Thứ Năm, 22 tháng 12, 2016

Cái chết của ông Hoàng đế Đỏ (phần 2)



  Báo chí

Cái chết của ông Hoàng đế Đỏ (phần 1)

Hai ngày sau khi qua đời, Mao nằm trong Đại hội đường Nhân dân. Các bác sĩ của ông ấy đã cố gắng xử lý xác chết bằng hóa chất trước đó. Ảnh: GEO Epoche.
Hai ngày sau khi qua đời, Mao nằm trong Đại hội đường Nhân dân. Các bác sĩ của ông ấy đã cố gắng xử lý xác chết bằng hóa chất trước đó. Ảnh: GEO Epoche.
1976: Mao qua đời
Cay Rademacher
Phan Ba dịch
Mao nằm chờ chết trong mùa hè năm 1976, – và các cán bộ chóp bu trong ĐCS chuẩn bị cho trận tranh giành quyền lực sắp tới. Khi cuối cùng rồi thời điểm đó cũng đến, một người đàn ông chớp lấy thời cơ, người mà trước đó vài tháng đã không có ai nghĩ đến.
Trung Nam Hải là một khu phố đầy bí ẩn ở rìa phía Tây của “Cấm Thành” trong Bắc Kinh. Trước đây, đó là khu vườn hoa của các hoàng đế, một công viên với hai hồ nước – hồ Trung, Trung Hải, và hồ Nam, Nam Hải. Cây thông và bách cho bóng mát, nằm cạnh hồ là những ngôi nhà lộng lẫy từ thời của hoàng đế Càn Long với mái ngói xám và những sân trong nhiều bóng mát: ví dụ như “nhà màn hương” hay “đại sảnh của hồ yên tịnh”. Ở giữa đó là những công trình xây dựng hiện đại – nhà ở cho người phục vụ hay văn phòng, trại lính, hai nhà tắm.
Một bức tường màu đỏ son che chắn khu Trung Nam Hải trước những cái nhìn tò mò. Đứng gác ở cổng là lính của đơn vị tinh nhuệ 8341, và ngay cả trong những đường phố xung quanh đấy cũng có lực lượng an ninh trang bị vũ khí đi tuần.
Sống ở đây là người đàn ông có nhiều quyền lực nhất của Trái Đất, thống trị gần một tỉ con người và là thần tượng cho hàng triệu người ở khắp nơi trên thế giới: Mao Trạch Đông.
Nhưng đã từ lâu, Mao không còn để ý tới nét đẹp của Trung Nam Hải nữa. Vào cái ngày thứ tư 8 tháng 9 năm 1976 đấy, ông ấy nằm bất lực trong “Nhà 202”, một khối nhà hiện đại bên cạnh bể tắm, không còn khả năng tự ăn uống và nói cho rõ ràng.
Đó là một ngày hè nóng nực. Mãi cho tới bây giờ, ngay trước nửa đêm, trời mới dịu mát đi một chút. Bác sĩ riêng Lý Chí Tuy được gọi tới chỗ Mao. Các bác sĩ trực đã tiêm cho bệnh nhân một loại thuốc hỗ trợ tuần hoàn máu, nhưng họ không còn có thể làm ổn định nhịp tim và huyết áp của ông ấy được nữa.
Tiếng kêu rì rì của máy hô hấp vang lên trong căn phòng. Hầu như không còn có thể nhận ra được gương mặt của Mao ở phía sau chiếc mặt nạ thở ô xy đã bị trượt ra một chút được nữa. Quan chức cao cấp trong Đảng đứng canh bên cạnh bác sĩ và y tá. Một người kéo riêng bác sĩ Lý ra một bên và thì thầm: “Anh còn có thể làm gì được nữa không?”
Sau khi im lặng một lúc lâu, người bác sĩ riêng trả lời yếu ớt với “chúng tôi đã làm tất cả những gì chúng tôi có thể làm”. Dù trong bất cứ trường hợp nào, ông ấy cũng không muốn nói ra cái từ “chết”, mặc dù ông ấy biết rõ là Mao chỉ còn sống thêm được vài phút ít ỏi nữa thôi.
Những gì sẽ xảy ra sau đó, với các bác sĩ, với các quan chức cao cấp, với Đảng, với cả vương quốc khổng lồ, là hoàn toàn không thể biết được – mặc dù bóng tối của cái chết đã lơ lững trên ĐCS Trung Quốc từ đầu năm: đúng tám tháng trước đó, một người sắp chết khác của Trung Quốc đã rung chuông báo hiệu cho “năm bước ngoặc” lịch sử của Trung Quốc.
THỨ NĂM, NGÀY 8 THÁNG 1 NĂM 1976: trong một gian phòng tranh sáng tranh tối, được trang bị sơ sài trong Bệnh viện Bắc Kinh 305 có một người đàn ông già, mảnh khảnh nằm từ hai năm nay. Màng xám kéo qua trên mái tóc dầy màu đen, cơ thể chỉ còn xương với da. Cuộc đấu tranh kéo dài chống ung thư bọng đái, ung thư ruột và ung thư phổi đã chấm dứt: Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Quốc từ 26 năm nay, đã qua đời.
Chu tương ứng với hình ảnh lý tưởng của một người Trung Quốc có văn hóa cho tới mức ở Phương Tây, người ta không bắt buộc phải cảm nhận ông ấy là một người Cộng sản giáo điều. Ông ấy ăn nói khéo léo, có sức thu hút, thông thái, được đào tạo ở châu Âu, chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng ở đó. Ngay đến tên của ông ấy dường như cũng phù hợp – “Ân Lai” có nghĩa là “thịnh vượng xuất phát từ ông ấy”.
Mặc dù lâu nay Chu Ân Lai đã không còn có thể gây ảnh hưởng đến diễn tiến của sự việc được nữa, ông ấy vẫn là người được người dân Trung Quốc yêu mến. Ông ấy là người đã cắt xén những ý tưởng quá khích–không tưởng của Mao xuống một mức thực tế và mỗi ngày đều tận tâm làm việc nhiều đến mức đáng ngạc nhiên – con người của sự chừng mực. Sự chấm dứt của ông ấy có khiến cho Chủ nghĩa Cộng sản ở Trung Quốc trở nên cực đoan nữa hay không?
Một tuần sau đó, hàng trăm ngàn người đã đứng xếp hàng chào khi chiếc xe chở quan tài lăn đi trên đại lộ Trường An đến nghĩa trang Bát Bảo Sơn dành cho những người nổi tiếng. Có thể nhận thấy họ đau buồn thật sự, điều lại càng tăng lên sau khi ý muốn cuối cùng của Chu được loan truyền đi: không đưa tro của ông ấy vào trong một cái lăng lộng lẫy mà hãy phân tán ra tất cả các tỉnh.
Trong các chế độ độc tài, tang lễ nhà nước là những cái máy để đo địa chấn của quyền lực. Tất cả vẫn sẽ như cũ, hay sẽ có động đất chính trị? Vì thế, việc ai được phép khiêng quan tài của người quá cố hay nhận tổ chức lễ tang là một việc quan trọng – và trước hết là việc ai đọc bài diễn văn chia buồn. Vào cái ngày đấy, Chu Ân Lai được vinh danh bởi người học trò năng nổ nhất và có tài nhất của mình: Đặng Tiểu Bình.
Người đàn ông nhỏ con, gần 72 tuổi này đã trở thành tổng bí thư của ĐCS năm 1956, một quan chức đầy quyền lực. Quá nhiều quyền lực, như Mao cảm thấy chẳng bao lâu sau đó. Vào đầu cuộc Cách mạng Văn hóa, Đặng bị đày về nông thôn.
Một người đàn ông mới bước lên trong những lúc lộn xộn của cuộc Cách mạng Văn hóa – cao tới mức chẳng bao lâu sau đó ông ấy được bổ nhiệm làm người kế tục Mao trong Đảng: nguyên soái Lâm Bưu. Con người gầy gò từ giới quân đội này, sinh năm 1907, là một cựu chiến binh của cuộc Vạn Lý Trường Chinh và suốt đời là một người đi theo Mao. Thêm vào đó, ông ấy có uy tín lớn trong Quân đội Giải phóng Nhân dân, thể chế duy nhất trong đất nước này mà vào thời cao điểm của cuộc Cách mạng Văn hóa vẫn còn tương đối không bị ảnh hưởng đến.
Thế nhưng ngôi sao của Lâm chìm xuống nhanh hơn là ngôi sao của Đặng: năm 1970, viên tướng hy vọng rằng Mao sẽ nhận chức vụ chủ tịch nước đang bị bỏ trống. Nếu thế thì trên bình diện nhà nước, Lâm cũng sẽ được bước lên làm người kế nghiệp Mao. Thế nhưng Lâm đã thất vọng lớn, khi người Đại Chủ tịch để trống chức vụ chủ tịch nước: viên nguyên soái vẫn còn là Phó Thủ tướng thứ nhất. Một cấp bậc hàng đầu – nhưng vẫn ở sau thủ tướng Chu Ân Lai.
Những gì rồi xảy ra trong chín tháng đầu tiên của năm 1971 cho tới ngày nay vẫn còn bí ẩn. Chính Mao cũng gọi cách xử lý của ông ấy sau này là “ném đá, pha cát và đào góc tường”.
Ý muốn nói: lật đổ Lâm.
Rõ ràng là đối với Mao, Lâm cũng đã trở nên có quá nhiều ảnh hưởng. Ông ấy bắt buộc các sĩ quan cao cấp theo Lâm phải tự kiểm điểm công khai và qua đó chấm dứt con đường sự nghiệp của họ – những “hòn đá” mà Mao ném. Ông thay thế những người theo Lâm trong các ủy ban quân đội quan trọng bằng người mới – “pha thêm cát”. “Góc tường” cuối cùng chính là quyền chỉ huy quân khu Bắc Kinh, cái mà bây giờ Mao đưa cho những người trung thành.
Lâm Bưu, ngày càng bị cô lập trong thời gian dài của những tuần đấy, hoảng hốt chống lại sự chấm dứt của ông ấy, cả về mặt chính trị lẫn thể xác. Có lẽ là ông ấy đã tìm những người đồng tình trong số giới quan chức cao cấp để mưu lật đổ Mao. Cuối cùng, có lẽ là con trai của ông ấy đã đưa ra kế hoạch ám sát Mao trong tháng 9 năm 1971. Thế nhưng vụ mưu sát bị phản bội – có thể, theo như viên bác sĩ riêng của Mao tường thuật, là vì con gái của Lâm Bưu vô tình nói lộ ra những chi tiết quyết định.
Vào ngày 13 tháng 9 năm 1971 – ít nhất là theo phiên bản chính thức – Lâm Bưu cùng gia đình và một vài người trung thành bỏ trốn, bị ô tô cảnh sát đuổi theo, từ trung tâm Bắc Kinh ra đến một sân bay, nơi có một chiếc máy bay phản lực Trident chờ sẵn. Chiếc máy bay cất cánh và bay về hướng Liên bang Xô viết, nơi mà Lâm muốn nương náu.
Nhưng chỉ vài giờ sau đó, chiếc máy bay phản lực vỡ tan ra trên thảo nguyên Mông Cổ, không một ai sống sót. Có thể là trong lúc vội vã, chiếc máy bay đã đổ không đủ nguyên liệu; hay máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã đuổi theo nó qua cho tới nước láng giềng và đã bắn hạ nó ở đó. Hay cũng có thể là hoàn toàn khác đi.
Thế nào đi nữa thì Mao đã lại thủ tiêu thêm một người có thể kế nghiệp và cũng là đối thủ – và bây giờ nhớ lại công lao của Đặng Tiểu Bình. Năm 1973, Đặng và nhiều người theo ông ấy được phục hồi, do có sự hối thúc của Chu Ân Lai. Năm 1976, hơn phân nửa của tất cả các các bộ Đảng bị xua đuổi đi trong cuộc Cách mạng Văn hóa lại giữ chức vụ cũ của họ, trong khi những người chống họ, “Hồng Vệ Binh”, được gửi về nông thôn: một cuộc đi đày được ngụy trang như lần ban thưởng.
Thế nhưng Mao vẫn chưa xong. Chỉ một tuần sau lễ tang cho Chu Ân Lai, người ta đã biết rõ là Đặng sẽ không thể thắng thế trong Đảng.
THỨ TƯ, 21 THÁNG 1. Bộ Chính trị gặp nhau trong một gian sảnh họp của Đại Hội đường Nhân dân. Bầu không khí mang đầy tính nghi ngờ và gây gỗ. Người ta cần phải ấn định ai là người kế nhiệm Chu Ân Lai bây giờ? Đó là ai đi nữa thì người đấy sẽ có nhiều cơ hội tốt để theo Mao trong chức chủ tịch Đảng và qua đó sẽ kiểm soát được Trung Quốc nhiều năm trời.
Nhưng ai hôm nay thua cuộc thì con đường sự nghiệp chính trị của người đó sẽ chấm dứt – nếu như không có gì còn tệ hại hơn nữa sẽ đe dọa người đó.
Phe cánh tả quanh Giang Thanh vợ của Mao, tất cả đều có được quyền lực trong thời của cuộc Cách mạng Văn hóa, kiên quyết chống lại yêu cầu nắm giữ chức vụ thủ tướng của Đặng. Đặng muốn hiện đại hóa nền nông nghiệp. Thêm vào đó là cho người nông dân có nhiều tự do về kinh tế hơn. Ông ấy muốn hỗ trợ cho khoa học và công nghệ tốt hơn, mở rộng quốc phòng. Phe cánh tả ngược lại chống các cải cách kinh tế. Cách mạng liên tục và đấu tranh giai cấp – đó chính là những nguyên tắc chỉ đạo cho chính sách của họ.
Ứng cử viên của họ là Vương Hồng Văn, người đã theo Giang từ sớm và nhờ bà ấy mà tiến bước nhanh chóng trên con đường sự nghiệp trong Đảng.
Mao đích thân can thiệp. Ông cho chuyển một thông điệp, cũng giống như một mệnh lệnh: ứng cử viên của ông ấy là Hoa Quốc Phong. Một sự ngạc nhiên, vì con người xuất phát từ tỉnh này, người đã leo lên đến chức Phó Thủ tướng, không đứng trên phiếu bầu của ai cả.
Hoa độ 55 tuổi và thuộc “thế hệ 38” – thế hệ chịu nhiều ảnh hưởng của cuộc kháng chiến chống người Nhật xâm lược và thời đấy đã tham gia phong trào cách mạng. May mắn của Hoa là ông ấy đã đảm nhiệm tỉnh có Thiều Sơn nơi sinh của Mao cũng nằm ở trong đó khi còn là một bí thư trẻ tuổi.
Trong thời gian của cuộc Cách mạng Văn hóa, ông ấy đã mở rộng ngôi nhà là nơi sinh của Mao ra thành một điểm hành hương cho Hồng Vệ Binh và lập một nhà máy sản xuất hàng năm 30 triệu cái khuy đeo có hình Mao. Năm 1973, Hoa vào Bộ Chính trị, hai năm sau đó, ông ấy trở thành Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ An ninh Công cộng – và qua đó kiểm soát công an.
Phần lớn các nhà quan sát nhìn ông như một ứng viên thỏa hiệp, người đối với các nhà cải cách quanh Đặng Tiểu Bình cũng như đối với phe cánh tả cực đoan là đều có thể chấp nhận được.
Mao phô diễn thêm một lần nữa quyền lực của mình, bằng cách lựa một ứng cử viên không có phe phái mạnh ở sau lưng. Thông điệp: Đại Chủ tịch vẫn còn cầm lái và quyết định nhân sự.
(Còn tiếp)



