Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Người Việt hiếu học, cần cù, sáng tạo… sao vẫn nghèo?

TRƯƠNG KHẮC TRÀ

(GDVN) - Chúng ta chưa cần cù, chưa sáng tạo và khôn vặt nhiều hơn thông minh. Chúng ta cần nhìn nhận thẳng thắn vấn đề để không bị ngủ quên trên trên sự ảo tưởng.
LTS: Người Việt ta vốn tự hào về truyền thống hiếu học, rất cần cù, chịu khó. Tuy nhiên, tại sao chúng ta vẫn nghèo?
Tác giả Trương Khắc Trà đưa ra những so sánh với các dân tộc khác trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia láng giềng để giúp độc giả tìm ra câu trả lời cho băn khoăn trên.
Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết!

Lịch sử đã chứng minh nếu dân tộc ta không có những khí chất đặc biệt chắc chắn khó tồn tại đến ngày nay, điều này không ai có thể phủ nhận được.

Cuộc trường chinh dựng nước và giữ nước mấy ngàn năm qua cho phép chúng ta tự hào ngồi lại để tổng kết, rút ra những gì đặc sắc nhất mà đất nước, con người Việt Nam đã tôi luyện thành.

Vì vậy, xưa nay chúng ta tự mặc định rằng người Việt thông minh, cần cù, sáng tạo.
Người Việt cần cù, hiếu học mà sao vẫn cứ phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời? (Ảnh minh họa trên vtc.vn)
Bước vào thời kỳ hội nhập, toàn cầu chơi chung sân, có tự tương tác, va vấp, so sánh, đối chiếu với nhiều nước trên thế giới thông qua những chỉ số mới vỡ vạc ra rằng ta còn kém bạn về nhiều mặt.

Hoàn cảnh này buộc chúng ta phải nhìn nhận lại giá trị của chính mình không bị lạc trôi trong “thế giới phẳng”.

Nếu nói người Do Thái thông minh, sáng tạo thế giới này không ai phản đối, vì họ sở hữu nhiều giá trị cái nhờ thông minh, sáng tạo mà có.

Mọi sự so sánh đều khập khiễng, song một khi mình có những đặc tính mà cả thế giới không có hoặc hiếm có lúc đó mới đáng tự hào.

Nếu nói người Việt thông minh, hiếu học, cần cù, sáng tạo cũng không ai chối cãi được, nhưng nói vậy phải chăng có nghĩa là người Nhật, người Mỹ, người Anh, người Đức, người Nam Phi… không thông minh, hiếu học, cần cù, sáng tạo bằng hay sao? 

“Có rừng, có biển… tại sao vẫn nghèo?”

Chắc chắn, cần cù, thông minh, sáng tạo là đặc tính sẵn có của hơn 200 quốc gia, hàng ngan dân tộc tồn tại trên địa cầu cho đến nay, nên cái hiển nhiên ấy không phải chỉ mình ta mới có còn bạn thì không.

Nói về đặc tính cần cù của người Việt, Giáo sư Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Sở dĩ lâu nay các học giả Việt Nam và cả nhiều người nước ngoài nghĩ rằng người Việt cần cù là do bị đặc điểm của nghề trồng lúa nước đánh lừa”[1].

Đặc tính của nền văn minh lúa nước là tính thời vụ, manh mún nên mới có câu “tháng giêng là tháng ăn chơi/ tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè…”, nghề nông thủ công buộc phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, xong vụ lại bước vào thời kỳ “nông nhàn” ăn chơi, nghỉ ngơi…
Vậy thì người Việt cần cù ở đâu?

Đặc tính “nông nhàn” này đến bây giờ vẫn còn rõ rệt, hãy nhìn đường phố Việt Nam thì sẽ rõ, nhan nhản quán nhậu, cà phê, karaoke… bất kể đầu tuần hay cuối tuần đều đông khách.

Việt Nam là nước tiêu thụ bia rượu hàng đầu thế giới, mỗi ngày 24 tiếng, dành thời gian để “uống” và “say”, ăn chơi xong mới bước vào làm việc.

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2013, năng suất lao động của Việt Nam được xếp vào nhóm thấp nhất của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật Bản 11 lần, Hàn Quốc 10 lần, Malaysia 5 lần, Thái Lan 2,5 lần, là 1 trong 3 nước có năng suất lao động thấp nhất ASEAN, xấp xỉ Lào và chỉ cao hơn chút ít so với Myanmar, Campuchia [2].

Xin nhắc lại rằng “thoát nghèo” không phải là mục đích của người học!

Những con số cho thấy sự cần cù mà nhiều người tự nhận cho là đặc tính tốt của người Việt chỉ là ảo tưởng, không thể nào có một quốc gia mà trong đó người dân lao động cần cù nhưng năng suất lao động thấp đến báo động.

Cũng có thể, chúng ta cần cù thật nhưng làm chẳng có hiệu quả, vậy nên sự cần cù ấy không có ý nghĩa gì.

Lao động và lao động có hiệu quả là con đường duy nhất đi đến văn minh thịnh vượng, như Bác Hồ nói “lao động là vinh quang”, mọi cái sự phức tạp, xuống cấp đều do “nhàn cư vi bất thiện”.

Tội phạm gia tăng trẻ hóa, bất ổn xã hội ngày càng trầm trọng cũng do lười lao động mà ra.

Vấn nạn thực phẩm bẩn, tham ô, lãng phí, con người rình rập dối lừa nhau… suy cho cùng đều xuất phát từ nguyên nhân lười lao động, muốn giàu nhanh nên bất chấp tất cả.

Cái sự học, bản chất của nó là yêu mến sự thông thái (philosophia) nên không thể nhìn vào hàng trăm trường đại học, hàng triệu cử nhân, hàng chục ngàn Tiến sĩ… để cho rằng dân tộc đó thực sự hiếu học.

Các nước bị ảnh hưởng bởi văn hóa Nho học đều có đặc tính trọng danh, sĩ diện, chính Khổng Tử dạy; học để trở thành quân tử, không làm tiểu nhân, học để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Cốt cũng là để vinh thân, mở mày mở mặt với làng xóm cho “cả họ được nhờ”, chứ không thấy bóng dáng của yêu mến tri thức ở đâu cả.
Học là học sách thánh hiền đã viết ra, “ôn cố tri tân” chứ không học để sáng tạo ra cái mới.

