mỹ thất bại ở Biển Đông là do sự yếu kém và thiếu quyết đoán của Obama. Tuy nhiên, Obama không phải là nguyên nhân số một dẫn đến thất bại của Mỹ ở Biển Đông trước Trung Quốc. Mỹ thất bại chủ yếu vì họ là một siêu cường toàn cầu (global superpower) còn Trung Quốc chỉ là một cường quốc khu vực (regional power) và cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung đang diễn ra ở sân sau của Trung Quốc.
Không ít các học giả và chuyên gia đã nhận định rằng Mỹ và Trung Quốc đang bước vào một cuộc “Chiến tranh Lạnh” không khác gì cuộc cạnh tranh Mỹ-Xô sau Thế Chiến II. Đây là một nhận định sai lầm bởi trong suốt chiều dài của Chiến tranh Lạnh, Mỹ và Liên Xô đều là hai siêu cường toàn cầu. Cả hai đều có lợi ích chiến lược ở gần như tất cả các khu vực trọng yếu và đều có tham vọng truyền bá hệ tư tưởng của mình đi khắp năm châu. Vì vậy, cuộc cạnh tranh quyền lực Mỹ-Xô là một cuộc cạnh tranh quyền lực ở quy mô toàn cầu còn mâu thuẫn Mỹ-Trung hiện nay về cơ bản chỉ tập trung ở khu vực Châu Á nói chung và Đông Á nói riêng. Đây là điểm mấu chốt lý giải vì sao Mỹ lại thất thế trước Trung Quốc ở Biển Đông. Thứ nhất, vì Mỹ là siêu cường toàn cầu nên chỉ có lợi thế hơn Trung Quốc khi cạnh tranh ở quy mô toàn cầu. Khi mà khoảng cách giữa sức mạnh của Mỹ và Trung đã thu hẹp đáng kể thì Trung Quốc mới là bên chiếm ưu thế khi hai bên tranh đấu ở sân sau của Trung Quốc. Thứ hai, vì Biển Đông là khu vực sát sườn đối với Trung Quốc hơn đối với Mỹ nên Trung Quốc sẽ có quyết tâm hơn Mỹ trong việc bảo vệ lợi ích của mình ở khu vực này.
Nếu xét về tương quan lực lượng hiện nay thì rõ ràng Mỹ vẫn ưu việt hơn Trung Quốc về nhiều mặt. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong khi Mỹ phải dàn mỏng lực lượng của mình ra ba mặt trận lớn là Đông Âu, Trung Đông và Đông Á thì Trung Quốc về cơ bản chỉ một mặt trận lớn ở Đông Á. Trung Quốc chưa phải là một siêu cường toàn cầu nên họ có thể tham gia giải quyết các vấn đề khủng hoảng ở Châu Âu hay Trung Đông một cách thụ động và tập trung nguồn lực của mình cho một mặt trận chính ở Đông Á. Mỹ là siêu cường toàn cầu vì thế họ phải đảm bảo được vị thế của mình ở cả ba khu vực trọng yếu cùng lúc. Đây là chính sách nhất quán của Mỹ suốt từ thời Chiến tranh Lạnh đến giờ.
Cũng vì Mỹ luôn phải có mặt ở cả ba khu vực này nên đôi lúc sự linh hoạt trong chính sách ngoại giao của Mỹ sẽ bị giảm sút đáng kể. Trong một thế giới viễn tưởng mà trong đó Mỹ không có lợi ích chiến lược ở Châu Âu và Trung Đông thì Washington hoàn toàn có thể mặc cả với Moskva để lấy lá bài Nga chống Trung Quốc như cặp đôi Nixon/Kissinger đã dùng lá bài Trung Quốc để kiềm chế Liên Xô vào những năm 1970. Trong bối cảnh hiện nay, lá bài Nga tuy ẩn chứa nhiều tiềm năng về mặt chiến lược nhưng lại không phải là một lựa chọn khả dĩ cho chính quyền Trump về mặt đối nội bởi đối với người Mỹ thì Nga hiện nay cũng là một đối thủ “không đội trời chung”, nhất là sau những tin đồn về mối quan hệ bất chính giữa chính quyền Trump và Nga. Do đó, hiện nay không có dư địa cho một sự hoà hoãn Mỹ-Nga để chống Trung Quốc.
Hơn nữa, tổng thống Mỹ được coi người lãnh đạo “thế giới tự do” và chính sách đối ngoại của Mỹ từ trước đến giờ vẫn luôn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các giá trị tự do. Vì vậy, dù có một cuộc khủng hoảng nổ ra ở một miền đất xa xôi nào đó không có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích chiến lược của Mỹ nhưng tổng thống Mỹ vẫn sẽ chịu sức ép phải can thiệp. Khi mùa xuân Ả Rập diễn ra, người ta kêu gọi nước Mỹ can thiệp để ủng hộ phong trào dân chủ ở đó. Khi nạn diệt chủng xảy ra ở Rwanda vào năm 1994, Mỹ cũng là nước chịu nhiều sức ép và sự chỉ trích nhất khi không nỗ lực can thiệp quân sự. Do đó, dù các tổng thống Mỹ nhận thấy được nhu cầu tập trung nguồn lực cho một vài lợi ích chiến lược đi nữa thì đôi khi họ vẫn phải can dự vào những vấn đề không thật sự sát sườn đối với nước Mỹ bởi nếu không thì hình ảnh của nước Mỹ sẽ bị xấu đi trong mắt quốc tế. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không phải chịu sức ép tương tự và vì vậy có thể nhắm mắt làm ngơ khi thảm sát diễn ra ở các vùng đất xa xôi không có ảnh hưởng trực tiếp đến Trung Quốc. Do đó, Mỹ sẽ luôn ở thế bất lợi hơn Trung Quốc nếu Bắc Kinh không phải dàn mỏng lực lượng của mình ra nhiều mặt trận khác nhau.