Thân thể suy tàn của của nhà độc tài không còn có thể giữ kín được nữa: Khi Mao tiếp Thủ tướng Pakistan Bhutto vào ngày 27 tháng 5 năm 1976, ông ấy đã bị liệt. Ảnh: GEO Epoche.
Thân thể suy tàn của của nhà độc tài không còn có thể giữ kín được nữa: Khi Mao tiếp Thủ tướng Pakistan Bhutto vào ngày 27 tháng 5 năm 1976, ông ấy đã bị liệt. Ảnh: GEO Epoche.

Cay Rademacher
Phan Ba dịch
Thứ Bảy, ngày 31 tháng 1, Trung Nam Hải: báo động cho quân đoàn 8341. Lửa cháy và tiếng súng bắn trước nhà của Chủ tịch Mao! Những người lính cầm súng lao vào, căng thẳng, rồi báo động được bãi bỏ: năm mới của Trung Quốc sắp đến, và một vài người phục vụ cho Mao muốn làm cho ông ấy vui bằng cách đốt pháo – nhưng lại quên báo cáo trước cho lính canh nên những người này đã lo sợ một vụ mưu sát. Sau khi mọi việc đã rõ, những người lính và nhân viên phục vụ đã chạy tụ tập đến đấy lại lui về.
Thế nhưng bây giờ có một tin đồn xấu được lan truyền đi, lúc đầu là trong Trung Nam Hải, rồi đến trên đường phố Bắc Kinh: đã từ lâu, Mao không còn đánh giá cao Chu Ân Lai nữa và đã ăn mừng cái chết của ông ấy bằng cách đốt pháo. Năm con rồng bắt đầu trong một bầu không khí nghi kỵ.
Bây giờ, Mao hầu như không còn ở trong ngôi biệt thự của ông ấy nữa, mà ở trong một nhà tắm. Nhà đấy trước đây đã được xây cho tất cả các cán bộ cao cấp trong Trung Nam Hải, thế nhưng ngay từ những năm 1950, không còn ai trong số họ dám quấy rối những đường bơi của nhà yêu chuộng bơi lội Mao nữa. Thời gian sau này, các gian phòng ở, tiếp khách và làm việc được xây thêm vào, thì thế nên ngôi nhà tắm đấy thật ra là ngôi nhà tư nhân của Chủ tịch.
Mao trong cuộc sống cá nhân được che chắn hết sức kỹ lưỡng của ông ấy là một sự pha trộn giữa nhà quê và học giả, nhà chiến thuật lắm mưu mẹo và người lập dị kỳ lạ. Ông ấy có nhiều điểm chung với những nhà cai trị của các triều đại hoàng đế đã suy tàn từ lâu hơn là với những tổng bí thư Đảng tầm thường của phần lớn các quốc gia xã hội chủ nghĩa khác.
Một người như vậy không cần phải tuân theo một lịch hẹn nào cả. Mao làm việc, ăn và ngủ tùy theo ý mình, nhân viên của ông ấy đã quen với việc nửa đêm bị gọi vào chỗ ông ấy – hay gọi đến điểm tận cùng của Trung Quốc, vì viên Chủ tịch hay thích tự phát đi xuyên qua đất nước trong một đoàn tàu đặc biệt, khiến cho các thư ký, nhân viên phục vụ, người chăm sóc sức khỏe và cảnh sát an ninh của ông ấy rối loạn cả lên.
Ông ấy thích các món ăn được xào nấu với nhiều dầu, trà đậm, thuốc lá “555” của Anh. Xem phim võ hiệp và các phim khác từ Đài Loan và Hongkong trong một gian sảnh được xây riêng cho việc này, những cuốn phim mà bị cơ quan tuyên truyền của Đảng công khai nguyền rủa.
Phòng làm việc với bàn viết, ghế và giá sách chỉ được dùng để đặt hình ảnh lên, vì ông hoàng đế đỏ thích làm việc nhất là trên chiếc giường khổng lồ của ông ấy hay ở cạnh bể bơi, nơi ông ấy đọc không biết bao nhiêu là tài liệu và bình luận bằng những dòng ghi chú ngắn, thỉnh thoảng viết những bài văn dài hay cùng với những người thân cận phác thảo các chiến dịch mới.
Thường trong lúc đó ông ấy không mặc gì nhiều hơn là một chiếc áo choàng tắm. Ông chỉ mặc bộ complê của mình trong những dịp duyệt binh, đón tiếp chính thức khách nhà nước hay ở các sự kiện chính thức khác. Cận vệ phải mang giày trước cho ông.
Có không biết bao nhiêu là “công nhân văn hóa” mà ông ấy đã “thư giãn” với họ trong những năm dài. Thiếp hầu của ông ấy hầu hết đều là những cô gái trẻ ít học từ nông thôn, những người được cơ quan an ninh điều tra về mặt chính trị và rồi dẫn đến cho ông. Họ là những người phục vụ trong chiếc tàu hỏa xa xỉ mà Mao đi xuyên qua Trung Quốc với nó, hay những người đi theo một dàn nhạc, những người mời Đại Chủ tịch khiêu vũ cho tới chừng nào mà ông ấy chọn một người trong số họ tại các buổi hòa nhạc bí mật thường được tổ chức cho các cán bộ cao cấp. Ngay trong Đại hội đường Nhân dân, nơi có sẵn nhiều phòng dành cho Chủ tịch, cũng có một doanh trại dành cho yêu đương.
Thế nhưng bắt đầu từ những năm 1970, sự thèm muốn của Mao dường như đã được thỏa mãn. Không còn có thiếp hầu mới nữa, bù vào đấy là ba người phụ nữ đồng hành, làm việc cho ông ấy như là nhân viên phục vụ, thư ký và y tá, và qua đó ngày càng kiểm soát ông ấy nhiều hơn.
Một người trong bọn họ, Trương Ngọc Phượng, gặp ông lần đầu tiên vào đầu những năm 1960, trở thành người thân cận của ông ấy. Có lần Hoa Quốc Phong muốn gặp viên Chủ tịch, nhưng để làm việc đấy thì phải đến gặp Trương Ngọc Phượng – người đang ngủ. Không ai dám đánh thức bà ấy dậy. Sau hai giờ đồng hồ, người đàn ông nhiều quyền lực thứ nhì của Trung Quốc lại phải quay về, hoài công.
Thế nhưng ngay cả khi các cô vợ bé của Mao cũng đóng những vai âm mưu mà ngày xưa thuộc về các thái giám trong triều đình – viên Chủ tịch không phải là một công cụ nhu nhược. Cả trong áo choàng tắm ở cạnh bể bơi, ông ấy thỉnh thoảng vẫn có tác động mạnh đến nhiều người khách lần đầu gặp ông ấy.
Nhà độc tài Trung Quốc là một bậc thầy về ngôn ngữ, ông ấy viết thơ, nói loại tiếng địa phương Hồ Nam có nhịp điệu và thích hình ảnh dễ hiểu: “cọp giấy” có lẽ là sáng tạo ngôn ngữ được biết đến nhiều nhất trên thế giới của ông ấy.
Ông ấy là một người đọc say mê văn học Phương Tây và Phương Đông, đánh giá cao triết học và trước hết là lịch sử. Trong số các hoàng đế Trung Quốc, ông ấy khâm phục nhất là những người bị người dân kinh sợ vì sự tàn nhẫn của họ, nhưng về chính trị thì lại thành công nhiều nhất – ví dụ như hoàng đế Tần Thủy Hoàng (thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên), người đã cho xử tử hai triệu người và trưng bày xác chết không toàn vẹn của nạn nhân, để cho những người muốn nổi loạn phải khiếp sợ – nhưng cũng là người thống nhất vương quốc và xây Vạn Lý Trường Thành.
Mao quyết định tất cả mọi việc ở xung quanh ông ấy, ngay cả về những lần mổ mà có những cán bộ cao cấp nào đó cần phải có – thường ông ấy không cho phép, vì ông ấy không tin vào y học hiện đại.
Chu Ân Lai, người mà ngay từ 1972 đã được chẩn đoán là mắc bệnh ung thư, phải chờ tới hai năm, cho tới khi vợ của ông ấy cuối cùng cũng gây ảnh hưởng đến một vợ bé của Mao nhiều cho tới mức bà ấy có thể xin ông Chủ tịch cho phép mổ để kéo dài mạng sống.
Thế nhưng bây giờ chính Mao lại ốm. Tinh thần tỉnh táo, vẫn còn biết mình có quyền lực và đa nghi, nhưng nằm trong một thân thể bây giờ suy nhược. Ngay từ thời trước, viên Đại Chủ tịch đã có vấn đề về sức khỏe, những vấn đề mà người bác sĩ riêng của ông ấy có thể kiểm soát được – hay cam chịu chấp nhận.
Từ nhiều thập niên nay, Mao mắc chứng khó ngủ và nghiện thuốc ngủ. Thỉnh thoảng ông ấy bị nhiễm bệnh giới tính từ một trong những người vợ bé của ông ấy. Cũng như nhiều người nông dân, ông ấy không đánh răng mà súc miệng mỗi sáng với trà xanh và rồi nhai lá trà sau đó. Hậu quả là một lớp cáu dầy màu xanh cũng như bệnh nha chu và sưng mủ.
“Con cọp cũng không bao giờ đánh răng nhưng răng chúng vẫn sắc bén” là lý lẽ của Mao để chống lại kem đánh răng và bàn chải. Những người sửa hình phải chỉnh lại toàn bộ những tấm hình công khai của Mao mà trên đó người ra có thể nhận ra được những cái răng đã bị nhuộm màu của ông ấy. Và một cửa hàng dược phẩm được chọn ra đặc biệt ở Bắc Kinh phải cung cấp những loại thuốc ngày càng kỳ lạ hơn.
Năm 1972, người bạo chúa bỏ hút thuốc – quá muộn cho lá phổi đã bị phá hủy của ông ấy. Có ba bong bóng khí hình thành ở bên lá phổi trái, cho nên ông ấy chỉ còn có thể thở tương đối không khó nhọc lắm khi nằm nghiên sang trái và nén các bong bóng khí lại qua trọng lượng cơ thể của ông ấy. Ông ấy bơi lần cuối cùng là trong năm 1974 – ông ấy yếu, bị tê liệt cuống họng một phần, bị uống nước và phải để cho cận vệ kéo lên khỏi nước chỉ sau vài giây.
Ngay trước đấy, các bác sĩ thần kinh đã chẩn đoán bệnh “xơ cột bên teo cơ” ở ông ấy: một bệnh dẫn đến việc các tế bào thần kinh vận động trong tủy cột sống bị phá hủy và qua đó dần đến tê liệt dần dần.
Các bác sĩ cho Mao được hai năm nữa – nhưng không nói cho ông ấy biết, vì theo các truyền thống chữa bệnh ở Trung Quốc, viễn cảnh tuyệt vọng không được thông báo cho bệnh nhân biết.
(Còn tiếp)