Ảnh hưởng bởi điều đó, ngày nay người ta đua nhau đi học chỉ vì muốn “ngồi mát ăn bát vàng” để đổi đời, lên lương, bổ nhiệm… âu cũng là nguyện vọng cơm áo gạo tiền nhưng đó nhất quyết không mang tinh thần mến mộ tri thức mà là học vì nhiệm vụ, vì áp lực.

Tỉnh nghèo, quan chức giàu

Hậu quả là chúng ta đang rơi vào cuộc khủng hoảng chất lượng giáo dục đại học, loay hoay đổi mới nhưng vẫn chưa tìm được con đường nào cái quan.

Nhiều năm nay, nhìn vào một vài chuyên gia người Việt và gốc Việt rồi những tấm huy chương để cho rằng cái sự học của chúng ta thế là ghê gớm.

Bình quân mỗi năm, một người Việt Nam chỉ đọc 0,8 quyển sách, đó là con số mà Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa ra nhân Ngày hội Sách và Văn hóa đọc 2013.

Ở Malaysia, cách đây 10 năm, mỗi người dân đọc trung bình 2 cuốn sách/năm; vào năm 2012, con số này đã tăng lên từ 10 đến 20 đầu sách/năm, trẻ em Nhật đọc trung bình 13 cuốn sách/năm [3].

Thống kê mới đây cho biết, người Việt Nam hoàn toàn không đọc sách chiếm tới 26%.
Tỷ lệ người thỉnh thoảng mới đọc sách chiếm 44%, người đọc thường xuyên chiếm tỷ lệ 30%. Bạn đọc của thư viện chỉ chiếm khoảng 8 - 10% dân số [4].

Chính vì vậy, chúng ta chỉ giỏi bắt chước chứ chưa phải thông minh sáng tạo, trẻ con luôn được dạy phải khôn để không bị thiệt thòi, người lớn tích lũy mưu mẹo và cho đó là kinh nghiệm quý giá. 
Rồi vận dụng mưu mẹo đổ cái khó, cái dở cho người khác. Suy cho cùng, cũng là thứ bản năng sinh tồn vốn có nhưng đó là cái khôn vặt vãnh chứ không cái thông minh (intelligent).

Dân sống quanh rừng nghèo xơ xác, tiền rơi vào túi ai?

Có câu chuyện về tư duy kinh doanh của người Do Thái rằng: Tại một ngã tư nọ ban đầu vắng quán xá, cửa hàng, nhận thấy người qua lại đông đúc ông A liền mở ngay một trạm xăng dầu.

Khi có trạm xăng dầu người đi đường dừng chân nhiều hơn, nhìn thấy cơ hội nên anh B mở ra một quán cà phê, ngày càng có nhiều người dừng lại ngã tư này.

Thấy vậy, chị C cũng quyết định mở một cửa hàng đồ ăn nhanh. Ngã tư ngày càng sầm uất, anh D đầu tư một trung tâm mua sắm lớn… Tất cả đều ăn nên làm ra, không ai “giẫm” chân ai.

Cũng là làm kinh tế nhưng ở nước ta lại có câu chuyện khác, khi tiêu được mùa người nông dân vội vàng chặt điều để đồng loạt trồng tiêu, đến thời tiêu xuống giá lại đồng loạt phá chuyển qua trồng bơ, đến lúc bơ mất giá cũng là khi người nông dân hụt hơi.

Chúng ta đang mắc phải căn bệnh đồng phục, đồng loạt, sợ sáng tạo, sợ phải đi một mình trên con đường lạ.

Đó là những câu chuyện về “chuỗi sáng tạo” hay còn gọi là “domino sáng tạo”, cung cách làm ăn kiểu “ôm chăn chạy theo người” kết quả níu chân kéo cẳng nhau cùng sụp xuống hố.

Báo điện tử VietNamNet dẫn lời Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn - Đại học New South Wales, Australia, trong thời gian 1998 - 2008, Việt Nam chỉ công bố được 5070 bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế, bằng 2% của Úc (238.076), 10% so với Singapore (51.762), 22% so với Thái Lan, và 34% so với Malaysia (1.431).

Trong thời gian 2000 - 2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế. Có năm chẳng có bằng nào.

Trong cùng thời gian đó, Thái Lan đăng kí được 310 bằng sáng chế, Singapore 3.644, cao hơn Việt Nam đến 192 lần![5].

Chúng ta chưa cần cù, chưa sáng tạo và khôn vặt nhiều hơn thông minh, hơn lúc nào hết cần nhìn nhận thẳng thắn vấn đề để không bị ngủ quên trên trên sự ảo tưởng.
Tài liệu tham khảo:
Trương Khắc Trà

Cứ lỗ triền miên thì thuế của dân trôi về đâu?

MAI ANH

(GDVN) - Theo Phó Giáo sư-Tiến sĩ Phạm Quý Thọ, doanh nghiệp nợ thì phải tự trả. Chính phủ cần dành nguồn lực để làm đường, xây trường học.
Những ngày qua Dự thảo Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) thu hút sự quan tâm lớn của dư luận. Trong đó vấn đề phạm vi nợ công đang có quan điểm khác nhau về việc có chuyển hay không chuyển nợ doanh nghiệp nhà nước vào nợ công?
Hiện phạm vi nợ công trong dự thảo luật vẫn quy định theo hướng giữ nguyên quy định của Luật Quản lý nợ công hiện hành.
Theo đó, nợ công bao gồm nợ Chính  phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương. 
Phạm vi nợ công là vấn đề đang được chuyên gia, dư luận quan tâm trong Dự thảo Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) - ảnh minh họa/ nguồn Báo Diễn đàn Doanh nghiệp.
Không thể tăng nợ quốc gia
Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư-Tiến sĩ Ngô Trí Long - nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu giá (Bộ Tài chính) cho biết, Dự thảo Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) ra đời trong bối cảnh Luật Quản lý nợ công 2009 đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần sửa đổi.
Các lĩnh vực bất cập của luật cần sửa đổi như phạm vi nợ công, trong đó băn khoăn về việc có tính các khoản nợ phát sinh từ điều hành ngân sách, nợ của doanh nghiệp nhà nước, nợ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vào nợ công hay không?
Theo Phó Giáo sư Ngô Trí Long, hiện dư nợ bảo lãnh Chính phủ đang ở mức 10,2% GDP, trong đó phần lớn là những khoản bảo lãnh dành cho doanh nghiệp (chủ yếu doanh nghiệp nhà nước). 
Bộ Tài chính đặt ra mục tiêu từ nay tới cuối năm 2020 sẽ duy trì dư nợ bảo lãnh không quá 10%, với mục tiêu con số này phải hạ xuống mức thấp nhất. 
Vì thế vấn đề có mở rộng phạm vi nợ công, chuyển nợ doanh nghiệp nhà nước vào nợ công cần phải nghiên cứu kỹ.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu giá (Bộ Tài chính) - ảnh nguồn Tạp chí Điện tử Đảng Cộng sản.
“Hiện nay đang có hai quan điểm: Thứ nhất, Nhà nước sẽ bảo lãnh cho các khoản vay doanh nghiệp nhà nước (có nghĩa các khoản vay doanh nghiệp nhà nước sẽ chuyển vào nợ công). Thứ hai là doanh nghiệp nhà nước tự vay, tự trả”, ông Long cho hay.
Phó Giáo sư Ngô Trí Long cho rằng, cả hai quan điểm đưa ra về vấn đề chuyển nợ doanh nghiệp nhà nước vào nợ công đều có lý lẽ riêng.
Cụ thể trong trường hợp không đưa nợ doanh nghiệp nhà nước vào nợ công đồng nghĩa Nhà nước không bảo lãnh khoản vay, khi đó doanh nghiệp nhà nước khó có thể tự đi vay nước ngoài.
Mặt khác kể cả khi vay được nhưng nếu doanh nghiệp nhà nước đầu tư thua lỗ không trả được nợ thì không chỉ uy tín doanh nghiệp bị ảnh hưởng mà sẽ làm giảm tín nhiệm quốc gia.