Cũng cần nói thêm rằng, tuy khu vực Biển Đông có ý nghĩa địa-chính trị chiến lược đối với cả Trung Quốc và Mỹ nhưng vì khu vực này sát sườn Trung Quốc hơn nên dĩ nhiên nó quan trọng với Trung Quốc hơn so với Mỹ. Trung Quốc sẽ thấy vô cùng bất an khi để hải quân của đối thủ kiểm soát Biển Đông cũng như Mỹ cảm thấy vô cùng bất an khi Liên Xô đặt tên lửa ở Cuba trong vào năm 1962 bởi sự hiện diện quân sự của đối thủ ở ngay sát lãnh thổ của mình cho phép đối phương tấn công trong một khoảng thời gian rất ngắn. Vì vậy, đối với Trung Quốc, việc Mỹ kiểm soát Biển Đông là mối đe doạ trực tiếp đối với an ninh quốc gia còn với Mỹ thì tuy Trung Quốc kiểm soát Biển Đông sẽ hạn chế phạm vi hoạt động của hải quân Mỹ và có thể làm suy yếu năng lực răn đe của Mỹ ở Châu Á nhưng nó không trực tiếp đe doạ an ninh quốc gia của Mỹ. Do đó, Trung Quốc sẵn sàng tập trung các nguồn lực của mình để bảo vệ lợi ích ở Biển Đông hơn Mỹ.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng sẵn sàng cư xử một cách cứng rắn ở Biển Đông hơn Mỹ bởi cái giá mà Bắc Kinh phải trả cho một thất bại ở Biển Đông lớn hơn nhiều lần so với Washington. Vì Biển Đông không đe doạ trực tiếp đến chủ quyền hay toàn vẹn lãnh thổ của Mỹ nên họ sẽ rất dè chừng trong việc đề ra các làn ranh đỏ (red lines) hay chủ động leo thang căng thẳng để buộc Trung Quốc lùi bước. Tất cả những yếu tố này đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ không sẵn sàng hy sinh nhiều nguồn lực và chấp nhận tổn thất lớn bằng Trung Quốc để tranh giành quyền lực ở Biển Đông. Hệ quả gần như tất yếu là Mỹ sẽ thua cuộc.
Bài học từ Chiến tranh Lạnh
Lịch sử không bao giờ lặp lại một cách tuyệt đối nhưng không vì thế mà các bài học lịch sử mất đi giá trị của mình. Nếu các nhà lãnh đạo Mỹ nghiên cứu kỹ Chiến tranh Lạnh thì họ có thể rút ra một số bài học quan trọng, có thể áp dụng được trong tình thế hiện nay với Trung Quốc.
Thứ nhất, sở dĩ Mỹ đánh bại được Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh là bởi hai nước cạnh tranh quyền lực ở đủ các mặt trận khác: từ Tây Âu, Trung Đông và Mỹ-Latinh cho đến Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Vì Mỹ có mạng lưới đồng minh phủ sóng rộng rãi hơn Liên Xô và vì nền kinh tế của Mỹ năng động và bền vững hơn nền kinh tế của Liên Xô, chắc chắn Mỹ có lợi thế khi hai siêu cường cạnh tranh quyền lực ở quy mô toàn cầu. Một khi cuộc tranh đấu không chỉ giới hạn ở một khu vực địa lý nhất định thì sức mạnh quân sự không còn có vai trò quyết định nữa. Lúc đó tất cả các yếu tố cấu thành nên quyền lực quốc gia từ dân số, vị trí địa lý, hệ tư tưởng, tiềm lực khoa học kỹ thuật cho đến sức mạnh quân sự đều đóng vai trò hết sức quan trọng. Và xét một cách tổng thể thì Mỹ vượt xa Liên Xô. Thế nên không có gì ngạc nhiên khi Liên Xô bắt đầu “đuối sức” trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Lạnh. Mô hình phát triển, hệ tư tưởng của Liên Xô không chứng minh được sự ưu việt so với mô hình phát triển tư bản của phương Tây. Nền kinh tế của Liên Xô không đủ năng động để bắt kịp với nền kinh tế tự do của phương Tây. Ngày nay, tuy Trung Quốc có nhiều ưu thế hơn Mỹ ở khu vực Đông Á nhưng chắc chắn còn rất lâu nữa Trung Quốc mới có đủ nguồn lực để chạy đua với Mỹ ở nhiều mặt trận khác nhau, nhất là khi xã hội và nền chính trị Trung Quốc tiềm ẩn vô cùng nhiều nguy cơ tiềm tàng.
Thứ hai, Chiến tranh Lạnh cho thấy Mỹ có nền tảng sức mạnh vô cùng tiềm tàng. Tuy nhiên khi họ sa đà vào các cuộc chiến tranh vô nghĩa và tốn kém như chiến tranh Việt Nam thì họ tự khiến mình suy yếu. Nhưng khi Mỹ tránh được các cuộc xung đột vũ trang và tập trung cho sự phát triển trong nước thì họ giành thắng lợi bởi họ có hệ thống ưu việt hơn các đối thủ. Thế nên trong một cuộc chạy đua marathon với các đối thủ chiến lược, khả năng cao Mỹ sẽ giành phần thắng nếu họ không mắc phải các sai lầm đối ngoại và đẩy mình vào những cuộc chiến không đáng có.
Từ hai điều trên có thể kết luận rằng nhìn về tương lai lâu dài, nếu Mỹ muốn giữ được ngôi vị siêu cường số một của mình, đồng thời lấy lại vị thế ở Châu Á thì họ buộc phải chấp nhận lùi một bước để tiến hai bước. Cụ thể hơn, Mỹ cần tạm thời chấp nhận chia sẻ quyền lực với Trung Quốc và “trói” chặt Trung Quốc vào hệ thống quốc tế hiện nay hơn nữa bằng cách khuyến khích Trung Quốc đóng vai trò lớn hơn trong quản trị toàn cầu. Trên thực tế, điều này có nghĩa là thay vì tìm cách ngăn chặn các sáng kiến của Trung Quốc, như khi Mỹ gây sức ép lên các đồng minh để không tham gia vào ngân hàng AIIB, Mỹ thậm chí nên khuyến khích Trung Quốc phát triển càng nhiều sáng kiến ở càng nhiều các khu vực đa dạng càng tốt. Mỹ thậm chí có thể mặc cả với Trung Quốc về vấn đề Đài Loan, tạo điều kiện cho Trung Quốc sáp nhập Đài Loan vào lãnh thổ của mình một cách hoà bình. Việc Trung Quốc “nuốt chửng” được Đài Loan không nhất thiết sẽ làm gia tăng sức mạnh của Trung Quốc và nhiều khả năng sẽ tạo ra nhiều vấn đề hơn cho Trung Quốc bởi chắc chắn người Đài Loan sẽ không chịu quy phục một cách đơn giản như vậy.
Nói cách khác, trong thời gian trước mắt, Mỹ cần phải tìm cách nâng cao vị thế của Trung Quốc ở tầm toàn cầu và khiến Trung Quốc có thêm nhiều lợi ích quan trọng ở các khu vực khác nhau. Mục đích cuối cùng sẽ là khiến Trung Quốc dàn mỏng lực lượng và khi đó, Mỹ sẽ đẩy Trung Quốc vào một cuộc chạy đua ở quy mô toàn cầu, không khác gì cạnh tranh Mỹ-Xô trong Chiến tranh Lạnh. Khi đó, Mỹ sẽ chứng tỏ được sự ưu việt của hệ thống của mình và đánh bại Trung Quốc. Còn ngay lúc này, Mỹ tạm phải chấp nhận Trung Quốc là bá quyền ở Châu Á.
Ngô Di Lân là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Brandeis, Hoa Kỳ. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của cá nhân tác giả.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2017/04/24/vi-sao-my-that-bai-o-bien-dong/#sthash.xgbuTaPk.dpuf