Cái chết của ông Hoàng đế Đỏ (phần 3)


Cay Rademacher
Phan Ba dịch
CHỦ NHẬT, NGÀY 4 THÁNG 4, Bắc Kinh, Thiên An Môn. Đấy là đêm trước của lễ Thanh Minh, ngày tưởng nhớ người chết của Trung Quốc. Từ giữa tháng 3, sinh viên đã tụ tập lại ở đây, trên “Quảng trường Thiên An Môn” trước cột đá ở giữa tưởng niệm những người anh hùng của cuộc Cách mạng Cộng sản. Ở mặt trước của cột có khắc một câu nói của Mao, ở mặt sau là một bài văn của Chu Ân Lai, được phỏng theo nét chữ viết tay của họ, đồ sộ và được mạ vàng.

"Người lãnh tụ và người thầy vĩ đại" sống mãi, tờ "Nhân dân Nhật báo" đăng tin một ngày sau khi Mao qua đời. Từ "chết" được tránh đi trong dòng tít. Ngay sau đó, hàng trăm ngàn người đã đi ngang qua xác chết trong Đại hội đường Nhân dân. Ảnh: Geo Epoche.
“Người lãnh tụ và người thầy vĩ đại” sống mãi, tờ “Nhân dân Nhật báo” đăng tin một ngày sau khi Mao qua đời. Từ “chết” được tránh đi trong dòng tít. Ngay sau đó, hàng trăm ngàn người đã đi ngang qua xác chết trong Đại hội đường Nhân dân. Ảnh: Geo Epoche.

Các sinh viên tưởng nhớ Chu Ân Lai. Thế nhưng cuộc hội họp này khác với những cuộc diễu hành của các bộ đồng phục trong thời Cách mạng Văn hóa. Nó tự phát và không có mục tiêu thật sự. Mỗi ngày càng có nhiều người đến trên quảng trường.
Vào tối của ngày 4 tháng 4, cuối cùng rồi thì không thể không nhìn thấy đám đông đó được nữa. Quanh cái cột đá và từ đó cho tới Cổng Thiên An Môn trong tường của Cấm Thành,  có những vòng hoa phúng điếu nằm cao tới mười mét, được kết lại từ giấy lụa, cũng như hoa cúc. Tranh cổ động, áp phích và cờ vươn cao lên như những chiếc buồm trên biển người biểu tình. Có những người hát, trích dẫn thơ. “Chu Ân Lai hãy tỉnh dậy, hãy báo động quân đội, cảnh sát và nhân dân, để bảo vệ hiến pháp!” được viết trên một tấm áp phích.
Thật sự là quân đội và cảnh sát đã được báo động – nhưng khác với sự tưởng tượng của người dân.
Trong đêm rạng sáng ngày 5 tháng 5, theo lệnh của Bộ Chính trị, cảnh sát dọn sạch toàn bộ những vòng hoa chia buồn với 200 chiếc xe tải; Quảng trường Thiên An Môn vào sáng sớm trống vắng giống như chưa từng có một cuộc biểu tình nào ở đây.
Nhưng không được lâu.
Vì sự khiêu khích vào lúc đêm khuya khiến cho sinh viên tức giận, những người vào sáng sớm ngày 5 tháng 5 lại bước ra quảng trường. Cuộc phản đối nhanh chóng lan rộng, vào khoảng tám giờ đã có hơn 100.000 người biểu tình tụ họp lại – cho tới lúc đó là sự kiện lớn nhất không được tổ chức trước trong lịch sử của nước Cộng hòa Nhân dân.
Công nhân từ một xí nghiệp chế tạo máy đã rèn từ kim loại phế liệu một vòng hoa nặng 500 kí lô có đường kính sáu mét và chở nó trên xe đạp đi 15 kilômét xuyên qua thành phố đến Thiên An Môn.
Bây giờ, bầu không khí mang tính hung dữ. Năm chiếc xe cảnh sát bị đốt cháy, nhiều phái đoàn tiến đến Đại hội đường Nhân dân và các tòa nhà chính phủ khác, họ bị từ chối. Người biểu tình xô đẩy lính canh rớt mũ, có người ném đá. Nhưng vào khoảng 18 giờ, phần lớn đều rời quảng trường. Chỉ một vài người là muốn ở lại đấy cả đêm.
Trong lúc đó, một quan chức cao cấp của tổ chức ĐCS thành phố đã cảnh báo các sinh viên qua đài phát thanh, đừng để “những phần tử xấu” lôi kéo vào những cuộc “phá hoại phản cách mạng”. Một điềm xấu báo trước.
Sau khi màn đêm buông xuống, đèn pha bất thình lình chiếu sáng rực cả quảng trường. Vào khoảng 21 giờ, 10.000 dân quân, 3.000 cảnh sát và năm tiểu đoàn của lực lượng đặc biệt 8341 bắt đầu hành động với mọi bạo lực.
Những người biểu tình quanh cột đá bị bao vây, đánh đập và dẫn đi.
Vợ Mao đứng trong một căn phòng ở mặt tiền của Đại hội đường Nhân dân và quan sát cuộc biểu tình trên Thiên An Môn qua một cái ống nhòm.
Vào khoảng 23 giờ, bà ấy vội quay về với viên Chủ tịch và đắc thắng tường thuật lại về lần đập tan “nhóm nhỏ của những kẻ phản cách mạng”. Tiếp đó, bà ấy ăn mừng chiến thắng với một vài người trung thành, với rượu, đậu phọng và thịt. “Tôi sẽ cho rơi đầu”, bà ấy hứa hẹn. Có ít nhất là 388 người biểu tình bị bắt giam.
Vào ngày hôm sau đó, 30.000 dân quân chiếm giữ Thiên An Môn để ngăn chận những cuộc tụ tập mới. Trong tờ “Nhân dân Nhật báo” có một bài viết gay gắt chống lại những người biểu tình. Và trong Bộ Chính trị, Giang Thanh đắc thắng, vì cuối cùng bà ấy cũng thành công trong việc thuyết phục Mao tin rằng Đặng Tiểu Bình là người chịu trách nhiệm cho các sự kiện trong thời gian của Lễ Thanh Minh. Trong những ngày trước đó, người này cứ bình thản chịu đựng những đợt công kích một cách giận dữ từ Giang Thanh, trước khi đứng dậy với lời nhận xét chế giễu: “Tôi điếc rồi, tôi không hiểu gì cả.”
Vào ngày 7 tháng 4, Đặng bị tước mọi chức vụ trong Đảng. Ông ấy bay về Quảng Đông, nơi các quan chức địa phương trung thành với ông ấy và bảo vệ ông ấy không bị đánh đập. “Nếu một người bị đánh đến lần thứ nhì thì người đấy đã làm việc tốt đấy chứ”, là lời bình luận mang tính chế giễu của ông ấy.
Bây giờ, Hoa Quốc Phong được cử làm Thủ tướng và Phó Tổng bí thư Đảng – và qua đó là người được chỉ định để kế nghiệp Mao.
Thế nhưng tờ “Nhân dân Nhật báo” và đài truyền hình đưa ra bên cạnh ông ấy thêm một nhân vật thứ hai, trên thực tế là đồng cấp bậc: Giang Thanh. Thời của bà ấy dường như đang đến gần.
Phần lớn người Trung Quốc chỉ biết đến người vợ của Mao từ 1966, mặc dù bà ấy đã kết hôn với ông ấy từ tháng 11 năm 1938. Cả một thời gian dài, dường như bà ấy phải chịu đựng việc là mình không quan trọng. Giang Thanh sinh năm 1914, trong những năm 1930 đã là một nữ diễn viên sân khấu và điện ảnh hoạt động xã hội tích cực ở Sơn Đông và Thượng Hải, trước khi bà ấy đi theo những người Cộng sản và quen Mao.
Bộ Chính trị chống lại mối quan hệ với người Chủ tịch – cũng là vì theo truyền thống, diễn viên không được coi trọng trong Trung Quốc –, nhưng cuối cùng cũng đồng ý khi Mao hứa hẹn không cho bà ấy tham gia chính trị.
Giang Thanh sống trong xa xỉ. Trong những năm 1950, bà ấy còn được phép mua quần áo thanh lịch từ Phương Tây, thế nhưng cảm thấy nình thừa thãi, bị chồng bà cô lập ngày càng nhiều hơn, cảm thấy bị làm nhục bởi các áp phe của ông ấy, bị những người lính cận vệ của Mao chế diễu.
Cuộc Cách mạng Văn hóa đã làm thay đổi tất cả. Cuộc đấu tranh của Mao chống lại Đảng đã kết nối vợ của ông ấy lại với một vài người quá khích, những người từ các lý do ý thức hệ cũng như từ các lý do về tuổi tác mà nổi dậy chống lại tổ chức Đảng: những người trẻ muốn vứt bỏ giới cách mạng già.
Giang Thanh trở thành nữ thủ lĩnh của nhóm này, nhóm mà chẳng bao lâu sau đó đã kiểm soát được các giới truyền thông đại chúng và tổ chức Đảng trong Thượng Hải, nói chung là thành phố duy nhất có được một giới vô sản công nghiệp cách mạng.
Bây giờ, Giang Thanh hy vọng rằng sau cái chết của Mao, con đường đi lên hàng đầu đã mở ra cho mình. Trong lịch sử Trung Quốc có một vài ví dụ về những người cai trị là những người phụ nữ đầy quyền lực – tại sao điều đấy lại không thể dưới những người cộng sản?
Mặt khác, có phải là quyền lực của bà ấy chỉ dựa trên việc bà ấy là người vợ của Mao hay không? Với cái chết của ông ấy, liệu bà ấy cũng mất đi tính chính danh của mình hay không? Giang Thanh dao động giữa hy vọng cuồng loạn và sợ hãi vô cùng. Cái chết của Mao sẽ có ảnh hưởng đến số phận của tất cả các cán bộ cao cấp, nhưng không ai đặt cược cao như vợ của ông ấy.
Mao cũng biết điều đó. Trong những tháng này, ông ấy đọc cho người thân cận của ông ấy là Trương Ngọc Phượng nhiều lá thư ngắn, bởi vì ngoài bà ấy ra thì không ai có thể hiểu được những âm từ lắp bắp của ông ấy. Giang Thanh khéo léo sử dụng tình trạng đấy cho mục đích riêng của mình.
Ví dụ như bà ấy quả quyết rằng Mao đã nhờ Trương Ngọc Phượng đưa cho bà thông tin này: “Trong cuộc đấu tranh của mười năm qua, anh đã cố gắng đi đến đỉnh cao của cuộc cách mạng, nhưng anh không thành công. Nhưng em có thể đến được đỉnh cao.”
(Còn tiếp)
Cay Rademacher
Phan Ba dịch

Đọc những bài trước ở trang Trung Quốc của Mao Trạch Đông

Thời gian chuyên chế của ĐCS Trung Quốc sẽ không còn bao lâu nữa

Ông La Vũ, con trai của cố đại tướng Trung Quốc La Thụy Khanh, mới đây đã gửi bức thư thứ 14 cho Tập Cận Bình. Ông nhìn nhận rằng ông Tập chẳng phải kẻ ngốc, ông ấy nắm giữ trong tay con át chủ bài – Dân chủ.