Hàng nghìn tỷ đồng bị hư hao, ai chịu trách nhiệm?

“Trường hợp bổ sung vào phạm vi nợ công các khoản nợ tự vay tự trả của doanh nghiệp nhà nước, khi đó nếu doanh nghiệp không có khả năng trả nợ Nhà nước phải có trách nhiệm trả nợ thay. Như vậy sẽ gia tăng nợ công quốc gia”, ông Long cho biết.
Từ phân tích trên Phó Giáo sư Long cho rằng vấn đề quan trọng nhất hiện nay là giải quyết và kiểm soát việc doanh nghiệp nhà nước đi vay.
Theo đó cần phải phân tích rõ kế hoạch tài chính công với đầu tư công cũng như cân đối thu chi ngân sách với khoản vay.
Ông Long cho rằng hiện nay vấn đề vay nợ nước ngoài đang “mạnh ai người ấy vay”, nhiều cửa đi vay, nhiều đơn vị phê duyệt và bảo lãnh. Cụ thể, trong khi Bộ Tài chính quản lý vay nợ nước ngoài, còn vay ODA và vay ưu đãi khác là Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý.
Theo ông Long cần quy về một mối, một cơ quan phê duyệt để từ đó quy trách nhiệm đơn vị, cá nhân trong quản lý, phê duyệt các khoản vay.
Chính phủ không thể nai lưng trả nợ
Theo nghiên cứu của Bộ Tài chính hơn 40 nước trên thế giới hiện nay nhà nước không bảo lãnh cho khoản vay doanh nghiệp nhà nước. Chỉ một số ít nước như Thái Lan, Serbia, Slovakia… có áp dụng nhưng chỉ bao gồm những doanh nghiệp công ích, gắn với nhiệm vụ nhà nước giao.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quý Thọ chuyên gia chính sách công - ảnh: H.Lực.
Từ nghiên cứu này Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quý Thọ - chuyên gia chính sách công cho rằng: “Không thể mở rộng phạm vi nợ công, ôm nợ doanh nghiệp nhà nước vào nợ quốc gia. Chính phủ “nai lưng” trả nợ cho các khoản vay của doanh nghiệp được”.
Phó Giáo sư Phạm Quý Thọ cho rằng, hiện nhiệm vụ doanh nghiệp nhà nước đang “hai trong một” vừa làm nhiệm vụ chính trị vừa kinh doanh. Chính điều này dẫn đến hiện đang có nhiều chính sách ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước.

Doanh nghiệp nhà nước yếu kém đang làm tăng thêm gánh nặng cho Chính phủ

“Khi chính sách ưu đãi càng nhiều doanh nghiệp nhà nước càng dựa dẫm, ỷ nại từ đó thụt lùi trên nhiều lĩnh vực.
Hiện doanh nghiệp nhà nước ở nhiều lĩnh vực không những thua doanh nghiệp FDI (doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam) mà thua cả doanh nghiệp tư nhân trong nước”, Phó Giáo sư Thọ đánh giá.
Điển hình như ngành thép trong khi Công ty Gang Thép Thái Nguyên được ưu đãi của Chính phủ bảo lãnh khoản vay đầu tư dự án nhà máy thép giai đoạn 2. Tuy nhiên, sau gần 10 năm vốn đầu tư đội lên gấp đôi nhưng đến nay phần đất thực hiện dự án vẫn chỉ là cỏ dại và những khối sắt hoen gỉ.
Trong khi đó có những doanh nghiệp tư nhân không nhận được sự ưu ái ấy thì lại đang phát triển rất tốt. Điều đó cho thấy quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại nhiều doanh nghiệp lỏng lẻo, dễ bị lợi dụng và nhiều trường hợp đều có mẫu số chung là: lỗ lớn, lỗ triền miên!
Theo ông Phạm Quý Thọ, doanh nghiệp nhà nước vay không trả được thì phá sản theo luật định. Ngược lại nếu ôm khoản nợ doanh nghiệp nhà nước đồng nghĩa Chính phủ chắc chắn phải trở nợ thay.
“Bài học việc Chính phủ phải trở nợ thay khoản nợ của Vinashin, Vinaline hay khoản nợ đầu tư dự án Nhà máy giấy Phương Nam là bài học nhãn tiền. Chính phủ không thể trả nợ mãi được.
Tiền Chính phủ trả nợ chính là tiền thuế của dân, giá như số tiền ấy thay vì phải trả nợ chúng ta đầu tư xây dựng trường học, bệnh viện làm đường giao thông. Quy định phạm vi nợ công trong Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) tác động rất lớn đến nền kinh tế vì thế cần thận trọng trước khi thông qua”, ông Thọ nói.
Mai Anh