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

Trung Quốc cho nổ lòng sông MêKông, Thái Lan bật đèn xanh

Chủ Nhật, 23/04/2017 11:21

Đối tác và người dân Thái Lan đang lên kế hoạch biểu tình chống lại dự án khảo sát của Trung Quốc tiến hành trên sông Mê Kông.
Đèn xanh
Để phục vụ kế hoạch khơi thông luồng lạch 200km sông Mê Kông, 7 tàu từ tỉnh miền nam Vân Nam của Trung Quốc đã đến Chiềng Rai của Thái Lan. Cuộc khảo sát kéo dài 55 ngày tại 15 điểm trên dòng Mekong, bắt đầu từ Tam Giác Vàng, vùng giao thoa của ba nước Lào, Myanmar, và Thái Lan.
Kế hoạch của Trung Quốc là dùng mìn đánh sập thác ghềnh đồng nghĩa với hủy hoại môi trường sống của các loài động thực vật bản địa bất chấp các thảm họa hiện hữu gây ra bởi 6 đập thủy điện của Trung Quốc và hai đập khổng lồ Xayaburi, Don Sahong đang thi công.
Theo khảo cứu của Đại học Quốc gia Singpaore (NUS), kế hoạch trên sẽ dẫn đến những thảm họa là cơn đói phù sa vốn bồi đắp cho Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam từ 6.000 năm qua.
Đến 2014, lượng phù sa chỉ còn 75 triệu tấn/năm so với không dưới 160 triệu tấn/năm từ 1994 đổ về trước.
Khống chế và tấn công an ninh hệ sinh thái là thủ đoạn không mới trong lịch sử. Nó rất khó nhận diện trong ngắn hạn và có thể làm tàn lụi cả một nền văn minh.
Trung Quoc cho no long song MeKong, Thai Lan bat den xanh
Tàu chở hàng Trung Quốc di chuyển trên sông Mê Kông gần khu Tam giác Vàng, biên giới ba nước Lào, Thái Lan, Myanmar. Ảnh TNO
Từ tháng 4/2001, Trung Quốc đã bắt đầu kế hoạch nạo vét nhằm thông luồng cho các tàu hàng lớn 500 tấn đưa hàng từ tỉnh Vân Nam xuôi về hạ nguồn đến các cảng ở Thái Lan và Lào.
Dự án này được chia làm ba giai đoạn và bước đầu là khảo sát.
Ngay sau đó, 4 nước bao gồm Trung Quốc, Myanmar, Lào và Thái Lan đã ký Hiệp định giao thông thủy thương mại, thành lập Ủy ban Điều phối giao thông thủy thương mại (JCCCN) để thúc đẩy quá trình xây dựng thủy lộ cho các thương thuyền.
Thực sự, nếu so sánh với các tuyến đường vận tải đã có, sông Mê kông không phải là đường tắt để trao đổi hàng hóa giữa Trung Quốc, Lào và Thái Lan.
Cụ thể, đường sông dài 590 km từ cảng Tư Mao (Vân Nam, Trung Quốc) qua Huay Xay (Lào) đến Chiang Kong (Thái Lan) trong khi tuyến đường bộ chỉ vào khoảng 450 km.
Tương tự như vậy, khoảng cách đường thủy từ cảng Tư Mao tới Luang Prabang dài 890km trong khi đường bộ chỉ dài 510km. Tuyến đường thủy Mê Kông từ Tư Mao tới Vieniane dài khoảng 1380km trong khi đường bộ chỉ khoảng 890km.
Mặc dầu vậy, theo nghiên cứu của Ủy hội Sông Mê Kông, chi phí vận tải thấp hơn có thể bù đắp được quãng đường chênh lệch giữa đường thủy và đường bộ.
Nghiên cứu cho thấy chi phí để vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ từ Tư Mao đến Chiang Kong là 39,47USD/tấn, trong khi vận chuyển bằng đường thủy chỉ tốn 23,22 USD.
Vấn đề đáng lưu tâm liên quan đến giá trị kinh tế của việc phát triển dòng sông, đó là trao đổi thương mại giữa Thái Lan với Trung Quốc, Lào và Myanmar trên sông Mê Kông ước tính đạt đến 15,9 tỷ Bath, qua đường cao tốc R3A ước tính khoảng 19 tỷ Bath vào năm 2016.
Điều này cho thấy tuyến đường thủy trên sông Mê Kông vẫn chỉ là lựa chọn phụ so với những con đường bộ thuận tiện.
Mặc dù vậy, Trung Quốc cũng như một số quốc gia trong khu vực sông Mê kông vẫn duy trì quan điểm sông Mê Kông cần được phát triển như một con đường vận chuyển thay thế và hỗ trợ cho các tuyến đường đã có.
Tuy dự án này vẫn còn đang ở những giai đoạn khởi đầu, nhưng Trung Quốc đã gửi tín hiệu khẳng định quyết tâm thực hiện thành công dự án này.
Chính vì thế, các chuyên gia đã cảnh báo, cơn cuồng vọng Me kông sẽ vô phương dập tắt nếu Ủy hội Sông Mekong (MRC) vẫn khư khư cái vỏ đoàn kết bề ngoài như hiện nay.
Dân Thái Lan biểu tình phản đối TQ nạo vét sông Mê Kông
Khi chính quyền bật đèn xanh, thì trong một diễn biến liên quan, ngày 21/4, điều phối viên Jeerasak Inthayos của Tổ chức Rak Chiang Khong cũng cho hay họ cùng các đối tác và người dân địa phương, các nhà hoạt động bảo vệ môi trường đã lên kế hoạch biểu tình, để phản đối chính quyền Trung Quốc khảo sát các thác ghềnh trên sông Mê Kông đoạn đi qua vùng Khon Pi Long, tỉnh Chiềng Rai.
Nhiều tổ chức bảo vệ môi trường Thái Lan lo ngại Trung Quốc muốn dùng thuốc nổ phá thác ghềnh để mở rộng lòng sông, hủy hoại hệ sinh thái và đe dọa đời sống người dân địa phương.
Trước đó, kênh Channel NewsAsia, ngày 9/3 cũng đưa tin, các chuyên gia Thái Lan khẳng định, việc nạo vét sẽ không mang lại lợi ích nào cho người dân dù chính phủ vẫn quyết tâm tiến hành khảo sát dự án nhằm phục vụ tàu vận tải cỡ lớn.
Cụ thể, nhà bảo vệ môi trường Niwat Roikeaw cho hay: "Việc nạo vét sẽ tác hại nặng nề đến môi trường, an ninh lương thực và đời sống người dân. Năm 2016, một số chuyên gia Trung Quốc đã đến Thái Lan để giải thích về những lợi ích của dự án".
Và đưa ra lời khuyên Trung Quốc nên hủy dự án và cần hiểu rằng “những người khác cũng cùng sống với họ” ở vùng sông Mê Kông. Nếu không, đây sẽ là hành vi xâm phạm kinh tế các nước khác vì lợi ích riêng của họ.
Việc nạo vét đã bắt đầu tại đoạn chảy qua Myanmar và Lào. Ông Kham Yana, một ngư dân Thái Lan, nói rằng ông đã nhìn thấy tác hại: “Dòng nước chảy xiết hơn và ít cá hơn vì những hốc đá dưới sông nơi chúng sinh sản đã không còn nữa”.
Sơn Ca (Tổng hợp)