La Vũ, cựu quan chức cấp cao của Trung Quốc. (Ảnh: Internet)
La Vũ, cựu quan chức cấp cao của Trung Quốc. (Ảnh: Internet)
La Vũ cho rằng, sau khi Tổng thống đắc cử Mỹ – ông Donald Trump lên nắm quyền, sẽ có những thay đổi to lớn đối với chính sách chuyên chế của ĐCS Trung Quốc, đồng thời thời gian chuyên chế của ĐCS Trung Quốc sẽ không còn nhiều nữa.

Ngày 19/12, trang Apple Daily đã đăng tải bài viết thứ 14 trong một loạt bài viết “Thương thảo với người em Tập Cận Bình” của ông La Vũ.

Ông La Vũ gọi ông Tập là ‘Tập lão đệ’, ông nói: “Dù ngày càng có nhiều người bạn cảm thấy thất vọng đối với những việc chú đã làm, nhưng đối với chú tôi vẫn ôm giữ hy vọng, hơn nữa không sợ phiền hà mà giải thích với những người bạn xung quanh đang oán trách chú.

Tôi luôn nói: ‘Tập có khó khăn, xung quanh chú ấy không có người. Toàn bộ hệ thống quan liêu đều đối đầu với chú ấy. Thử hỏi trong số các quan chức có ai không tham nào? Trong số các quan chức hỏi có mấy người thật lòng ủng hộ chú ấy?’”.

Ông La Vũ cho rằng cuộc chiến chống tham nhũng của ông Tập đã nói rõ ông Tập sẽ có hành động gì đó. Ông tin tưởng rằng Tập Cận Bình sẽ không phát triển theo chiều hướng chuyên chế, bởi vì chuyên chế là con đường chết, ông Tập là người thông minh, đương nhiên biết rõ chỉ có dân chủ mới là con đường sống.

Ông La Vũ chỉ ra những vấn đề phát sinh xung quanh ông Tập không phải là chuyện có thể giải quyết một sớm một chiều được, đại khái là nó đụng chạm đến lợi ích của rất nhiều người.

Ví như tại sao không mượn việc sửa lại án sai đối với vụ án của Nhiếp Thụ Bân mà chấm dứt tội ác mổ cướp nội tạng của những tù nhân lương tâm? Bởi vì cả thế giới đều đang công khai lên án tội ác phản nhân loại này.

Đối với “Bản thảo cải cách trưng cầu ý kiến của Đại hội 19″ mà giới truyền thông Hồng Kông đưa tin, chỉ ra lãnh đạo Tập đề xuất những nhân sĩ không đảng phái có thể tranh cử đảm nhiệm các chức vụ quan trọng như Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Chính trị Toàn quốc, Phó Thủ tướng, có thể đảm nhiệm người đứng đầu của Tòa án Tối cao, Viện Kiểm soát Tối cao, có thể đảm nhiệm chức Phó Chủ tịch Quân ủy trở lên. Ông La Vũ cho rằng đây có thể được coi là con át chủ bài của Tập Cận Bình – “Dân chủ”.

Tuy nhiên, ông đề nghị Tập Cận Bình chuyển đổi sang chế độ Tổng thống, hết thảy đảng phái đều loại khỏi hệ thống quốc gia. Sau Đại hội 19, Tập có thể đảm nhiệm hai kỳ Tổng thống. Như vậy có thể giải quyết các vấn đề của Trung Quốc, và Tập cũng sẽ trở thành ‘cha đẻ’ của thể chế dân chủ Trung Quốc, mãi mãi lưu danh sử sách.

Ông La Vũ nửa đùa nửa thật nói rằng bản thân ông vốn có đủ tư cách để đảm nhiệm chức vụ cao nhất trong quân đội không đảng phái, nhưng “quân đội quá đen tối, bản thân tôi không thể trở nên hiểm ác được, dù cho có thể hiểm ác, tôi cũng sẽ không hiểm ác bằng họ. Vậy nên chú vẫn gánh nặng đường xa này vẫn là chú tự gánh lấy vậy”.

Cuối cùng ông bày tỏ, cuộc điện đàm giữa ông Donald Trump và lãnh đạo Đài Loan bà Thái Anh Văn là một bước đột phá lớn. Dân chủ Hoa Kỳ sẽ có những biến đổi to lớn đối với chính sách chuyên chế của Trung Quốc, từ tỉ lệ nhập siêu thương mại trở về con số 0 đến trừng trị hết thảy các quan chức ĐCS Trung Quốc phạm phải tội ác chống lại loài người. Thời gian chuyên chế độc tài của ĐCS Trung Quốc sẽ không còn bao lâu nữa.

Theo Secretchina, tinhhoa.net

(Đa Chiều)

Vì sao người cổ đại rất coi trọng ngày Đông chí?

Đông chí là ngày mà thiên nhiên âm dương thay đổi đặc biệt. Trong ngày Đông chí này, dương khí bắt đầu được sinh ra, là thời khắc vô cùng quan trọng.