SỞ DU LỊCH ĐÀ NẴNG NÓI DỐI VỀ KIẾN NGHỊ CỦA HIỆP HỘI DU LỊCH THÀNH PHỐ

 24/03/2017

23-3-2017
Ông Ngô Quang Vinh, Giám đốc Sở Du lịch Đà Nẵng sau khi chia tách. Ảnh: Infonet.
Sau buổi làm việc khẩn với Hiệp hội hôm qua, Sở Du lịch Đà Nẵng đã gửi Báo cáo nhanh tới các cơ quan liên quan cũng như dư luận, trong đó nói rõ:
“Qua kiểm tra thông tin với các Phó Chủ tịch và Tổng thư ký Hiệp hội thì ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội CHƯA TRAO ĐỔI nội dung, chưa thông qua Thường trực Hiệp hội […] nên nội dung văn bản này chỉ mang tính chất cá nhân”
Tuy nhiên, hôm nay Tổng Thư ký Hiệp hội Trịnh Bằng Có lại thông báo rõ những điều sau với báo giới:
– Ông Vinh đã gửi văn bản tới Thường trực Hiệp hội để xin ý kiến trước khi gửi Thủ tướng;
– Có 3/5 thành viên Thường trực Hiệp hội tán thành nội dung kiến nghị;
Thế là đã rõ, chính Sở Du lịch Đã Nẵng đã tiếm danh các thành viên trong Hiệp hội Du lịch để đưa ra một thông tin sai sự thật theo hướng tiêu cực nhắm tới Chủ tịch Hiệp hội Huỳnh Tấn Vinh, chỉ vì ông Vinh gửi kiến nghị đến Thủ tướng.
Chẳng những thế, Sở Du lịch còn có dấu hiệu can thiệp vào công việc nội bộ của Hiệp hội, như chính Tổng Thư ký Hiệp hội Trịnh Bằng Có phân tích dưới đây:
“Chủ tịch HHDL đại diện cho cá nhân là Chủ tịch hay là đại diện cho tiếng nói của Hiệp hội thì cũng đều được. Nếu ổng đại diện cho tiếng nói của Hiệp hội mà làm sai thì về Hiệp hội họp kiểm điểm, thậm chí cách chức ổng luôn chứ!.
Nếu quy trình gửi văn bản có đúng, sai thế nào thì đó là việc của Ban chấp hành HHDL sẽ về xem xét chứ không phải đến các anh là quản lý nhà nước mời lên đây, chủ trì bắt bọn tôi phải kiểm điểm. Sở Du lịch can thiệp sâu vào việc này có phải vì không đồng tình với văn bản kiến nghị gửi lên Thủ tướng? Thứ hai, các anh mời lên bàn về nội dung mà bây giờ các anh không bàn về vấn đề đó thì không đúng với nội dung giấy mời.
Thứ ba, tôi đặt vấn đề, cứ cho là các anh cho rằng hình thức làm như vừa rồi là không đúng, nhưng nội dung bên trong các anh có ủng hộ hay không thì cứ nói thẳng. Nhưng họ “trớ” (né), bảo ở đây không bàn về nội dung. Do vậy cuộc họp kết thúc. Họ bảo ký biên bản nhưng anh Vinh không ký, vì lý do Sở mời lên bàn về nội dung nhưng chúng tôi đề nghị bàn về nội dung thì họ lại không chịu bàn. Vậy thì ký cái gì?”
Như vậy, chỉ trong một văn bản mà Sở Du lịch vừa cung cấp sai sự thật, vừa có dấu hiệu vượt thẩm quyền khi can thiệp vào hoạt động nội bộ của một thiết chế xã hội hợp pháp khác là Hiệp hội Du lịch.
Nếu bộ máy địa phương tiếp tục thể hiện thái độ như trên với các tổ chức, cá nhân gửi kiến nghị đến Thủ tướng sẽ không tránh khỏi việc dư luận lời ra tiếng vào về một sức ép nào đó đến từ Thủ tướng. Để giải tỏa những nghi vấn này, thiết nghĩ Thủ tướng cần phải lên tiếng trả lời kiến nghị càng sớm càng tốt.
PS: Lưu ý rằng mọi kiến nghị như trên đều nằm trong khuôn khổ của Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của mọi công dân được bảo vệ bởi Điều 28 Hiến pháp Việt Nam hiện hành. Mọi hành vi, thái độ ngăn cản việc thực hiện quyền này của công dân đều phải bị coi là vi hiến.
___

BÀN VỀ PHẢN ỨNG CỦA SỞ DU LỊCH ĐÀ NẴNG TRƯỚC KIẾN NGHỊ GỬI THỦ TƯỚNG CỦA HIỆP HỘI DU LỊCH THÀNH PHỐ

23-3-2017
Ngay sau khi kết thúc buổi làm việc chiều nay với Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng xung quanh kiến nghị gửi Thủ tướng của họ, Sở Du lịch thành phố đã có Báo cáo nhanh gửi các nơi.
Tuy nhiên, thay vì tập trung sự chú ý vào 4 điểm kiến nghị của Hiệp hội, bao gồm (1) ngừng các dự án mới ở Sơn Trà; (2) xây dựng quy chế nghiêm ngặt đối với du khách; (3) hạn chế tác động vào thềm bờ biển quanh núi và (4) thành lập Khu dự trữ sinh quyển Sơn Trà, thì Sở lại ‘bỏ bóng đá người’, xoáy sâu vào một vấn đề không quá liên quan là lá thư gửi Thủ tướng đứng tên Hiệp hội hay Chủ tịch Hiệp hội Huỳnh Tấn Vinh.
Có 3 điều cần bàn trước phản ứng trên của Sở Du lịch:
1, Cách nêu vấn đề như thế của Sở chẳng những khá vô duyên mà còn có dấu hiệu can thiệp vào công việc nội bộ của Hiệp hội. Cứ cho là đúng như Sở nhận định, rằng ông Vinh đã tiếm danh của Hiệp hội khi gửi thư đến Thủ tướng, thì tốt hơn vẫn là để các thành viên của Hiệp hội trực tiếp lên tiếng, chứ sao phải cần đến Sở nói giúp. Hiệp hội nếu thấy ông Vinh lạm quyền thì còn có thể miễn nhiệm chức danh của ông ấy kia mà?
2, Bên cạnh đó, cách đặt vấn đề của Sở cũng thiếu hẳn những căn cứ pháp lý là Điều lệ của Hiệp hội. Sở cần phải chỉ ra giới hạn thẩm quyền của vị trí Chủ tịch Hiệp hội nằm ở đâu và chứng tỏ rằng việc gửi thư của ông Vinh đã vượt quá giới hạn đó. Tuy nhiên ngay cả khi làm được điều đấy đi chăng nữa, Sở vẫn không thoát khỏi hình ảnh đang can thiệp vào công việc nội bộ của Hiệp hội – một việc mà đến lượt nó lại vượt quá thẩm quyền của Sở.
3, Cuối cùng, ngay sau khi Sở ra Báo cáo nhanh, ông Huỳnh Tấn Vinh đã cung cấp nội dung email ông gửi đến các thành viên Thường trực Hiệp hội Du lịch, trong đó nói rõ đã gửi kèm bản thảo lá thư để các thành viên tham khảo và cho ý kiến. Nghĩa là nhận định của Sở rằng “ông Huỳnh Tấn Vinh chưa trao đổi nội dung, chưa thông qua Thường trực Hiệp hội” rất có thể không đúng với sự thật.
Tóm lại, Sở Du lịch Đà Nẵng nên quay về với đúng chức năng của mình, tham mưu cho các cơ quan hữu trách trả lời kiến nghị của Hiệp hội Du lịch, thay vì có những động thái can thiệp vào công việc điều hành nội bộ của Hiệp hội.
____
Phó Giám đốc Sở Du lịch ĐN Trần Chí Cường, người ký Báo cáo nhanh sau cuộc họp với Hiệp hội Du lịch ĐN (Nguồn:Viettimes)