Nếu ông Võ Kim Cự và ông Nguyễn Sỹ Kỷ chẳng may bị ốm?

Với những sai phạm đã được chỉ ra và hình thức kỷ luật đã phải nhận, liệu ông Võ Kim Cự có còn xứng đáng với những chức vụ ông đang đảm nhiệm?

Tại kỳ họp thứ 11 từ 15-17/2/2017 Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã có kết luận về trách nhiệm của ông Võ Kim Cự, nguyên Phó Bí thư, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. 

Kết luận nêu rõ: “Để xảy ra các vi phạm nêu trên, trách nhiệm chính thuộc về ông Võ Kim Cự trong thời gian giữ cương vị Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban Cán sự đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2011 - 2016; Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh kiêm Trưởng ban Quản lý khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh (2008 - 2010)”.

Sau khi có kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, các bước xử lý tiếp theo sẽ là gì?

Hiện tại, ông Võ Kim Cự là Bí thư đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh hợp tác xã Việt Nam, đại biểu Quốc hội khóa 14, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, với cương vị hiện tại ông thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. 

Các hình thức kỷ luật Đảng ở mức cao hơn khiển trách, cảnh cáo do Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định.

Thông tin trên Trang Thông tin điện tử Ủy ban Kiểm tra Trung ương cho biết, Ban Bí thư đã họp dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để xem xét báo cáo của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đề nghị thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên (số 74 và 75-BC/UBKTTW, ngày 17/4/2017).  

Ban Bí thư đã thảo luận dân chủ, phân tích kỹ lưỡng, khách quan, toàn diện các vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường và một số cán bộ thuộc diện Ban Bí thư quản lý có liên quan đến sự cố về môi trường tại 4 tỉnh miền Trung. 

Riêng trường hợp ông Võ Kim Cự, hình thức kỷ luật Ban Bí thư đưa ra là: “cách chức Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ nhiệm kỳ 2005 - 2010 và nhiệm kỳ 2010 - 2015 đối với đồng chí Võ Kim Cự (bao gồm cách chức cả các chức vụ: Bí thư Ban cán sự đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tĩnh theo quy định)". [1]

Có thể thấy, kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương chỉ đề cập đến thời kỳ ông Cự lãnh đạo Hà Tĩnh, giai đoạn sau này khi ông trở thành Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và đại biểu Quốc hội chưa được đề cập đến. 

Vấn đề là với những sai phạm mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chỉ ra, với hình thức kỷ luật ông Võ Kim Cự đã phải nhận, ông có còn xứng đáng với những chức vụ ông đang đảm nhiệm?