đồng chí, mùa đông, kính trời thủ đức, cổ nhân, Bài chọn lọc,
(Ảnh: Internet)
Ngày Đông chí thông thường rơi vào khoảng từ ngày 21 tới ngày 23/12 dương lịch. Vào ngày Đông chí này, tại Bắc bán cầu ban đêm dài nhất còn ban ngày lại ngắn nhất. Trong lý luận âm dương ngũ hành truyền thống, ánh sáng mặt trời chiếu nhiều và ngày kéo dài thì là dương, do đó Đông chí là tiết khí quan trọng nhằm tiêu giảm âm tăng trưởng dương, là khi dương khí bắt đầu dần dần thịnh vượng.
Ngày Đông chí còn là ngày đầu tiên của “sổ cửu hàn thiên” (quãng thời gian kéo dài chín chu kỳ, mỗi chu kỳ kéo dài chín ngày rét), thường gọi là “Đông chí giao cửu”. Thời xưa Đông chí được cho là khởi điểm để tính 24 tiết khí, cũng là khởi điểm để tính tuổi, do đó tiết Đông chí ngày xưa được cho là ngày lễ quan trọng chỉ đứng sau ngày Tết.
Hơn nữa trong thời khắc canh tân thay cũ đổi mới của vũ trụ, xuất hiện một tình huống đặc biệt: Sau ngày Đông chí là lễ Giáng sinh của phương Tây.
Lịch pháp Đông chí, thuận thiên ứng nhân
Kể từ khi khởi đầu của triều đại nhà Hạ, người ta coi Đông chí như là một điểm khởi đầu.
Bởi vì Đông chí và Hạ chí là mấu chốt chế định lịch pháp, lịch pháp chuẩn xác, thì có thể minh chứng hoàng đế nắm giữ thiên mệnh, có tư cách thuận thiên ứng nhân, cho nên cổ nhân đặc biệt coi trọng ngày Đông chí.
Xét từ tư liệu lịch sử, Đông chí còn là ngày lễ quan trọng thể hiện Thiên nhân hợp nhất, kính Thiên thuận Thiên: Trong “Thần Sỹ – Xuân Quan Châu Lễ” viết: “Ngày đông đến, kính Thiên Thần nhân quỷ. Ngày hạ tới, kính thổ Thần vạn vật”. Cũng chính là nói, đông tới tế Trời, hạ tới thì tế Đất.
Ban đầu “Đông chí” chưa được coi là ngày hội. Vào 3.000 năm trước, Chu Công lấy “Thổ Khuê pháp” để đo “Lạc ấp” (nay là thành phố Lạc Dương) chọn làm trung tâm của thiên hạ. Về sau ông lại dùng phương pháp này trắc được “nhật ảnh” ngày dài nhất và ngắn nhất, tức là ngày Đông chí và Hạ chí ngày nay, cũng đem ngày có nhật ảnh dài nhất làm ngày bắt đầu của năm.
Từ sau khi Hán Vũ Đế dùng nông lịch, mới chính thức đem tháng Giêng và Đông chí tách ra. Khi ấy, vào ngày Đông chí quan phủ cần cử hành nghi thức chúc mừng, gọi là “hạ đông”.
Trong “Lễ Nghi – Hậu Hán Thư” viết: “Khoảng thời gian trước và sau Đông chí, quân tử an thân tĩnh thể, bách quan tuyệt gác mọi sự, không nghe chính sự, chọn ngày giờ tốt rồi sau đó ‘tỉnh sự’”.Vào ngày Đông chí, trên dưới triều đình phải giả nghỉ ngơi, nhà binh đợi lệnh, thương lữ ngừng kinh doanh, thân bằng hảo hữu thăm hỏi tặng quà lẫn nhau.
Thời kỳ Đường Tống, ngày lễ Đông chí được coi trọng nhất, hoàng đế vào ngày đó phải ra vùng ngoại thành để cử hành nghi lễ tế trời, dân chúng thì cần tế tổ, kính thăm cha mẹ và trưởng lão.
đồng chí, mùa đông, kính trời thủ đức, cổ nhân, Bài chọn lọc,
Tới ngày Đông chí phải có những hoạt động tế tự: Tế trời, bái lạy thần linh. (Ảnh minh họa)
Vào đời nhà Thanh, Đông chí cũng là ngày hội phi thường trọng yếu, vào ngày Nguyên Đán, Đông chí và ngày sinh nhật hoàng đế hàng năm được gọi là “tam đại tiết” (3 ngày lễ lớn) của triều đình. Thời kỳ Thuận Trị, Triều Tiên phái sứ giả sang Thanh triều, đặc biệt định ngày Đông chí sẽ yết kiến hoàng đế triều Thanh.
Ở thành Bắc Kinh vào đời Thanh, ngày lễ Đông chí cũng được tổ chức rất long trọng, người Bát Kỳ (thuộc dân tộc Mãn, Trung Quốc) vào canh năm ngày Đông chí sẽ mời anh chị em ruột thịt cùng bạn thân thiết tề tụ ngồi trên chiếu ở sân nhà, dùng bàn thấp để đồ tế lễ “thiên địa mã nhi” hoặc bài vị, tế trời và tế “tổ tông can tử”. Tế xong, mọi người ngồi vây quanh ăn “thịt luộc”, loại thịt luộc này gọi là “thần dư” (đồ dư thừa của Thần). Vậy nên trong “thanh gia lục” gọi “Đông chí đại như niên”.
Những điển tích này đều nói rằng tới ngày Đông chí phải có những hoạt động tế tự. Tế trời, bái lạy thần linh, thờ cúng tổ tiên, chúc tết cha mẹ trưởng bối, an thân tĩnh tâm, phản tỉnh bản thân. Trong ngày lễ Đông chí này, an thân tịnh thể là điều cần thiết cho cả thân lẫn tâm, tế tự là vì cảm ơn thần linh đã ban tặng cho cuộc sống hạnh phúc, tỉnh sự là suy ngẫm lại những thiếu sót của bản thân, có thể khiến cuộc đời sau này ít đi những điều nuối tiếc và tích thêm phúc đức.
Truyền thừa văn hóa ẩm thực ngày Đông chí
Dân dĩ thực vi Thiên (lấy lương thực làm trọng), thời cổ đại cũng chính là thuận theo sự xoay chuyển khí tiết của trời đất và âm dương.
Đông chí là một trong những ngày lễ quan trọng của người Hoa, cũng là ngày hội năm mới quan trọng ở Trung Quốc, dân chúng sẽ dùng ẩm thực phong phú để ăn mừng, cho nên lại gọi là tục “Á tuế”, “phì đông”, ở dân gian cũng lưu truyền rộng rãi cách nói “Đông chí đại như niên”, “Đông chí đại tự niên”, “Đại đông như đại niên”…
Người Hồng Kông phi thường chú trọng Đông chí, vào ngày này cả nhà đều phải về nhà sum họp cùng nhau ăn cơm, tục gọi là “tố đông”. Rất nhiều món ăn được chuẩn bị từ sáng sớm, cả nhà cùng liên hoan. Trong bữa cơm đồ ăn cũng đặc biệt phong phú, trong đó không thể thiếu Poon Choi (lẩu khô). Poon Choi là một trong những món ăn truyền thống không thể thiếu ở Hồng Kông trong những ngày đầu xuân mới.
Hậu “tố đông” là ăn bánh trôi, đây cũng là một tập tục truyền thống của người Hồng Kông. Ngày Đông chí trước hoặc sau khi ăn cơm thì ăn bánh trôi (thang viên), “viên” ý nghĩa là “đoàn viên”, “viên mãn”, Đông chí ăn bánh trôi thì gọi là “Đông chí đoàn”, tượng trưng cho một nhà đoàn viên và sự hòa thuận hạnh phúc. Bánh trôi có thể dùng để tế tổ, cũng có thể dùng để tặng thân bằng bạn hữu. Cổ nhân có câu thơ “Mọi nhà đảo thước làm bánh trôi, biết là Minh triều đông chí thiên”.
đồng chí, mùa đông, kính trời thủ đức, cổ nhân, Bài chọn lọc,
Đông chí ăn bánh trôi, tượng trưng cho một nhà đoàn viên, và sự hòa thuận hạnh phúc.
Ở Hồng Kông, ngày Đông chí cũng có tập tục ăn gà, hơn nữa còn coi trọng “không gà không thành tiệc”. Trên bàn cơm ở Hồng Kông, gà là không thể thiếu. Người Hồng Kông thích chế biến các loại món ăn từ gà, ngoài các món truyền thống như gà nướng muối, gà sốt đậu nành thì gà mè gừng, gà Tứ Xuyên, chân gà Hải Nam cũng là những món ăn quen thuộc trên bàn ăn.
Ngày nay vào ngày Đông chí, người phương Bắc thích ăn bánh bao; người Tô Châu ăn vằn thắn nhớ Tây Thi; vùng sông nước ở Giang Nam ăn cơm nếp đậu đỏ; các gia đình Thượng Hải ăn bánh trôi; người Hàng Châu ngày 3 lần ăn bánh mật… Người Đài Loan ngày Đông chí thì dùng bánh ngọt chín tầng tế tổ.
Đông chí ở Hàn Quốc cũng là ngày hội khá quan trọng, ngày này đại biểu rằng trời đông đã đến, mùa lạnh cần đủ ấm và dinh dưỡng, cho nên người Hàn Quốc mỗi khi đến Đông chí thường ăn cháo đậu đỏ.
đồng chí, mùa đông, kính trời thủ đức, cổ nhân, Bài chọn lọc,
Người Hàn Quốc mỗi khi đến Đông chí thường ăn cháo đậu đỏ. (Ảnh: Internet)
Nhật Bản từ xưa đã coi Đông chí là ngày Mặt Trời sinh ra, là bắt đầu một năm mới. Người Nhật Bản vào ngày Đông chí thường ăn bí đỏ.
Từ Đông chí là bắt đầu tiến vào ngày đông giá rét, người ta thường vào ngày này vẽ một bức tranh hoa mai, trên đó có 81 đóa hoa, tên là “cửu cửu tiêu hàn đồ”, mỗi ngày dùng màu đỏ tô từng bông, tô hết liền “xuất cửu” (thành 9; chín lần chín tám mươi mốt), cho nên Đông chí lại gọi là  “sổ cửu”.
*****
Tôn kính quy luật vận hành của trời đất, kính Trời thủ Đức, kế thừa tập tục truyền thống, trong tư tưởng và cách làm của cổ nhân có lẽ còn hàm chứa nhiều đạo lý thâm sâu hơn nữa. Có thể nói rằng ngày nay, đại đa số con người đều xem nhẹ nội hàm của ngày Đông chí, đặc biệt là ngày lễ cảm tạ Thần linh và phản tỉnh bản thân này. Sự thay đổi trong tâm thái đối với một ngày lễ đã phản ánh ra sự khác biệt về ranh giới đạo đức xã hội tại những thời kỳ khác nhau.
Khi con người xem nhẹ quy luật vận hành của trời đất, không biết cảm ơn, không biết kính sợ Thần linh, không muốn nguyện ý phản tỉnh bản thân, thì trong nhân tính thường bộc lộ ra những thứ âm tính như tự tư, bạo ngược, v.v..
Rượu độc, sữa bột độc không phải chỉ xuất hiện trong một đêm, mà là dần dần hình thành trong quá trình ranh giới đạo đức xã hội bị băng hoại. Nhân tâm nếu hướng ác mà không hướng thiện, cuối cùng người chịu độc hại nhất lại chính là con người chúng ta.
Dương khí, chính khí trong trời đất đang bắt đầu dần dần thịnh vượng, chúng ta có thể tĩnh tâm lại nghĩ xem hy vọng chân chính ở nơi nào. Bản thân sự tĩnh tại này đã là một loại phúc phận.
Bảo An, theo epochtimes / minghui

Ông già Noel thời nay: Sản phẩm quảng cáo láu cá của Tập đoàn Coca-Cola ; Lenin từng cấm lễ Giáng sinh nhưng không thành

Phạm Viết Đào.
ông già noel, Hình đám mây, giáng sinh,


Kết quả hình ảnh cho ông già noel

Ông già Noel và Cây thông Noel là những “thiết lễ” thường xuất hiện trong dịp lễ Giáng sinh đối với người theo đạo Thiên Chúa; vậy thiết lễ này ra đời từ đâu và có bao huyền thoại, truyền thuyết được người đời thêu dệt về nhân vật Ông già Noel và Cây thông Noel đã làm cho những thiết lễ này trở nên lung linh, huyền ảo và được lưu truyền tại nhiều quốc gia khác nhau... 

Ông già Noel thời nay, sản phẩm sáng tạo của Tập đoàn Coca-Cola...

 Kết quả hình ảnh cho Ông già Noel và Coca-cola

Ông già Noel là người ngồi trên chiếc xe tuần lộc kéo, thường bí mật mang quà tặng cho trẻ em trên toàn thế giới vào dịp lễ Giáng Sinh hàng năm; Ông già Noel thường có bộ mặt hồn hậu, vui vẻ với chiếc mũi màu đỏ. Vậy ông già Noel là ai?

Theo truyền thuyết Thiên Chúa, ông già Noel là một con người tàn bạo, ông đã tự chặt tay vợ mình để được Đức Mẹ Maria chấp nhận cho thuê một chỗ trú chân trong ngôi nhà của Đức Chúa. Khi biết được tình cảnh, việc làm của ông già Noel, Đức Mẹ đã dùng phép thánh nối lại cánh tay cho vợ của Noel. Cảm phục trước phép thánh và đức độ của Đức Mẹ Maria, ông già Noel đã tình nguyện đầu quân làm tín đồ của đạo Thiên Chúa...

Để ăn mừng sự việc này, ông già Noel sau khi về nhà mình đã cho mang nhiều củi chất ra sân nhà đốt lên và cho gia nhân đến nhảy múa; sau đấy, ông già Noel đã đem chia thức ăn cho mọi người; Noel từ một con người đang tâm chặt tay vợ đã trở thành một ông già hảo tâm, xởi lởi với mọi người...

Hình ảnh ông già Noel được truyền bá rộng rài khắp thế giới như hiện nay được khởi đầu từ năm 1931 trong một chiêu thức quảng cáo của Tập đoàn nước giải khát Coca-Cola. Sáng kiến quảng cáo này là của Haddon Sundblom, sử dụng một ông già phúc hậu, xởi lởi và vui tính, có bộ râu trắng như cước và rậm, cũng ngồi trên chiếc xe tuần lộc kéo, thường ghé thăm mọi nhà vào dịp lễ Giáng sinh và mang theo món quà của Tập đoàn Coca-Cola...

Thực ra motiv ông già Noel có cội nguồn xuất phát từ các truyền thuyết của những người theo đạo Thiên chúa về Thánh Nicolae, xuất hiện tại nhiều quốc gia châu Âu từ thế ký thứ IV; Thánh Nicolae cũng giống như các ông Tiên, ông Bụt trong các truyện cổ phương đông: một con người tốt bụng, quyền lực và tiền của vô biên có thể cứu giúp tất cả mọi người tất cả những gì mà chúng sinh cầu nguyện...
 Kết quả hình ảnh cho thánh nicolas
Hình tượng về Thánh Nicolae của người theo đạo Thiên Chúa được “nhập khẩu” vào Mỹ từ thế kỷ XVII-XVIII; nhưng phải vào đầu thế kỷ XX, huyền thoại Thánh Nicolae và ông già Noel này mới được Hãng Coca-Cola tận dụng, tổ hợp sáng chế thành phương tiện quảng cáo sản phẩm cho hãng mình.
Nói cách khác, Tập đoàn Coca-Cola đã có công vừa kế thừa, vừa phát triển, vừa hiện đại hóa hình tượng Thánh Nicolae và ông già Noel trước tiên để phục vụ cho mục đích kinh doanh của họ. Huyền thoại này đã được Coca-Cola cải biên để mang theo những nó những nội dung công việc và nhu cầu tâm linh của người hiện đại: người mang phúc lộc đến cho mọi nhà, niềm vui cho con trẻ... Rất nhiều quốc gia hiện nay đã sử dụng “bản quyền sáng chế” ông già Noel của Tập đoàn Coca-Cola để thứ nhất mua vui cho con trẻ và làm cho ngày lễ Giáng sinh vừa thêm phần vui vẻ...

Hình vẽ về ông già Noel xuất hiện đầu tiên trên Tạp chí Harper’s Weekly vào năm 1860 do họa sĩ người Đức là Thomas Nast thể hiện, bức họa này được in trên tạp chí kéo dài trong suốt 20 năm. Bức họa đầu tiên này vẽ một ông già mặc một bộ áo khoác lông màu đỏ, những chiếc cúc màu đen và một chiếc thắt lưng da to bản...

Bắt đầu từ năm 1865, đa số người Mỹ chấp nhận tổ chức lễ Giáng sinh và coi hình tượng ông già Noel là biểu tượng của dư giả và hạnh phúc. Biểu tượng của Lễ Giáng sinh đó là cây thông Noel.

Theo thống kê của một Hãng truyền hình Italia, hiện nay ông già Noel có thể nói được 2700 thứ tiếng, 7000 thổ ngữ chưa kể loại ngôn ngữ trong thế giới Thiên đường của ông...

Những truyền thuyết về Cây thông Noel...
Kết quả hình ảnh cho cây thông noel

Cũng giống như cây đào của người Việt Nam, người dân tại nhiều nước phương Tây, những nước có nhiều cư dân theo đạo Thiên Chúa thường rất chú trọng mua sắm và trang trí cho Cây thông Noel trong những ngày lễ trọng này. 