Trung Quốc thực hiện chính sách “ngoại giao du lịch” để gây sức ép chính trị với Việt Nam? (Kỳ 1)

Lượng khách du lịch Trung Quốc sang Việt Nam thông qua cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) những ngày qua tăng đột biến, khiến nơi đây bị “thất thủ” vì tình trạng quá tải. Người ta ví, lượng khách Trung Quốc vào Việt Nam giống như cuộc “di dân” khổng lồ có một không hai trong lịch sử, đây là điều đáng mừng hay lo? Hiện trong nước đã có quá nhiều lao động người Trung Quốc tại các khu kinh tế trọng điểm. Điều này khiến người ta không khỏi nghi ngại, liệu đây có phải chính sách “ngoại giao du lịch” để gây sức ép chính trị với Việt Nam, mà trước đó Trung Quốc đã từng áp dụng với Đài Loan và Hàn Quốc?

Theo thống kê, năm ngoái lượng khách nước ngoài đến Việt Nam có khoảng 10 triệu khách, trong đó khách TQ có khoảng 2,7 triệu người chiếm 30%. Năm nay chỉ tính đến giữa tháng 3, lượng khách TQ đến Việt Nam thông qua Cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Quảng Ninh) vào Vịnh Hạ Long tăng mức kỷ lục. Khách TQ xếp thành những hàng người đứng chờ ở cửa khẩu làm thủ tục nhập cảnh giống như Vạn Lý Trường Thành.

Khách xếp hàng dài đợi làm thủ tục xuất cảnh tại cửa khẩu Đông Hưng để nhập cảnh vào Móng Cái ngày 17/3/2017
Dòng người xếp hàng dài dưới mưa đợi đến lượt xuất cảnh bên cửa khẩu Đông Hưng. Ảnh: Lao động.
Theo Ông Lương Quang Sở, trưởng ban quản lý khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái cho hay: “Thời điểm trước và sau Tết Nguyên Đán, số lượt xuất nhập cảnh qua cửa khẩu Móng Cái khoảng 8,000-10,000 lượt/ngày, trong đó khách du lịch Trung Quốc khoảng 2,500-3,500 người. Tuy nhiên, một tuần trở lại đây, số người xuất nhập cảnh lên tới 15,000 lượt/ngày, trong đó lượng khách du lịch Trung Quốc khoảng 5,000 người, tăng 50% so với cùng kỳ năm ngoái”.

Cũng theo ông Đoàn Mạnh Linh, Trưởng phòng Quản lý lữ hành, Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, gần đây có đến 90% lượng người Trung Quốc nhập cảnh để du lịch. Thậm chí người dân địa phương ví von rằng: “nếu cùng người nhà đi lên một cái đảo, người nhà mà bị lạc thì không thể tìm thấy vì nó quá đông du khách Trung Quốc”.

Khách TQ sang Việt Nam có những hành vi ngạo mạn không tôn trọng phong tục tập quán, lịch sử văn hóa Việt Nam, thậm chí họ còn công khai sử dụng đồng nhân dân tệ, công khai đốt cả tiền Việt Nam…nhưng không hề bị chính quyền Việt Nam xử lý.

Khách Trung Quốc công khai sử dụng đồng nhân dân tệ, công khai đốt cả tiền Việt Nam khiến dư luận vô cùng bức xúc
Chưa dừng lại ở đó, khách du lịch TQ còn có thái độ xem thường người Việt, thế nhưng lại có không ít doanh nghiệp Việt vì lợi nhuận mà “dựng” lên những cửa hàng chỉ để phục vụ người TQ. Cụ thể, tại cửa hàng Tiến Đạt Dream 2, phường Hà Khẩu, khi có người Việt Nam vào thì bị nhân viên chặn lại và nói: “Cửa hàng chỉ phục vụ khách của công ty lữ hành. Người Việt Nam không được vào, tham quan cũng không được”. Tương tự ở khu du lịch quốc tế Tuần Châu của đại gia Đào Hồng Tuyển, mỗi khách Trung Quốc đeo chiếc thẻ đeo có đánh số thì được vào, còn người Việt Nam không có thẻ thì đừng mơ mà vào được.

Ở trong nước, người dân không chỉ bị các tập đoàn kinh tế lớn như: FLC, Sun Group, Him Lam, Hoa Sen…cướp ruộng đất, xem thường tính mạng thậm chí đẩy họ vào bước đường cùng, mà nay lại bị người TQ chèn ép đủ điều. Người TQ đến Việt Nam được phục vụ như một ông chủ thật sự, còn người Việt bị xem như công dân hạng 2, liệu người Việt Nam còn chỗ đứng ngay trên quê hương đất nước của mình hay không?

Có ai tự đặt ra câu hỏi tại sao mỗi ngày có đến hơn 5.000 người TQ sang Việt Nam không? Đặc biệt là, họ đến đây dưới một dạng khuyến khích, tức được đi miễn phí. Bà Nguyễn Thị Dung, giám đốc một khách sạn tại Tuần Châu (TP.Hạ Long) cho biết: “khách Trung Quốc tăng cao do các “tour du lịch 0 đồng”.