Ông Võ Kim Cự có còn xứng đáng với những chức vụ ông đang đảm nhiệm? (Ảnh: Tuoitre.vn)
Trịnh Xuân Thanh từ Bộ Công Thương chạy vào Hậu Giang, trở thành Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch tỉnh, đại biểu Quốc hội khóa 14 đã được làm rõ, một số cán bộ Đảng - chính quyền liên quan đến vụ việc đã bị kỷ luật. 

Bản thân Trịnh Xuân Thanh bị khai trừ, bị tước bỏ vai trò đại biểu Quốc hội, bị truy tố trước pháp luật dù đang lẩn trốn ở nước ngoài.

Trường hợp ông Võ Kim Cự có gì đó na ná như Trịnh Xuân Thanh. Ông Cự “chạy” từ Hà Tĩnh ra Hà Nội, trở thành Chủ tịch Liên minh hợp tác xã Việt Nam, làm Bí thư Đảng - Đoàn, rồi cũng trở thành đại biểu Quốc hội. 

Trịnh Xuân Thanh nếu không có hậu thuẫn, không được ưu ái nâng đỡ liệu có thể che dấu hành vi phạm pháp để rồi trở thành lãnh đạo tỉnh và đại biểu Quốc hội?

Liên quan đến Trịnh Xuân Thanh, một số cán bộ, cơ quan Tổ chức, Nội vụ, Bộ Công Thương đã bị kỷ luật vì những lý do khác nhau song dư luận đều hiểu lý do thực sự chính là công tác cán bộ.

Cũng như Trịnh Xuân Thanh, ông Cự không thể tự ứng cử vào Quốc hội, không thể tự mình giành lấy những chức vụ quan trọng khiến ông trở thanh đối tượng do Ban Bí thư, Bộ Chính trị quản lý. 

Một mình ông Cự không đủ khả năng điều khiển các cơ quan và tổ chức quần chúng trong các cuộc bầu cử, đặc biệt là việc tổ chức hiệp thương giới thiệu ông ra ứng cử Quốc hội phải do nhiều cơ quan phối hợp thực hiện.

Điều này có nghĩa là việc xử lý ông Cự nên được tiến hành theo hai hướng: xử lý sai phạm của ông Cự thời còn ở Hà Tĩnh và quá trình ông làm thế nào để có các chức vụ Đảng, đoàn thể và Quốc hội như hiện tại.

Xử lý một mình ông Cự là chưa đủ nếu không xử lý các cá nhân và tổ chức liên quan. 

Người dân biết tính chất phức tạp của vụ việc nên sẵn sàng chờ đợi, vấn đề là vì sao với nhiều sai phạm kéo dài từ 2005 - 2015 nhưng ông Cự vẫn đủ “động lực” vượt qua và trở nên “huy hoàng” như hôm nay?

Những sai phạm của ông Võ Kim Cự đã được đề cập rất rõ không chỉ trong kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, của Ban Bí thư mà còn trên hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng.

Việc Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, các bộ phận liên quan phải vào cuộc giải quyết không chỉ vì lỗi do ông Cự gây ra mà còn cho thấy có gì đó chưa ổn trong việc không ngăn chặn kịp thời để ông “chễm chệ” thêm một thời gian ở những vị trí khá quan trọng, đặc biệt là việc trở thành đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội khóa 14. 

Nếu cơ quan có trách nhiệm tiếp thu ý kiến công luận, dừng việc bố trí ông Cự vào vị trí lãnh đạo cấp cao cũng như không hiệp thương giới thiệu ông vào Quốc hội thì giờ đây việc kỷ luật ông Cự có lẽ sẽ đơn giản hơn nhiều.

Một khi ông Cự cũng là “thường dân” như hơn 90 triệu người Việt thì việc xem xét xử lý sai phạm của ông sẽ là công việc của Công an, Kiểm sát và Tòa án chứ không đến mức Bộ chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương phải vào cuộc

Chính việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phải trực tiếp chủ trì cuộc họp cho thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề.

Đó là sự tha hóa, biến chất của một số cán bộ lãnh đạo cao cấp đã dần dần lộ diện, các nhóm lợi ích đã trở thành thế lực đủ mạnh, tiềm ẩn nguy cơ thao túng chính trị - kinh tế.

Các nhóm này đã phần nào thành công trong việc đưa các thành viên vào các vị trí quan trọng, có ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng và khối đoàn kết toàn dân. 

Việc để ông Cự tiếp tục tham gia công tác Đảng, Quốc hội và Liên minh Hợp tác xã liệu có dẫn tới việc cả ba cơ quan này đều phải tiến hành xử lý sau khi ông Cự đã bị Ban Bí thư thi hành kỷ luật?

Vấn đề không chỉ là tốn thời gian điều tra, xem xét, tốn tiền thuế của dân. Vấn đề còn nằm ở chỗ xuất hiện câu hỏi rất nghiêm túc về công tác cán bộ sau khi Tổng Bí thư ký ban hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa 11. 

Vì sao Nghị quyết ra đời được mấy năm mà một người trong khi đang bị dư luận dị nghị với những dẫn chứng rất cụ thể lại có thể vượt qua tất cả để trở thành cán bộ cấp cao như ông Võ Kim Cự?

Về cá nhân ông Cự, người viết đã từng phân tích qua bài “Ông Võ Kim Cự và nguyên tắc “4 chấm” của robot”. [2]

Không biết sau khi nhận quyết định kỷ luật từ Ban Bí thư ông Cự có bị mệt, có phải cảm thán thốt lên như ông Phó Ban Nội chính tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Sỹ Kỷ, rằng “tôi rất đau lòng, chắc tôi ốm mà chết mất”. [3]

Nếu ông Võ Kim Cự và ông Nguyễn Sỹ Kỷ chẳng may bị ốm thật vào giai đoạn này thì có lẽ cũng hoàn toàn “đúng quy trình” bởi không ít người rơi vào hoàn cảnh như hai ông đều thế cả.