Theo truyền thuyết của người phương Tây, Thánh Boniface, một thầy tu người Anh, người đã sáng lập ra nhà thờ đạo Cơ Ðốc ở Pháp và Ðức kể rằng, một hôm trên đường hành hương, ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ tế thần. Ðể dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, Boniface đã hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả đấm. Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị Thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa cứu thế.

Một truyền thuyết khác kể rằng: tương truyền, một lần Thánh Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh, hàng triệu vì sao sáng lấp lánh qua kẽ lá. Ngài thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng. Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ngài đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Ðể tái tạo ánh sáng lấp lánh của muôn ngàn ánh sao ngài đã treo nến lên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa Giáng sinh.

Một truyền thuyết khác lại kể rằng, vào một đêm Noel cùng một người tiều phu nghèo khổ đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi vì đói. Mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm.Vào buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hoá ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiều phu tốt bụng.

Tại Riga, từ năm 1510 cây thông bắt đầu trang trí, gắn thêm những vật thắp sáng, đó là những ngọn nến để đêm đến trẻ em có thể nhìn thấy những ngọn nến này lấp lánh như những ngôi sao trên trời, nơi trú ngụ của Thượng đế.

Cây thông Noel xuất hiện lần đầu tiên cách đây 1000 năm tại nước Đức, một số người Đức đã dựng cây thông như là một biểu tượng tôn thờ Thượng đế. Bước sang thế kỷ XII, cây thông bắt đầu được trang trí trong dịp Noel.

Sang thế kỷ XVI, tại nước Đức đã xuất hiện những khu phố chuyên bán những món ăn được treo trên các cây Thông Noel, một thứ quà ban phát của Thượng đế. Đến thế kỷ XIX, từ năm 1841 thì cây Thông Noel đã xuất hiện phổ cập hầu khắp các nước châu Âu và tại các quốc gia có nhiêu cư dân theo đạo Thiên Chúa. Tại Mỹ thì cây Thông Noel bắt đầu xuất hiện vào năm 1830 tại Pennsylvania do những kiều dân Đức khởi xướng.

Bước sang thế kỷ XX, trên cây Thông Noel, người ta bắt đầu gắn thêm các quả cầu, những chiếc chuông, những ngôi sao, những cánh chim, những đứa trẻ mang những đôi cánh của thiên thần…

Nguồn gốc thực của Cây thông Giáng sinh có thể gắn liền với những vở kịch vê cuộc sống ở chốn thiên đường. Vào thời Trung Cổ, những vở kịch về đạo đức được biểu diễn khắp châu Âu, thông qua các vở kịch, người ta có thể truyền bá các bài kinh Thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eva ở vườn địa đàng Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hàng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch (vì câu chuyện ăn trái táo cấm xảy ra dưới gôc cây táo), nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo những quả táo giả lên cành cây thông. 

 Vào giữa thế kỷ 19, Hoàng tử Albert-chồng tương lai của Nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi phong tục cây Giáng sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng Hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windson bằng nến cùng với rất nhiều loại kẹo, hoa quả và bánh gừng. 

 Khi cây Giáng sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada...

Giáng sinh trắng đang lùi dần vào cổ tích, kỷ niệm...

Đó là nhận định của Hãng thông tấn Reuter về những mùa Giáng sinh trong những năm gần đây. Do nhiệt độ trái đất đã nóng lên 0,7 độ bách phân trong những năm cuối thế kỷ XX và trái đất trở nên nóng nhất trong gần 100 năm qua là nguyên nhân đẩy Giáng sinh trắng lùi vào cổ tích, kỷ niệm.Kết quả hình ảnh cho giáng sinh trắng


Sở dĩ có thuật ngữ Giáng sinnh trắng vì lễ Giáng sinh thường diễn ra trong những ngày mùa đông giá lạnh và có tuyết, các gia đình quây quần bên lò sưởi; còn ông già Noel thì ngồi trên chiếc xe trượt tuyết do tuần lộc kéo.Theo nhà nghiên cứu Friedrich-Wilhelm Gerstengarber về các vấn đề khí hậu thuộc Viện ngiên cứu thích nghi khí hậu tại Potsdam-Đức; hiện tượng tuyết rơi trong những ngày lễ Giáng sinh ngày cáng trử nên thưa vắng trong vòng 50 năm qua…

Tại Oslo Nauy, là vùng lạnh nhất Bắc Âu, nhiệt độ cũng đã cao hơn các năm khác là 1 độ bách phân. Nếu như tại Oslo vào năm 1900, tuyết phủ thành phố này 150 ngày trong một năm thì hiện nay tuyết chí còn xuất hiện trong 100 ngày...

(Theo hnv.vn )


Lenin từng cấm lễ Giáng sinh nhưng không thành

Lenin, không thành, cấm lễ Giáng Sinh,

Lenin, nhà lãnh đạo cộng sản Liên Xô là một trong số khá nhiều nhân vật từng ra lệnh cấm ngày lễ Giáng sinh nhưng không thành, theo Gerry Bowler trong cuốn sách ra mắt dịp lễ Giáng sinh 2016 tại Anh.

Lenin từng cấm lễ Giáng Sinh nhưng không thành. (Ảnh: Internet)
Cuốn Christmas in the Crosshairs: Two Thousand Years of Denouncing and Defending the World’s Most Celebrated Holiday (Giáng sinh trong tầm ngắm: Hai nghìn năm bài trừ và bảo vệ cho dịp lễ trọng thể nhất thế giới) nhắc lại “cuộc chiến” chống lễ Giáng sinh qua nhiều thế kỷ.
Nhìn lại thế kỷ trước, tác giả người Canada viết rằng các chế độ toàn trị đều ‘thi đua’ bài xích hoặc cố biến lễ Giáng Sinh thành một thứ lễ hội phục vụ chính trị.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg
Gerry Bowler cho hay khi những người Bolshevik lên nắm quyền tại Nga, Lenin đã ra lệnh cho công an mật bắn chết ai dám bỏ ngày đi làm để ở nhà mừng lễ Giáng sinh.
Tuy nhiên, nỗ lực cấm và bài trừ Giáng sinh không thành khiến Liên Xô cho sống lại “Ông già Tuyết”.
Sau đó, hình ảnh Stalin cũng được xây dựng tương tự ông già Giáng Sinh: Một cụ già đôn hậu, đem quà cho trẻ con, theo Gerry Bowler.
Chế độ phát-xít Đức không cấm hẳn Giáng sinh nhưng thay đổi lời bài hát về lễ này để ca ngợi Hitler.
Ngày nay hiếm có chuyện bài trừ Giáng sinh nhưng vẫn có hai xu hướng nhìn nhận lễ này: Giáng Sinh là dịp mừng Thiên Chúa trong không khí trang nghiêm, sùng kính, hay chỉ là dịp ăn chơi, tiêu dùng, và mua sắm?
Lễ Giáng sinh qua các thời kỳ
Lễ Giáng sinh có nguồn gốc tiền Ki Tô giáo, vốn là lễ hội vui chơi giữa mùa đông và lễ thờ thần Mặt trời ở các xứ sở Bắc Bán cầu.
Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã đã chọn ngày đó làm lễ Thánh Nicolas, sau là Santa Claus, nhằm kết hợp hai truyền thống này vào làm một.
Nhưng các dịp vui chơi, có cả bia rượu, ăn uống quá nhiều, lại liên tục bị giới tăng lữ phê phán, thậm chí bài trừ.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg
Cuốn sách của Gerry Bowler kể lại cuộc chiến chống Giáng Sinh qua nhiều thế kỷ.
Scotland và New England, Mỹ đã từng cấm cả Giáng Sinh, và đến cuối thế kỷ 18, lễ này gần như đã bị khai tử ở nhiều nơi.
Ý tưởng của phái Thanh giáo là đề cao tính sùng đạo của lễ mà hạn chế càng nhiều càng tốt hội hè ăn uống, trong tiếng Anh gọi là “fasting, not feasting” (ăn kiêng chứ không ăn uống chè chén).
Trong sách có đoạn: “Giáo hội ở Glasgow vào năm 1583 ra lệnh rút phép thông công những ai vui Lễ Giáng Sinh, và năm 1593, các cha xứ ở Errol coi hát thánh ca xấu ngang tội tình dục… Ở một số thành phố của Scotland, các cha xứ đi gõ cửa từng nhà vào ngày Giáng Sinh để xem giáo dân có ăn uống gì không…”
Nhưng sang đầu thế kỷ 19, Giáng sinh đã được phục hồi tưng bừng tại Paris lại sau thời kỳ cấm cả đạo Công giáo và cả lễ Giáng sinh thời Cách mạng Pháp.

Theo BBC


















QUẦY HÀNG TRONG BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH (Ảnh chụp sáng nay, 21/12/2016.)

Toi Yeu Tu Do và 6 người khác đã chia sẻ bài viết của Đức Bảo Phạm.
Đức Bảo Phạm với Phạm Đức Bảo.
23 giờ
QUẦY HÀNG TRONG BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH
Bảo tàng Hồ Chí Minh là nơi nhiều du khách các nước đến tham quan sao các quầy bán hàng lưu niệm không viết tiếng Anh mà lại viết tiếng Trung? Hay chỉ bán cho người Tàu? Lãnh đạo bảo tàng HCM chẳng lẽ không biết điều này? Đúng là một lũ ngu xuẩn vong quốc nô!
Ảnh chụp sáng nay, 21/12/2016.