Hàng ngàn người dân được đi du lịch miễn phí, chuyện thật tưởng như đùa nhưng nó lại xảy ra ngay tại TQ. Dư luận đặt ra câu hỏi, ai đã tài trợ cho hàng ngàn người dân này? Tại sao khuyến khích người dân sang Việt Nam, mà không phải là sang các quốc gia khác? Liệu có phải chính phủ TQ dùng lượng khách du lịch như “lá bùa” để gây sức ép chính trị với Việt Nam, và đây là một phần của kế hoạch “di dân” khổng lồ của TQ sang VN?

Khách Trung Quốc tại cảng tàu Tuần Châu, Hạ Long. Ảnh: P.V
Như ta đã biết, khách du lịch tăng là một trong nguồn thu nhập đáng kể cho một quốc gia. Với số lượng dân hơn 1 tỷ người, TQ không ngần ngại sử dụng tài nguyên sẳn có này làm “công cụ” gây sức ép với các quốc gia làm phật ý họ. Và các nước như Hàn Quốc và Đài Loan đang là nạn nhân của chính sách này. Ông Daniel Meesak, một chuyên gia về du lịch Trung Quốc hiện làm việc ở Đài Loan nhận định: “Trung Quốc hiện là thị trường du khách lớn nhất thế giới nên dĩ nhiên họ sẽ dùng lợi thế này để làm công cụ chính trị trong quan hệ với các nước láng giềng”. Liệu tới đây sẽ là Việt Nam chăng?

Tại sao TQ lại chọn Quảng Ninh là mục tiêu tấn công mà không là tỉnh khác? Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi núi, đặc biệt là giáp biên giới với TQ. Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc vừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Lợi dụng địa hình đặc thù này, TQ cho người dân sang sẽ không mất nhiều thời gian và tiền của, để thực hiện mưu đồ một cách nhanh chóng.

Hãy cảnh giác trong việc hợp tác kinh tế với TQ vì đằng sau đó luôn là mưu đồ chính trị. TQ là cha đẻ của những mưu kế, sách lược quân sự trong Binh Pháp Tôn Tử, nên họ rất đa mưu túc kế trong việc thực mưu đồ dưới những lớp vỏ bọc khác để đạt được mục đích. Với cuộc “di dân” khổng lồ này. TQ bắt đầu thực hiện kế hoạch thâu tóm Việt Nam trong định hướng đến năm 2020 mà dư luận đã đồn đoán bấy lâu nay chăng? Ngàn năm Bắc thuộc chẳng lẽ nay lại tái diễn?

Nhật Minh

 (FB Sự Thật Việt Nam)

Nguyễn Thị Từ Huy - Đã từng có các nỗ lực hoà bình ?

http://aer-vietnamwar.weebly.com/uploads/2/7/9/4/27942803/4843784_orig.png

 Hôm nay nhân đọc được bài « Thử đưa ra một vài tài liệu lịch sử nói về mưu toan thỏa hiệp với Bắc Việt của ông Ngô Đình Nhu » của tác giả Phong Uyên trên trang Dân Luận, xin giới thiệu thêm một tài liệu nói về nỗ lực không thành giữa chính quyền Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh nhằm tránh chiến tranh và xây dựng một mô hình hai nhà nước liên bang. Có những tài liệu khác cũng chỉ ra rằng Hồ Chí Minh đã mất cả năm 1946 để tìm giải pháp thoả hiệp với Pháp nhằm tránh chiến tranh, nhưng đã thất bại. Và thời điểm đó Hồ Chí Minh bị coi là việt gian bán nước, đến mức trong một diễn văn phải lên tiếng thanh minh. Cần phải tìm hiểu xem tại sao ở Việt Nam các nỗ lực hoà bình ở thế kỷ trước đều bị thất bại ? Trước đó, các nỗ lực đi theo con đường tri thức và học vấn (đại diện là Phan Chu Trinh) cũng thất bại trước lựa chọn bạo lực. Và về sau, trước mỗi cuộc chiến, các nỗ lực đàm phán vì hoà bình cũng thất bại. Anh em Ngô Đình Diệm phải trả giá vì nỗ lực đó, Hồ Chí Minh cũng bị trả giá, nhưng theo một cách khác. Nhưng cái giá lớn nhất thì người dân Việt Nam phải trả. Và còn tiếp tục trả cho đến bây giờ, bởi dường như cuộc chiến vẫn chưa kết thúc, hoà bình vẫn chưa thể nào lập lại được. Vì sao các nỗ lực hoà bình đều thất bại ? Ở đây tôi chỉ đặt câu hỏi, chứ chưa đưa ra câu trả lời.

 Lịch sử Việt Nam còn quá nhiều góc khuất đối với đa số người Việt Nam, dù rằng các góc khuất đó phần nào đã được soi sáng bởi các sử gia nước ngoài từ lâu. Nhiều tài liệu cho phép nghĩ rằng, người quyết định số phận nước Việt Nam cộng sản là Lê Duẩn chứ không phải Hồ Chí Minh. Và cái chế độ mà ĐCS hiện nay đang hy sinh tất cả để bảo vệ là chế độ của Lê Duẩn hay của Hồ Chí Minh ? Vấn đề này còn cần phải tiếp tục làm sáng tỏ.

Dưới đây tôi trích dịch nguyên văn một số đoạn trong cuốn « Ho Chi Minh - Du révolutionnaire à l'icône » của Pierre Brocheux, NXB Payot & Rivages, 2003.

« Ngay từ 1956, Ngô Đình Diệm, người không ký vào Hiệp định Genève, đã công khai bác bỏ ý tưởng về cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc. Việc loại bỏ chủ nghĩa cộng sản được tiến hành song song với sự xây dựng một Nhà nước dân tộc chủ nghĩa ở phía nam vĩ tuyến 17 dẫn ông Diệm tới chỗ điều hành quốc gia theo phương thức độc tài, bằng cách trấn áp tất cả mọi ý định chống đối không phải là cộng sản, dù đó là sự chống đối của các đảng truyền thống, của các giáo phái mang tính chất tôn giáo- chính trị (như Cao Đài và Hoà Hảo) hay là các phong trào phật giáo. Chính phủ ông Diệm sử dụng các biện pháp đặc biệt và các biện pháp cưỡng bức, mà xét từ một số phương diện, giống một cách lạ lùng các biện pháp của chính quyền cộng sản ở ngoài Bắc. Trong các vùng nông thôn, các toà án lưu động được thiết lập với những buổi tố cáo những người cộng sản (từ nay được gọi là Việt Cộng) và thực thi lập tức những bản án tuyên ngay tại chỗ ; dân cư trước tiên bị tập trung lại theo từng vùng và sau đó là trong các « ấp chiến lược » (1962-1963). […] Ở thành phố, chính phủ thiết lập hệ thống đăng ký gia đình trong mỗi khu phố ; Diệm khởi động kiểm duyệt báo chí, bỏ tù những người đối lập. Đồng thời, ông cố truyền bá một ý thức hệ chính thống lấy cảm hứng từ chủ nghĩa nhân cách tôn giáo (gây thiệt thòi cho bạn bè và đệ tử của Emmanuel Mouniet, những người chống đối) và đem giảng dạy trong các chủng viện, nơi các viên chức được mời đến để nghe giảng. (tr.235-236)