Ngày xưa không thiếu những tấm gương “treo mũ từ quan” vì không muốn nhân phẩm bị vấy bẩn. 

Những người có vết tỳ đã bị báo chí phanh phui, bị Ban Bí thư quyết định kỷ luật không giống như người xưa vì nhân phẩm của họ đâu còn trong sạch. 

Tuy nhiên nếu còn chút tự trọng, chưa mất hết lương tâm, danh dự thì cũng nên học tiền nhân “treo mũ từ quan”.

Nhiều người thắc mắc, tại sao tuyệt đại bộ phận những người mắc sai phạm không tự mình xin ra khỏi Đảng, khỏi Quốc hội, khỏi bộ máy nhà nước. 

Thắc mắc thế có lẽ là hơi thừa bởi nếu tự mình xin thôi các chức vụ thì hóa ra họ vẫn còn nguyên vẹn “tự trọng, có lương tâm, danh dự” hay sao?

Trên con thuyền chở đầy lương thực, hàng hóa, lũ chuột thường nấp rất kỹ, có đánh động thế nào chúng cũng không chịu ló mặt. 

Nếu chẳng may thuyền gặp sự cố thì nhảy khỏi thuyền đầu tiên lại chính là lũ chuột, đây là câu chuyện ngày xưa, ngày nay không biết thế nào?

Người như ông Kim Cự, ông Huy Hoàng, ông Sỹ Kỷ,… họ thừa biết việc mình làm là sai nhưng họ lại chẳng mấy khi sai… một mình. 

Họ có hội, có thuyền, có cột chống, có quân sư và cũng có cả “lâu la”, thế nên chừng nào các “đồng chí ấy chưa bị lộ” thì tội gì mà… “xin lộ”! 

Kể từ khi ban hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa 11 (Nghị quyết số 12-NQ/TW) đến nay, sau gần 5 năm, có bao nhiêu người tự nguyện xin nghỉ công tác vì tự thấy có sai phạm, bao nhiêu quan chức bị cơ quan chức năng phát hiện sai phạm trước khi truyền thông vào cuộc?

Cũng từ khi ban hành Nghị quyết 12-NQ/TW đến nay bao nhiêu trường hợp kê khai tài sản không trung thực bị phát hiện? Trả lời câu hỏi này, xin nêu một số tít báo: 

“Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm có... 1 trường hợp kê khai tài sản không trung thực ...” (Tuoitre.vn 19/8/2016); 

“Kê khai tài sản: Chỉ 5 phần triệu cán bộ không trung thực (?!)” (Tienphong.vn 4//1/2017); 

“1 triệu người kê khai tài sản, không trường hợp nào thiếu trung thực (!)” (Dantri.com.vn 28/10/2016)…

Chỉ có “5 phần triệu cán bộ không trung thực” (khi kê khai tài sản) và những người này đều đã biết tên, ông Kim Cự không thuộc 5% đó nên khuyên ông tự mình xin ra khỏi Đảng, xin thôi đại biểu Quốc hội liệu có phải là hơi … quá đà?

Nói thế chứ thật ra có thể dự đoán, dù ông Kim Cự muốn hay không, dư luận vẫn mong quy trình xử lý Trịnh Xuân Thanh sẽ được áp dụng cho trường hợp của ông. 

Nếu ông tự nguyện, Đảng và nhân dân chắc chắn sẽ để cho ông con đường lùi, ông có thể yên tâm về quê dưỡng già như ông Mãn, ông Truyền… cùng lắm thì học ông Trường Tô rời bỏ quê hương, xây cái biệt thự ven núi, sáng chiều nghe chim kêu, vượn hú.  

Đời người ta, ai chẳng có lúc sai lầm, sửa sai chẳng bao giờ muộn. Chỉ có vài loại người không muốn sửa sai, đó là những kẻ mất nhân tính, kẻ gàn, quẫn hoặc kẻ xem mình là nhất thiên hạ.

Có điều “kẻ” ở đây đôi khi không phải chỉ là “kẻ”.

Tài liệu tham khảo:


Xuân Dương



(Giáo Dục)

" BẪY' TRONG CAM KẾT CỦA CT CHUNG: "KHÔNG TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TOÀN THỂ NHÂN DÂN XÃ ĐỒNG TÂM"...(CHỈ TRUY CỨU MỘT SỐ CÁ NHÂN LẺ TẺ ???)

 Bảy, 22 tháng 4, 2017


Nóng: BÁO CHÍ TRÍCH DẪN SAI LỜI ÔNG NGUYỄN ĐỨC CHUNG TẠI ĐỒNG TÂM

Báo Dân Trí đưa tin về cuộc đối thoại của ông Nguyễn Đức Chung- Chủ tịch UBND TP Hà Nội với nhân dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, trong đó có đoạn:
"14h25, Bí thư xã Đồng Tâm đọc bản cam kết của Chủ tịch Hà Nội về việc giải quyết các vấn đề ở Đồng Tâm, trong đó nhấn mạnh không truy cứu trách nhiệm của người dân Đồng Tâm trong việc giữ người trái pháp luật." 
http://dantri.com.vn/xa-hoi/dan-dong-tam-chinh-thuc-tha-19-chien-si-20170422130915819.htm
Một số tờ báo khác cũng đưa tin tương tự.

Đặc biệt, Báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh giật tit to đùng: "Thả 19 người, không truy cứu trách nhiệm hình sự dân Đồng Tâm"

Google.tienlang xin khẳng định: Đưa tin như vậy là sai lời ông Chủ tịch Nguyễn Đức Chung.
Sự thật là:

Về kiến nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự, ông Chung ghi nhận ý kiến bà con về các bức xúc.
"Tôi từng làm điều tra, từng làm thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra, giám đốc công an thành phố, hôm nay tôi về với tư cách chủ tịch TP. Tôi ghi nhận việc làm của bà con là từ bức xúc đất đai, từ việc bắt giữ người không công bố lệnh, không mặc trang phục, bắt đưa lên ô tô.
Tôi tin đất nước ta có truyền thống đánh kẻ chạy đi không đánh kẻ chạy lại. Luật pháp có quy định thành khẩn, khắc phục hậu quả, tôi tin bà con sẽ được giảm nhẹ", ông Chung nói.
Và dưới đây là Cam kết của ông Nguyễn Đức Chung bằng văn bản:
Bản Cam kết của ông Nguyễn Đức Chung, lưu ý đoạn chúng tôi đã gạch chân màu vàng: 
"2. Không truy cứu TNHS đối với TOÀN THỂ NHÂN DÂN XÃ ĐỒNG TÂM."