NHỮNG ẨN DỤ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT "TÌNH YÊU HOANG DÃ"... CỦA ZAHARIA STANCU

( Tái bản lần thứ 4; Phạm Viết Đào dịch từ tiếng Romania)
Bình luận của Đỗ Minh Tuấn- 
Không có văn bản thay thế tự động nào.
Tiểu thuyết Tình yêu hoang dã là một kiệt tác văn học của Romania. Tác giả Zaharia Stancu (1902 -1974) nguyên là Chủ tịch Hội Nhà văn Romania,Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Romania,Uỷ viên Hội đồng Nhà nước…
Xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ, chỉ được học hết phổ thông trung học, Zaharia Stancu đã rèn luyện và tự học để trở thành một nhà văn lớn, một trong số ít nhà văn Romania có ảnh hưởng lớn trên văn đàn thế giới. 10 cuốn tiểu thuyết của Zaharia Stancu đã được dịch ra 30 thứ tiếng trong đó riêng tiểu thuyết Những người chân đất được dịch ra 26 thứ tiếng; Những người chân đất đã được Trần Dần dịch ra tiếng Việt từ năm 1962.
Trong 11 tiểu thuyết của ông,3 tiểu thuyết được xếp vào Tủ sách kiệt tác văn học của Romania. Zaharia Stancu còn là tác giả của 15 tập thơ,nhiều tập bút kí truyện ngắn. Ông là người trưởng thành từ nghề báo, trong nhiều năm ông là chủ bút của tờ báo Romania Văn học của Hội Nhà văn Romania…
Tiểu thuyết Tình yêu hoang dã được in lần đầu vào năm 1968 là một trong những tác phẩm cuối đời của Zaharia Stancu. Ngay khi mới ra đời Tình yêu hoang dã đã được bạn đọc Romania đón nhận nồng nhiệt và nhanh chóng đựơc dịch ra 6 thứ tiếng.
Những ẩn dụ và những thông điệp tầm nhân loại của tiểu thuyết
Là một truyện tình tay ba đầy gây cấn lôi cuốn người đọc từ trang đầu cho tới trang cuối cùng, Tình yêu hoang dã lại không chỉ đơn thuần là một câu chuyện tình đầy máu và nước mắt như thông lệ. Thông qua câu chuyện tình độc đáo gắn với số phận của một bộ tộc Digan trong thời điểm khốc liệt nhất của thế chiến làn thứ hai ở Romania là thông điệp của nhà văn: về những nghịch lý và thảm trạng trong đời sống nhân loại; về thân phận và cách ứng xử của những dân tộc nhược tiểu trước những va đập của thời đại đầy những xung đột nảy sinh từ các tham vọng của những thế lực sen đầm, ác bá và trước cả sự giở quẻ của một thiên nhiên đầy ẩn hoạ, tai ương. Với nghệ thuật xây dựng tình huống và khắc hoạ chi tiết, tác giả đã sáng tạo được những ẩn dụ nghệ thuật sâu thẳm có sức ám ảnh lớn với nhiều thế hệ độc giả của nhiều quốc gia.
Tiểu thuyết Tình yêu hoang dã là câu chuyện tình tay ba giữa cô gái Digan Lisandra với Gosu chồng cô ta và Ariston tình nhân của cô ta. Tác giả bắt đầu bằng vụ ngoại tình vỡ lở và bộ tộc Digan gồm 99 con người phải dùng luật tục để giải quyết những mâu thuẫn không thể nào hoà giải .
Theo tập tục, Gosu có quyền giết vợ hoặc đánh chết kẻ tình địch để chiếm lại Lisandra. Nhưng nếu Gosu giết vợ thì cuộc sống của anh ta không còn ý nghĩa nữa, mà giết tình địch thì vợ cũng chết theo vì cô gái Zigan ngoại tình thà chết chứ không bỏ tình nhân.
Cô gái Digan này luôn nguyền rủa chồng, đòi được giải phóng để tự do sống với tình nhân. Tập đoàn người Digan vốn coi tình yêu là thiêng liêng đã tạo cơ hội cho hai người đàn ông giao tranh sòng phẳng,ai sống sót trong cuộc tử chiến sẽ được quyền sống với Lisandra. Nhưng thủ lĩnh Hinbasa nhân danh sự tồn tại của cộng đồng đã không cho phép họ thực hiện đúng luật chơi, không cho phép họ giết chết nhau vì cộng đồng này đã bị chết nhiều người do đói, rét và những thứ tai bay vạ gió do chiến tranh đưa đến. Bộ tộc hiện chỉ còn vẻn vện có 99 người, nếu họ lại tiếp tục giết hại nhau thì chẳng bao lâu cộng đồng sẽ huỷ diệt. Kết cục là Ariston đã tự lao vào mũi giáo của Gosu để chết vì không làm cách nào giành được cô gái mình yêu. Lisandra cũng tự vẫn vì mất Ariston. Thủ lĩnh Himbasa cũng tự vấn vì bất lực trước sự thất bại, tự huỷ diệt về mọi mặt của cộng đồng Digan, nơi giờ đây không còn đủ sức duy trì cả những giá trị truyền thống mà ông muốn nuôi nấng, gìn giữ.
Tình yêu đã trộn lẫn vào cái chết như một định mệnh trớ trêu, khắc nghiệt ám ảnh số phận của tập đoàn Digan lang thang trôi giạt, không biết sẽ về đâu. Thân phận của bộ tộc Digan này được Zaharia Stancu mô tả thật sinh động và vô cùng hấp dẫn.Giữa hoang mạc đầy bão tuyết,cho dù đã lẩn trốn xuống hầm sâu để tránh cái đói rét,hết sức nhũn nhặn nhường nhịn với đám lính đào ngũ chạy qua nhưng sự huỷ diệt vẫn ập đến tiêu diệt cộng đồng này từ mọi phía. Đói khát, thù hận, thiên tai và cả những điều tai bay vạ gió do chiến tranh đưa đẩy đến đã biến những thành viên của cộng đồng từ thủ lĩnh Him-basa đầy quyền uy đến những cô gái Digan lãng mạn; từ những bà lão tiên tri bí ẩn, đến những đứa bé, đứa trẻ sơ sinh; từ những người đàn ông khoẻ mạnh đến những người đàn bà Digan mắn đẻ lúc nào cũng bụng mang dạ chửa đến cả những con ngựa,con la, con cừu, con gấu…đều được nhà văn khai thác, tô điểm thành những nhân vật bi kịch, một thứ nạn nhân của chiến tranh, một thứ “vật tế thần” cho những thủ đoạn chính trị điên rồ,tàn ác. Digan là một tộc người không chính kiến chính trị, không tổ quốc, không tôn giáo, lấy bói toán là một nghề kiếm sống song họ lại là con người vô thần không tin có Thượng đế, tóm lại họ tồn tại một cách bản năng hoang dã như hoa lá cỏ cây,một tộc người gần như vô hại.
Từ những trang đầu của cuốn tiểu thuyết viên sen đầm đã xác định với họ:”Các vị không liên can gì đến chiến tranh nhưng chiến tranh lại liên can tới các vị”… Những vấn đề được Zaharia Stancu nêu lên chắc chắn không phải là vấn đề của bộ tộc Digan do Him-basa làm thủ lĩnh,càng không phải là vấn đề của riêng đất nước,dân tộc Romania bao phen rơi vào tình cảnh cùng một lúc đối phó vơí cả thù trong lẫn giặc ngoài.
Vấn đề của tiểu thuyết là vấn đề tươi mới của nhân loại hôm nay khi vẫn còn đầy rẫy những thế lực sen đầm,ác bá coi rẻ mạng sống,quyền sống của những dân tộc nhỏ và yếu hơn. Cho dù thủ lĩnh Him-basa của họ ngay từ đầu đã lựa chọn một cách ứng xử theo cách của một tộc người nhược tiểu: đưa cả cộng đồng xuống cái căn hầm, co mình lại để tránh né,đẻ đối phó với các mâu thuẫn của thời đại, nhưng rồi bản thân những vấn đề của các thành viên không được giải quyết triệt để và thoả đáng đã huỷ hoại cộng đồng Digan này theo một cách riêng. Sức mạnh và sức sống của một cộng đồng không phải là phép cộng của những toan tính nhược tiểu mà là phép luỹ thừa của tình yêu và quyền sống của mỗi thành viên.
Tình yêu hoang dã vừa là một ẩn dụ lớn về kiếp nhân sinh phi lý và bất định; là một thông điệp về sự suy tàn của lối sống bầy đàn hoang dã; sự cùng quẫn và bế tắc của những suy tính nhược tiểu.Trong cái thế giới đương đại đầy cường bạo và bất trắc, trước sức ép của chiến tranh, nghèo đói và hủ tục, một dân tộc nhược tiểu không thể cố sức duy trì sự tồn tại bằng cách chui vào hầm để trốn tránh mọi xung đột của thời đại và nuôi ảo tường có thể bảo tồn được bản năng hoang dã của cộng đồng. Càng không thể củng cố cộng đồng bằng ngọn roi áp chế gia trưởng, một thứ quyền lực, quyền uy theo kiểu cha truyền con nối, kìm nén và xếp xó những vấn đề, những mâu thuẫn, những khát vọng nội tại, đi ngược lại quyền sống chính đáng của các thành viên, tự ru ngủ bằng những khẩu hiệu đoàn kết, ổn định và đồng thuận giả tạo.
Trong thời đại ngày nay, một dân tộc cho dù nhỏ bé, muốn tồn tại và phát triển cần phải biết cách đối mặt với mọi thách thức, nhìn thẳng vào những vấn đề của nội tại để đương đầu giải quyết bằng sức mạnh có tổ chức,của khoa học, của dân chủ của văn minh của cả cộng đồng…
Nghệ thuật xây dựng tình huống và chi tiết
Thông điệp nghệ thuật trong tiểu thuyết Tình yêu hoang dã là một thông điệp đa tầng, đa nghĩa, gợi đến những vấn đề sâu xa và lớn lao của nhân loại hôm nay. Để tạo được những ẩn dụ nghệ thuật và những thông điệp phong phú đó, chúng ta hãy xem ngòi bút đầy uy lực của Zaharia Stancu đã sử dụng những bút pháp nghệ thuật nào.
1- Những tình huống kép liên hoàn đầy xung đột, bế tắc và nghịch lý
Dùng “không gian chiến tranh” là một cách chọn tình thế, hoàn cảnh không mới, nhưng cái mới của cuốn tiểu thuyết ở chỗ: chiến tranh không được mô tả trực diện mà chỉ nghe tiếng súng ì ầm xa xa và thấy bóng dáng của nó qua những chiếc máy bay lướt nhanh trên bầu trời, qua bộ mặt tiều tuỵ khổ ải của những tên lính đào ngũ bỏ trốn khỏi chiến hào. Chiến tranh cũng chỉ được dùng làm cái nền để bộc lộ tính cách, thân phận của những người trực tiếp tham chiến và cả những người tưởng chẳng liên can nhưng lại bị sen đầm lôi cổ vào như đám người Digan kia. Dùng cái biện pháp chính trị tàn khốc này để cọ xát với một tộc người còn duy trì lối sống bản năng theo kiểu bầy đàn, hoang dã, một tộc người vô hại và vô chính trị, tức là tác giả đã dùng cái cực này để đối với lại với cái cực kia; khi hai thái cực va xiết với nhau sẽ làm bật lên những vấn đề,những dụng ý nghệ thuật của nhà văn…
Trong các thiên tình sử của thế giới, các cuộc tình tay ba là một tình huống không mới, thông thường đối với loại tam giác này chỉ cần loại trừ một mắt xích là mọi chuyện lại trở nên êm đẹp.
Trong cuốn tiểu thuyết của Stancu thì cái mới trong cái “tam giác” tình yêu Gosu-Lisandra-Ariston là: cả ba con người này đều không thể sống thiếu nhau.Vì tình yêu nên Gosu không thể sống thiếu Lisandra, bởi vì Gosu yêu Lisandra vô cùng, trong khi đó thì Lisandra lại chỉ yêu Ariston mặc dù Lisandra là vợ của Gosu và cả Ariston cũng không thể sống thiếu Lisandra…Cái “tam giác” tình yêu này còn được đặt trong bối cảnh : luật tục của người Digan hết sức hà khắc,sự ngoại tình chỉ có thể giải quyết bằng những trận huyết đấu hoặc bằng dao, hoặc bằng roi cho tới khi một trong ba người phải bị loại ra khỏi cái tam giác này. Để rửa nhục Gosu có quyền giết vợ,nhưng hắn lại không thể làm được điều đó vì nếu giết chết Lisandra,Gosu cảm thấy cuộc sống không còn ý nghĩa.
Luật tục Digan cũng cho phép hai người đàn ông xử nhau: ai chiến thắng người đó sẽ được quyền sở hữu Lisandra, nhưng đáng tiếc là Ariston lại không thắng đượcGosu qua những trận huyết đấu dai dẳng. Trong khi đó mặc dù Gosu vừa có quyền, có khả năng giết chết Ariston để chấm dứt sự rắc rối rửa được mối nhục và nắm trọn quyền sở hữu Lisandra nhưng hắn lại không dám giết vì thủ lĩnh Him-basa ngăn cản. Himbasa không muốn bộ tộc của ông sẽ bị chết thêm, mặt khác, ông nuôi hy vọng bằng ngọn roi áp chế của mình, ông có thể khuất phục được trái tim của Lisandra mà không cần phải giết chết một ai. Thế nhưng Him đã thất bại.