Tuy nhiên, càng gần đến kỳ hạn phải tổng tuyển cử, thì càng thấy rõ ràng là không thể có tổng tuyển cử, và hai « vùng tập kết » biến thành hai nhà nước đối kháng tự cố thủ và đồng thời tự đặt mình vào quỹ đạo của hai phe đang hiện diện lúc đó trên sân khấu quốc tế. Dường như Hồ Chí Minh từ lâu vẫn hy vọng rằng có thể tiến hành tổng tuyển cử và tránh được chiến tranh. Ông thực sự tin vào điều đó hay chỉ là nói cho có vẻ ? Năm 1963, có trao đổi thư từ giữa Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh, qua trung gian của M. Maneli ; trao đổi thư tín này đề cập đến một mô hình trung lập và cùng tồn tại giữa hai Nhà nước, thậm chí là Nhà nước liên bang : một mô hình mà đại sứ Pháp Lalouette đã đề xuất trong những cuộc đối thoại với Maneli. Quan điểm này chắc chắn là phù hợp với mong muốn sâu xa của Hồ Chí Minh, muốn giải quyết vấn đề bằng con đường ngoại giao. Dù rằng không có bước tiếp theo, nhưng sự khởi đầu của cuộc thương lượng này đủ làm cho người Mỹ lo lắng và chắc hẳn nó góp phần vào việc đại sứ John Cabot Lodge chấp nhận cho Bộ tham mưu quân đội lật đổ tổng thống của Việt Nam Cộng hoà.

Trong ban lãnh đạo của Đảng lao động, một phe cánh do Tổng bí thư Lê Duẩn cầm đầu, được sự ủng hộ của thư ký Ban tổ chức Lê Đức Thọ và tướng Nguyễn Chí Thanh,  Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân, đã khuyên và chuẩn bị cho cuộc chiến với miền Nam. Khi Hồ Chí Minh bộc lộ những lo lắng hay phản đối việc tiếp tục đẩy đất nước và nhân dân vào cuộc chiến tranh, vì ông sợ rằng Mỹ sẽ can thiệp ồ ạt và sợ cho những hậu quả trực tiếp và hậu quả về sau cho nhân dân, Lê Duẩn […] trả lời : « Bác đừng sợ, tôi đã dự tính hết rồi, tôi đã chuẩn bị hết rồi. » (tr.237-238)

Năm 1960, Đại hội lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam chính thức bầu Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất của Đảng […] Lê Đức Thọ, người giữ chức vụ then chốt là Thư ký Ban tổ chức, và Lê Duẩn tạo ra một cặp đôi chiếm đoạt quyền quyết định, kể cả sự biến mất của Hồ Chí Minh. Tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân, cũng giữ một vị trí then chốt, và trở nên ngang hàng với Võ Nguyên Giáp. Bộ ba này thực sự lãnh đạo chính trị Việt Nam và áp đặt quan điểm về cuộc chiến tranh một mất một còn với Miền Nam và không do dự tấn công trực diện các đội lính Mỹ. (Theo M.Maneli, ngay từ khi bắt đầu chiến sự ở miền Nam, Hồ Chí Minh không muốn tấn công trực tiếp quân đội Mỹ và các mục tiêu Mỹ). Kể từ đó, bộ ba lãnh đạo, và cùng với họ là đa số trong Trung Ương, họ chỉ còn thừa nhận ở Hồ Chí Minh vai trò ngoại giao và biểu tượng. » (tr.241)

Nguyễn Thị Từ Huy
(Blog RFA)

Xem thêm:

>

>

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

Chuyên gia Nga: Mỹ-Trung thỏa hiệp trên Biển Đông, ASEAN nguy ngập

Thứ Năm, 23/03/2017 13:41

Các chuyên gia Nga đã tích cực giải đáp câu hỏi rằng, các nước Đông Nam Á sẽ nguy khốn, khi Mỹ-Trung bắt tay thỏa hiệp trên Biển Đông.
Biển Đông đang có những diễn biến mới phức tạp
Theo một bài viết trên trang web của Hãng thông tấn Nga Sputnik, trong những ngày gần đây, lãnh đạo của một số quốc gia trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã đưa ra những tuyên bố có các nội dung cơ bản giống nhau vầ vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.
3 nguyên thủ quốc gia là Thủ tướng Thái Lan và Thủ tướng Nhật Bản, Tổng thống Philippines vừa qua đều có những phát ngôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tự do hàng hải ở Biển Đông. Theo họ, tự do hàng hải là nền tảng cho sự thịnh vượng và hòa bình trong khu vực.
Bộ trưởng Ngoại giao Malaysia nhấn mạnh, nước ông bác bỏ "đường 9 đoạn" phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông. Còn Bộ trưởng Tư pháp Philippines nói thêm rằng, nước ông có thể thắt chặt quan hệ với Mỹ trong bối cảnh Bắc Kinh đang có kế hoạch xây dựng một trạm radar trên bãi cạn Scarborough mà nước này tuyên bố chủ quyền nhưng đang bị Trung Quốc “phong tỏa trái phép”.
Trả lời phỏng vấn của hãng thông tấn Nga Sputnik, nhà chính trị học Nga, Giáo sư-Tiến sĩ Vladimir Kolotov đã nhấn mạnh rằng, rõ ràng là, cuộc cạnh tranh về địa chính trị giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã bước vào giai đoạn mới, có ảnh hưởng rất lớn đến tương lai khu vực.
Điều đáng chú ý là các vị lãnh đạo vừa nói ở trên đều là đại diện của các nước có căn cứ quân sự Mỹ hoặc thuộc ảnh hưởng của Mỹ.
Hoa Kỳ hiện đang kiến tạo hệ thống phòng thủ tên lửa trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, kéo dài từ Nhật Bản đến Australia, còn Trung Quốc bố trí các tiền đồn quân sự trên các hòn đảo và rạn san hô, kể cả trên các đảo nhân tạo mà họ xây dựng phi pháp ở Hoàng Sa và Trường Sa, cách xa bờ biển Trung Quốc tới hàng ngàn dặm.
Hiện nay, đây mới chỉ là một loạt trạm radar, nhưng sau đó chắc chắn sẽ xuất hiện các tên lửa đánh chặn và trên các đường băng có thể xuất hiện cả cả máy bay chiến đấu, còn trên cầu cảng là các chiến hạm.
Và Bắc Kinh sẽ dựa vào đó để lập ra Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) và những quy định có trời mới biết của họ. Như vậy, không chỉ tự do hàng hải mà cả chủ quyền của các nước ASEAN cũng bị xâm hại; hòa bình, ông định trong khu vực bị phá vỡ.
Theo vị chuyên gia Nga, tình hình trên Biển Đông đang có những diễn biến theo chiều hướng rất đáng lo ngại, mà vẫn đề đáng lo ngại nhất là nguy cơ Mỹ và Trung Quốc sẽ thỏa hiệp với nhau, "chia sẻ lại" vùng ảnh hưởng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tất nhiên là trong đó có Biển Đông.
Chuyen gia Nga: My-Trung thoa hiep tren Bien Dong, ASEAN nguy ngap
Biên đội tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc hành trình trên Biển Đông
Xuất hiện nguy cơ Trung-Mỹ thỏa hiệp trên lưng ASEAN?
Theo Giáo sư Kolotov, đáng tiếc, trong tình hình hiện nay, các nước ASEAN đang biểu hiện sự yếu kém trong chính sách của mình.
Vấn đề đáng buồn nhất là trong nội khối không có sự đoàn kết, do một số nước bị Trung Quốc dùng kinh tế để chi phối chính trị-ngoại giao, dẫn đến khối này không thể xây dựng được một “mặt trận thống nhất” để ngăn chặn bàn tay bành trướng của chính quyền Bắc Kinh.
Bên cạnh đó, sự không thống nhất trong biện pháp đấu tranh với Trung Quốc và huy động các nguồn lực để đối phó với dã tâm của Bắc Kinh cũng khiến ASEAN gặp nhiều khó khăn, bởi tất cả các nước Đông Nam Á đều nhỏ bé, có ảnh hưởng chính trị, tiềm lực kinh tế và thực lực quân sự yếu hơn rất nhiều so với Trung Quốc.
Các nước Đông Nam Á đang cố gắng tổ chức những cuộc đàm phán song phương theo chiều hướng phức tạp: Một số nước tiến hành với Trung Quốc, vài nước khác thì cố gắng thỏa thuận với Hoa Kỳ, thậm chí có cả những nước đang đàm phán với cả hai cường quốc.
Đã từ lâu Trung Quốc khuyến nghị rằng, các thành viên ASEAN nên giải quyết các tranh chấp bằng định dạng song phương. Hiện nay, cả chính quyền Donald Trump cũng nghiêng về phía đàm phán song phương, bởi tân tổng thống Donald Trump không thích các định dạng khối.
Sau khi tuyên bố từ bỏ hoặc dọa từ bỏ các định dạng liên kết (ngay cả đối với dự án TPP được coi là "con đẻ" của cựu Tổng thống Barak Obama), chính quyền Washington bắt đầu gây sức ép với từng nước ASEAN riêng rẽ, khiến các nước Đông Nam Á bị cả 2 cường quốc o ép.
Trong điều kiện này, ASEAN không có khả năng khiến nước khác quan tâm về quyền lợi của các thành viên Hiệp hội các nước Đông Nam Á, kể cả các đồng minh thân tín của Mỹ.
Không hề khó đoán là các nước Đông Nam Á sẽ biến thành các nạn nhân trong cuộc đối đầu giữa hai cường quốc Trung-Mỹ, trong tương lai họ sẽ hoàn toàn lép vế trong cuộc đối đầu với Trung Quốc.
Giáo sư Vladimir Kolotov, hiện là Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh, Đại học Tổng hợp quốc gia Saint Petersburg khẳng định rằng, điều duy nhất có thể mang lại những thay đổi tích cực cho ASEAN, là phương châm của vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam đã qua thử thách của lịch sử: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết".
Ông chỉ rõ, chỉ có sự đoàn kết của các nước trong khu vực, đặc biệt các thành viên ASEAN, xây dựng một mặt trận thống nhất chống lại những tham vọng của cả Trung quốc và Mỹ, mới có thể giúp các nước này ngăn chặn kịch bản nguy hiểm, đảm bảo an toàn hàng hải ở Biển Đông; gìn giữ hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực.
Nếu không có sự đoàn kết thì trong tương lai Trung Quốc và Mỹ sẽ chỉ đơn giản là “bẻ từng chiếc đũa”, xé lẻ bản đồ chính trị của ASEAN, bởi vì hai cường quốc này thường giải quyết các vấn đề của mình trên lưng các quốc gia "bé nhỏ" như các nước Đông Nam Á.
Thiên Nam

Thủ tướng yêu cầu kỷ luật vụ bổ nhiệm người nhà

23/03/2017 16:32 GMT+7

TTO - Thủ tướng Chính phủ yêu cầu chủ  tịch UBND các tỉnh, thành phố xem xét, có hình thức xử lý kỷ luật đối với cá nhân vi phạm pháp luật trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm.
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa có ý kiến về kết quả theo dõi, kiểm tra việc tuyển dụng, bổ nhiệm người nhà của lãnh đạo tại một số địa phương, đơn vị.
Theo đó, Thủ tướng yêu cầu chủ  tịch UBND các tỉnh, thành phố xem xét, có hình thức xử lý kỷ luật đối với cá nhân vi phạm pháp luật trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm. Các tỉnh thành có báo cáo về việc xử lý kỷ luật lên Thủ tướng trước ngày 30-4.
Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, có hình thức kỷ luật đối với cá nhân vi phạm pháp luật trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm tại Cục Thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc thực hiện trước ngày 30-4.
Bộ Nội vụ theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ nêu trên của các cơ quan, địa phương. Đồng thời Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nội vụ tăng cường thanh tra công vụ, kịp thời chấn chỉnh tiêu cực, vi phạm trong công tác quản lý cán bộ.
Bộ Nội vụ khẩn trương rà soát các quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, đề xuất phương án hoàn thiện, khắc phục bất cập trong quản lý cán bộ, công chức thời gian qua, lưu ý những vi phạm trong tuyển dụng, bổ nhiệm người nhà của người có chức vụ, quyền hạn.
THÂN HOÀNG - L.C