Bạn Hoàng Ngân Thương- đại diện của Google.tienlang trên face đã giải thích một cách ngắn gọn nhưng chính xác:
"Đây là văn bản cam kết của ông Chung, lưu ý chữ tô vàng:
---
"2. Không truy cứu TNHS đối với TOÀN THỂ NHÂN DÂN XÃ ĐỒNG TÂM."
-----
Chẳng bao giờ lại đi truy cứu TNHS với TOÀN THỂ cả nghìn con người cả.
Trong khoa học Hình sự có thuật ngữ CÁ THỂ HÓA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ.
Tức là cơ quan điều tra phải làm rõ những kẻ cầm đầu, chủ mưu, tích cực thực hiện... để xử lý hình sự, còn những người bị ép buộc, hoặc a dua... thì có thể không truy cứu."

SO SÁNH BỘ MÁY QUAN CHỨC CỦA 3 CHÍNH PHỦ: VIỆT NAM, NHẬT VÀ HOA KỲ ?

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Nguồn: Tam Dang và 8 người khác đã chia sẻ bài viết của Minh Anh Vu.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, râu

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người

Những bức ảnh hiếm hoi về các vị vua cuối cùng của Việt Nam

Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam (1802 – 1945). Tồn tại 143 năm, đây là triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế kỷ 19. Dưới đây là những bức ảnh hiếm hoi của một số vị vua của triều đại nhà Nguyễn.

Vua Gia Long (1762 – 1820)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Gia Long là vị Hoàng đế đã thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Ánh (thường được gọi tắt là Nguyễn Ánh), trị vì từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820. Sau nhiều thất bại lớn và phải cầu viện sự giúp đỡ của Xiêm La và Pháp, ông giữ vững được Nam Hà và đến năm 1802 thì đánh bại quân Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế, thống nhất Việt Nam sau nhiều thế kỷ nội chiến.
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Triều đại của ông được đánh dấu bằng việc chính thức sử dụng quốc hiệu Việt Nam với cương thổ rộng lớn nhất cho đến thời đó, kéo dài từ biên giới với Trung Quốc tới vịnh Thái Lan; thay thế các cải cách có xu hướng tự do của triều Tây Sơn bằng nền giáo dục và điều hành xã hội theo Nho giáo; định đô tại Phú Xuân.
Ngoài ra, ông còn là người mở đường cho các ảnh hưởng của người Pháp ở Việt Nam qua việc mời họ giúp xây dựng các thành trì lớn, huấn luyện quân đội và khoan thứ cho việc truyền đạo Cơ đốc. Dưới triều đại của ông, Việt Nam trở thành một thế lực quân sự hùng mạnh ở Đông Dương, cùng Xiêm La phân chia ảnh hưởng đối với Chân Lạp.
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Hoàng tử Cảnh, con trai vua Gia Long. (Ảnh: sonjymec.com)
Vua Minh Mạng (1791-1841)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Minh Mạng. (Ảnh: sonjymec.com)
Vua Minh Mạng, cũng gọi là Minh Mệnh (25/5/ 1791 – 20/1/1841), tức Nguyễn Thánh Tổ là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn. Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán, Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông cho lập thêm Nội các và Cơ mật viện ở kinh đô Huế, bãi bỏ chức tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi.
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Dưới thời ông, quân đội nhà Nguyễn được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh. Minh Mạng còn cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc kỳ và Nam kỳ.
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Ấn của vua Minh Mạng. (Ảnh: sonjymec.com)
Là người tinh thông Nho học và sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến việc học tập và củng cố thi cử, năm 1822 ông mở lại các kì thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài. Do không có thiện cảm với phương Tây, Minh Mạng đã khước từ mọi tiếp xúc với họ. Ngoài ra, vì Minh Mạng không thích đạo Cơ Đốc của phương Tây nên ông đã ra chiếu cấm đạo và tàn sát hàng loạt tín đồ Cơ Đốc giáo.
Vua Thiệu Trị (1807-1847)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Thiệu Trị. (Ảnh: sonjymec.com)
Vua Thiệu Trị là vị Hoàng đế thứ ba của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1841 đến 1847. Ông có tên húy là Nguyễn Phúc Miên Tông, ngoài ra còn có tên là Nguyễn Phúc Tuyền và Dung. Ông là con trưởng của vua Minh Mạng và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa.
Vua Tự Đức (1829-1883)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Tự Đức. (Ảnh: sonjymec.com)
Hoàng đế Tự Đức (tên sinh thành Nguyễn Dực Tông) là vị Hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm hay còn có tên Nguyễn Phúc Thì. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883.
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Các bà vợ của vua Tự Đức. (Ảnh: sonjymec.com)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Các bà vợ của vua Tự Đức. (Ảnh: sonjymec.com)
Vua Hàm Nghi (1872-1943)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Hàm Nghi. (Ảnh: sonjymec.com)
Hoàng đế Hàm Nghi là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Nguyễn. Ông cùng với các vua chống Pháp Thành Thái, Duy Tân là ba vị vua yêu nước trong thời kỳ Pháp thuộc. Ông trị vì chỉ một năm (1884-1885).
Là em trai của vua Kiến Phúc, năm 1884 Hàm Nghi được các phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa lên ngôi ở tuổi 13. Sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại năm 1885, Tôn Thất Thuyết đưa ông ra ngoài và phát hịch Cần Vương chống thực dân Pháp.
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Đám cưới vua Hàm Nghi với một phụ nữ địa phương ở Algérie – 1904. (Ảnh: sonjymec.com)
Nhân danh ông, Tôn Thất Thuyết đã phát động phong trào Cần Vương, kêu gọi văn thân, nghĩa sĩ giúp vua, giúp nước. Phong trào này kéo dài đến năm 1888 thì Hàm Nghi bị bắt. Sau đó, ông bị đem đi lưu đày ở Alger (thủ đô xứ Algérie, một nước thuộc Bắc Phi). Ông đám cưới với một phụ nữ địa phương ở Algérie năm 1904. Ông qua đời tại đây năm 1943 vì bệnh ung thư dạ dày.
Vua Đồng Khánh (1864-1889)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Đồng Khánh. (Ảnh: sonjymec.com)
Đồng Khánh sinh ngày 19/2/1864 tại Huế. Ông là con trưởng của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh. Năm 1865, ông được vua Tự Đức nhận làm con nuôi và giao cho bà Thiện Phi Nguyễn Thị Cẩm chăm sóc, dạy bảo. Đồng Khánh là ông vua không chống Pháp. Sách của Trần Trọng Kim viết: “Vua Đồng Khánh tính tình hiền lành, hay trang sức và cũng muốn duy tân, ở rất được lòng người Pháp”. Vua Đồng Khánh ở ngôi được ba năm thì bệnh và mất vào ngày 28/1/1889. Khi đó ông 24 tuổi.
Vua Thành Thái (1879-1954)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Thành Thái trong triều phục. (Ảnh: sonjymec.com)
Vua Thành Thái tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Lân, còn có tên là Nguyễn Phúc Chiêu. Ông là con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Từ Minh Hoàng hậu (Phan Thị Điểu), sinh ngày 14/3/1879 tại Huế. Năm ông 4 tuổi, vua cha Dục Đức bị phế và chết trong tù. Đến nǎm được 9 tuổi, ông ngoại là Phan Đình Bình (làm quan Thượng thư bộ Hộ) bị vua Đồng Khánh bắt giam rồi bỏ cho chết, vì mắng Đồng Khánh nịnh bợ và thân Pháp khi Đồng Khánh ra Quảng Bình dụ vua Hàm Nghi đầu hàng. Bửu Lân lại phải cùng mẹ Từ Minh lên kinh đô, chịu sự quản thúc, sống trong cảnh thiếu thốn.
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Anh em vua Thành Thái (từ trái sang phải, 3 hoàng tử: Bửu Lũy, Bửu Trang và Bửu Liêm. Các em của Vua Thành Thái (1891). (Ảnh: sonjymec.com)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Các anh em của vua Thành Thái và các ông thầy (phụ đạo). (Ảnh: sonjymec.com)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Hai người vợ của vua Thành Thái. (Ảnh: sonjymec.com)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Thành Thái và em tới thăm quan toàn quyền (1900). (Ảnh: sonjymec.com)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Thành Thái và em tới thăm quan toàn quyền (1900). (Ảnh: sonjymec.com)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Thành Thái trong chuyến thăm cuối cùng của ông đến Huế vào năm 1953. (Ảnh: sonjymec.com)
Vua Duy Tân (1900 – 1945)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Duy Tân. (Ảnh: Wikipedia)
 