Trước sức ép của cộng đồng, của luật tục, cuối cùng Him-basa đã quyết định cho phép hai người đàn ông được thanh toán với nhau dứt điểm. Lúc này, Gosu vẫn là người có đầy đủ khả năng giết chết tình địch, nhưng lại vẫn chùn tay vì hắn lo sợ nếu giết chết Ariston,Lisandra sẽ chết theo,Lisandra đã nhiều lần tuyên bố như vậy…
Chính cái sự nhùng nhằng này mà “tam giác” tình yêu Gosu-Lisandra-Ariston đã tồn tại từ trang đầu cho tới trang cuối của tiểu thuyết cho tới lúc điều gì phải đến đã đến – những con người coi tình yêu hơn cả mạng sống này tìm được một lối thoát trong cái chết . Ariston đã tự mình lao vào mũi dao của Gosu để chấp nhận cái chết,còn Lisandra cũng đã thực hiện đúng như điều cô tuyên bố: nếu Ariston bị giết,cô sẽ chết theo vì thiếu tình yêu cô sống chẳng để làm gì…
“Tam giác” tình yêu này được tạo ra không phải để cho thiên truyện khỏi khô khan mà nó là một trong những huyết mạch làm nên nhựa sống cho ý đồ nghệ thuật của tác phẩm. Cũng giống như quyền sống,sức sống của mỗi con người ,của một cộng đồng, của một dân tộc không thế là thứ có thể cưỡng bức hay cưỡng đoạt. Mỗi khi sợi dây giao hoà này bị ngăn cản, chặt đứt thì sự sống sẽ bị tàn lụi, suy vong, không có lý do tồn tại. Một cuộc hôn nhân không thể tồn tại, không thể có hạnh phúc nếu không có tình yêu ràng buộc.
Điều này cũng giống như một bộ tộc, một cộng đồng, một quốc gia không thể phát triển,đứng vững được trước mọi thử thách, va đập khi thiếu tình yêu trong các quan hệ con người…Đây chỉ là một trong những tấn bi kịch trong cải tổng thể những bi kịch mà cộng đồng người Digan dưới quyền chỉ huy của Him-basa đang phải đối mặt.
Việc lựa chọn tình huống đưa cả một bộ tộc xuống hầm là một tình huống thâm thuý của Zaharia Stancu. Bản thân cộng đồng người Digan là một cộng đồng lang bạt nay đây mai đó, họ sống không nhà cửa,căn nhà của họ là chiếc xe ngựa, khi họ bị đẩy ra sống giữa vùng đệm là một hoang mạc, Him-basa nghĩ ngay tới việc đào hầm vừa để tránh rét,vừa để tránh bom đạn.
Như vậy “căn hầm” cụ thể này lại hàm chứa trong đó những giá trị ẩn dụ, tượng trưng nghệ thuật khá đắc địa. Cộng đồng Digan của Him-basa gần trăm con người bị dồn xuống ba căn hầm ngột ngạt và ám khói, tưởng rằng chui xuống đây sẽ chống đỡ được cái rét, xa lánh được chiến tranh. Nhưng những tên lính đào ngũ vẫn cứ xông vào tận trong hầm của họ để trấn cướp thức ăn và hãm hiếp phụ nữ. Không tránh được chiến tranh, họ còn bị đói khát, chật chội và bao nhiều chuyện tai ương ngớ ngẩn khác.
Rõ ràng với hy vọng co mình lại để lẩn trốn mọi va đập để mong duy trì sự tồn tại, nhưng càng co mình lại họ càng phải chịu đựng cái nguy cơ tự huỷ diệt,bị huỷ diệt nhiều hơn…Đây là một tình huống tài tình tải chứa được những dụng ý nghệ thuật thâm thuý.Như vậy hành vi “chui hầm ” là một hành vi có giá trị tượng trưng ẩn dụ,anh càng chui xuống hầm anh cãng dễ bị huỷ diệt.Chỉ sau khi Him-basa tuẫn tiết,những người Digan còn lại đã nhận ra lỗi lầm nên đã chui ra khỏi hầm để quay về phía thành phố để kiếm tìm níu kéo sự sống.
Trở lại tấn bi kịch của cái “tam giác” tình yêu Gosu-Lisandra-Ariston chúng ta thấy những nhân vật này vừa là nạn nhân lại vừa là thủ phạm của những điều rắc rối. Họ vừa là “kẻ đi xâm lược lại vừa là nạn nhân bị xâm lược”, chính vì lẽ đó mà họ không dễ tự giải phóng cho mình thoát ra khỏi bi kịch.
Trong tiểu thuyết, tác giả đã xây dựng được một tình huống kép khá bi hài và thú vị,đó là tình huống những tên lính đào ngũ bị đám người Digan nhốt trói. Ba tên lính đào ngũ này đã xông vào hầm của dân Digan định dùng súng đạn để cưỡng hiếp những ngươì đàn bà Digan.
Bằng những mưu mẹo khôn khéo của bà già mù cuối cùng bọn này đã bị bắt trói. Một vấn đề khá nan giải đặt ra cho thủ lĩnh Him-basa là nên giết hay nên tha những tên tội đồ này? Nếu giết thì không được vì dân Digan không giết người, không nhúng tay vào máu, còn nếu tha lại sợ bọn này quay trở lại trả thù. Giải pháp cuối cùng Him quyết định trói bọn này lại,nhốt riêng và cung cấp thức ăn cho chúng đế chúng sống.
Giải pháp này ngỡ nhân đạo,tưởng là để cứu vớt mà hoá ra lại đẩy bao con người sa vào sự đày đoạ mới. Đám người Digan đang sa vào tình cảnh đói rét bây giờ lại phải nhường cơm sẻ áo,nhường củi lửa cho những kẻ đã từng trấn cướp mình.Còn những tên lính đào ngũ thì nào đâu có sung sướng gì hơn. Thảm cảnh và cách xử sự này của Him-basa về hình thức ngỡ là nhân đạo nhưng thực chất người được cứu và người đi cứu lại bị đẩy vào những sự đày đoạ khốn nạn hơn. Cách ứng xử này đã được chính Lisandra so sánh với cảnh ngộ mà Gosu và Him-basa đã đối xử với cô và Ariston: giết không cho giết mà giải phóng cũng không cho giải phóng.
Đây là những trang viết khá thành công, một trong những tình huống độc đáo của tác phẩm, mang rất nhiều ý tứ thâm trầm về những nghịch lý trong cuộc sống.
Zaharia Stancu khi viết về những thảm cảnh bị đày đoạ của con người, ông đã chỉ ra cái cơ chế sinh động của sự bế tắc khi: những thảm cảnh đó rơi xuống từ những cái không đâu, không chỉ “bên nguyên” mà cả “bên bị” cũng đều bị hành hạ ngang nhau.
Trước sự bế tắc đó, đôi khi cái chết lại là một sự giải phóng, cứu rỗi duy nhất. Ariston và Lisandra đã tự giải phóng cho chính bản thân bằng cái chết. Nhưng đối với ba tên lính đào ngũ,cuối cùng tác giả đã tìm ra một lối thoát thú vị không phải đi qua cái chết: ông để cho mẹ goá Bob giải thoát cho họ.Trong một phiên canh gác, Bob người đàn bà goá chồng mười năm không biết mùi đàn ông đã cởi trói cho họ, lần lượt ngủ với họ và thả cho họ đi. Sau cái đêm “mưa móc” này những người lính đào ngũ này đã trở nên người hơn, chúng trở nên hiền lành hơn.
Cùng bị dồn vào những tình huống trớ trêu, bế tắc, nhưng 3 tên lính đào ngũ kia còn có người cứu, còn tình yêu của Lisandra và Ariston thì có mà trời cứu. Mặc dù cả Him-basa và Gosu đều là những con người tốt đều có trái tim nhân hậu,đều yêu quý Lisandra và Ariston.
Sự độc đáo và thú vị của thiên diễm tình này chính là chỗ: ngòi bút cao cường của Stancu đã tìm cách “nhúng” nhân vật của ông vào những tình huống nước sôi lửa bỏng, đầy nghịch lý và bế tắc. Từ những tình huống căng thẳng, bế tắc này mà những nhân vật của ông quằn quại rên xiết và chính sự rên xiết đã làm nên tư tưởng chủ đề, làm nên dư vị của tác phẩm…
Một tình huống đầy tính ẩn dụ triết học và cũng đầy tính hài xuyên suốt câu truyện là một bà già mù lại trở thành người hướng đạo tinh thần cho bộ tộc Digan. Bà vừa tiên tri, vừa giáo dục lớp trẻ, vừa bày mưu tính kế đối phó với những kẻ thù. Bà trở thành đối trọng của những tên sen đầm.
Bộ lạc Digan phiêu dạt trên một chiếc xe trên những nẻo đường zig-zag, cắt khúc và bất định mà bản đồ của nó được vẽ bởi những tên sen đầm gặp bất chợt, những hứng khởi tâm linh của người mù và những trận bão cũng mù như bà già Digan đó.
Một sự cộng sinh giữa những tính cách thô tháp, dữ dội, hoang dã với những tính cách tinh quái và bất trắc đã tạo nên những tình huống bất ngờ sinh động, không thể tiên liệu. Tình huống này tạo cho hình tượng bộ lạc vừa chân thực, sinh động vừa đầy tính ẩn dụ về một nhân loại trôi dạt vô dịnh mà tiến trình lịch sử được quyết dịnh từng đoạn bởi: những lực lượng khác nhau, đan xen giữa những quyền lực tối tăm và những quyền lực sáng suốt, những suy nghĩ tỉnh táo và những hứng khởi ngẫu nhiên đầy tính định mệnh…
Có thể nói trong tiểu thuyết Tình yêu hoang dã Zaharia Stancu đã tỏ ra rất tài ba trong việc bày đặt ra những tình huống, nói đúng hơn là ông đã tạo ra được một thế trận liên hoàn những tinh huống vừa độc đáo ,vừa thú vị lại vừa có ý nghĩa tượng trưng, ẩn dụ cao. Những tình huống lồng vào nhau như gương trong gương, tình huống mẹ đẻ tình huống con, tạo ra một trận đồ bát quái để câu chuyện thêm phần lôi cuốn hấp dẫn và nhân vật có nhiều cơ hội va đập, chà xát, bộc lộ tâm lý, tính cách và số phận.
Văn chương của Stancu là một thứ văn chương đời thường, trần trụi, thô tháp nhưng không vì thế mà làm chìm lấp những ý tưởng nghệ thuật cao sâu và thâm thuý…
2- Những chi tiết độc đáo , ấn tượng và sâu sắc, đầy chất Digan
Song hành với những tình huống là những tình tiết. Có thể coi Tình yêu hoang dã là một tấm thảm được dệt kết bởi vô vàn những chi tiết, những “sợi tơ” óng ánh sắc màu của sự sống.
Những chi tiết như: Zara do đẻ con ngược chân ra trước dẫn đến một cái chết đau đớn; thằng bé Baru do nhảy từ trên bờ xuống sông bị cọc đâm vào bụng dẫn tới cái chết thảm, quằn quại; Kera bị bốn thằng đàn ông hãm hiếp trong đêm tân hôn; những người Digan phải chịu đựng trận mưa đá năm ngày năm đêm liền dẫn tới năm mạng chết vì đói rét v.v…Chi tiết Gosu móc mắt Ariston là một chi tiết nếu không đặt trong văn cảnh của tiểu thuyết người đọc sẽ không thể tưởng tưọng được làm sao Gosu lại trở nên man rợ tới mức đó.Ở đây tác giả đã xử lý tình tiết này khá vững tay khiến cho người đọc thấy được Gosu xử sự như vậy là “hợp tình“, là cao thượng.
Những chi tiết như: đám người Digan vưa ăn thịt dần những con ngựa con la chết rét, giết những con gấu phương tiện làm ăn khá gần gũi để cứu đói. Rồi khi nguồn thức ăn đó đã cạn họ phải đi săn chôn,săn thỏ hoang về nướng ăn như những người tiền sử là những chi tiết làm nên những trang sách vô cùng sống động.
Không thể không kể tới những chi tiết đặc sắc khác như: ngày lại ngày Him-basa và đám đàn ông Digan theo dõi, chờ đợi Lisandra có chửa, chỉ cần Lisandra đẻ thêm cho bộ tộc một nhân mạng là lập tức Him sẽ cho phép Gosu và Ariston lao vào cuộc tỷ thí một mất một còn.
Hay cả đám đàn bà Digan trước nguy cơ bị đám lính đe doạ cưỡng hiếp đã nhất loạt tụt quần xông ra khiến cho bọn lính khiếp vía bỏ chạy… Đó là những chi tiết độc đáo, rất Digan, vừa góp phần điểm xuyến lối sống bản năng, bầy đàn hoang dã của đám người Digan, vừa làm bật lên thân phận mong manh của người Digan nói riêng và của con người nói chung trước một cuộc đời , một thiên nhiên tiềm tàng ẩn hoạ…
Tài năng của Zaharia Stancu là ở chỗ ông đã sáng tạo và tinh lọc những tình huống chi tiết điển hình mang đậm bản sắc Digan. Những chi tiết trần trụi thô tháp đó do có giá trị tượng trưng ẩn dụ cao đã làm cho ý đồ nghệ thuật của tác giả đã siêu thoát và vượt ra khỏi phạm vi của người Digan, trở thành vấn đề của nhân loại.Đây là thành công nổi bật trong dụng ý nghệ thuật của tác giả...
Đ.M.T