Vua Duy Tân là vị vua thứ 11 của nhà Nguyễn (ở ngôi từ 1907 tới 1916), sau vua Thành Thái. Khi vua cha bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông bất hợp tác với Pháp và bí mật liên lạc với các lãnh tụ khởi nghĩa Việt Nam. Vì lý do này, ông bị người Pháp lưu đày trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương.
Vua Khải Định (1885 – 1925)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Khải Định. (Ảnh: Pinterest)
Vua Khải Định hay Nguyễn Hoằng Tông là vị Hoàng đế thứ 12 nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ 1916 đến 1925. Ông có tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, còn có tên là Nguyễn Phúc Tuấn, con trưởng của vua Đồng Khánh và bà Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu Dương Thị Thục.
Vua Bảo Đại (1913 – 1997)
vua cuối cùng, Việt Nam, nhà Nguyễn,
Vua Bảo Đại. (Ảnh: Pinterest)
Bảo Đại là vị Hoàng đế thứ 13 và cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Tên húy của ông là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, còn có tên là Nguyễn Phúc Thiển , tục danh “mệ Vững” là con của vua Khải Định và Từ Cung Hoàng thái hậu. Đúng ra “Bảo Đại” chỉ là niên hiệu nhà vua nhưng tục lệ vua nhà Nguyễn chỉ giữ một niên hiệu nên nay thường dùng như là tên nhà vua.
TinhHoa tổng hợp

ĐỀ XUẤT CỦA NHÀ VĂN SƯƠNG NGUYỆT MINH VỀ BẢN CAM KẾT THẦN THÁNH


4. Bản cam kết sẽ xuất hiện lúc nào cần xuất hiện, sau đó lại quay về trú ẩn, à không, "về gác đầu lên tay nằm khểnh" trong két bạc.
5. Đến một lúc nào đó, Bản cam kết sẽ được các nhà từ thiện đấu giá lấy tiền xây cầu cho học sinh không phảu đu dây, không phải chui vào phao ni lông vượt sông đến trường mùa mưa lũ.
6. Rất có thể nó trở thành báu vật gia bảo của một gia đình nào đó, hoặc sẽ trở thành hiện vật vô giá của Nhà truyền thống xã Đồng Tâm. Không! Nó sẽ được lưu giữ và trưng bày ở Bảo tàng Hà Nội.
7. Cuối cùng, Bản cam kết này... hóa đá. Nó sẽ được khắc bia và dựng ở đầu thôn Hoành, xã Đồng Tâm... thay cho những chướng ngại vật dựng lên ở đường làng ngổn ngang như chiến lũy Công xã Paris.
ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận