Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Lê Duẩn: Nhân vật lớn của lịch sử Việt Nam

Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, Lê Duẩn (1907 – 1986) là một trong số ít nhân vật có tầm vóc, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của đất nước.


Không giống với các mẫu nhân vật được phản ánh qua sách báo, truyền thông có phần lý tưởng hóa, mang nhiều yếu tố huyền thoại, có vẻ như ông là con người hiện thực hơn, chung đúc, hội tụ được nhiều phẩm chất, tính cách của con người Việt Nam. Điều đó khiến cho ở ông thể hiện rất rõ bóng dáng dân tộc: Vừa gan lì, ý chí, lại vừa giàu cảm xúc, dễ tha thứ. Có vẻ như ông là nhân vật thuần Việt, ít chịu ảnh hưởng bởi nước ngoài, mặc dù vẫn phải chịu tiếng rằng có lúc thân Trung hay thân Xô. Ông cũng là người không có thiên hướng che dấu tình cảm, mà để tính cách bộc lộ. Ông là một trong số hiếm lãnh đạo tối cao ở Việt Nam không để lại hồi ký. Ông mặc cho lịch sử tìm hiểu, phán xét mà không tự cung cấp hay định hướng thông tin cho người đời, cho hậu thế đánh giá về mình. 

Tầm ảnh hưởng của ông không chỉ bởi cương vị Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam, rồi sau là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi cương vị này có nhiều người từng nắm giữ, mà bởi khả năng kiểm soát quyền lực, làm chủ tình thế và dẫn dắt lịch sử đi theo mình. Ông là người chủ động, quyết đoán và quyết định vận mệnh của đất nước trong toàn bộ những năm tháng dài lâu (ít nhất là từ năm 1960 đến năm 1986) mà ông nắm giữ quyền lực tối cao.

Vai trò lịch sử của Lê Duẩn

Vai trò của ông trong lịch sử đất nước khiến người ta nghĩ đến những Hồ Quý Ly hay Minh Mạng, thậm chí là Trần Thủ Độ hay Nguyễn Ánh – Gia Long… Mặc dầu mỗi nhân vật có một bối cảnh, sứ mệnh lịch sử riêng, mà sự so sánh có thể là khập khiếng, song cũng giúp ta hình dung tầm vóc, vị trí của họ. Ông không phải là một nhà lập quốc nhưng ông có bản lĩnh và tầm vóc của kiểu người như thế. Ông luôn luôn là một thủ lĩnh thực sự, đúng với nghĩa của từ này, dù ở chiến trường miền Nam (trước năm 1957), hay khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị ký thác, trao giữ cương vị cao nhất của Đảng, kể từ năm 1960.

Nhắc đến Lê Duẩn, người ta thường nhắc đến những sự kiện, những dấu ấn của lịch sử như Đề cương Cách mạng miền Nam (1956), Nghị quyết 15 của BCH TW Đảng Lao động Việt Nam tháng 1/1959 về đường lối cách mạng miền Nam, Chiến dịch Mậu thân – 1968, Chiến dịch Xuân – Hè năm 1972, Chiến dịch mùa Xuân năm 1975, giải quyết “Vấn đề người Hoa” (1977-1982) và đến cả lý thuyết “Làm chủ tập thể” đầy “ảo vọng” (mà nay không còn được nhắc tới nữa) của ông, trong bão lốc quay cuồng của chiến tranh biên giới ở hai đầu đất nước (1975-1978, 1979), của tình thế đất nước bị bao vây cấm vận và đói khổ tột cùng sau sự nghiệp Thống nhất và trước Đổi mới. Dấu ấn của ông là hiện thực, ngồn ngộn và nổi trội, đầy tính thuyết phục nhưng cũng nhiều luồng dư luận khen, chê, không trộn lẫn với ai được. Song vượt lên trên tất cả, ông là một nhân vật lớn, một tầm vóc lịch sử chỉ đứng sau Hồ Chí Minh ở Việt Nam khoảng giữa và nửa sau thế kỷ 20.

Trên lĩnh vực đối ngoại, Lê Duẩn nổi lên như một nhân vật hàng đầu trong những quyết sách của đất nước, từ những năm 60 của của thế kỷ 20. Nét điển hình trong tư tưởng và hành động của ông, ở phương diện đối ngoại, đặt trên nền cảnh lịch sử đất nước những năm 60, 70 và 80 của thế kỷ 20 có thể tổng kết là: Không sợ Mỹ; không sợ các các nước lớn (gồm cả Liên Xô, Trung Quốc); đặc biệt cảnh giác và kiên quyết với Trung Quốc.

Không sợ Mỹ bởi ông tin vào dân tộc đã từng đánh thắng những đế quốc hung bạo nhất của mọi thời đại, bởi ông rất hiểu Mỹ trong những tình thế cụ thể nhất của tên đế quốc này. Chính những người lãnh đạo như ông, cùng với nhân dân anh hùng, đã tạo nên trên chiến trường miền Nam những câu khẩu hiệu, những phong trào thi đua “giết giặc lập công” nổi tiếng: “Tìm Mỹ mà giết”, “Nắm lấy thắt lưng địch mà đánh”, “Dũng sĩ diệt Mỹ”… độc nhất vô nhị trên hành tinh này. Hãy thử tìm ở những nơi quân Mỹ tham chiến gây tội ác trên thế giới xem, chẳng đâu có những phong trào như vậy. Những tư liệu lịch sử cho thấy, cái khó khăn của Lê Duẩn và nhóm lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc đối đầu với Mỹ không hoàn toàn bởi vũ khí và sức mạnh Mỹ, mà bởi thái độ của những nước đứng sau cuộc chiến của chúng ta, đó là Liên Xô, và đặc biệt là Trung Quốc với những tính toán khó lường của nước này. Song, khó khăn đó đã được ông hóa giải một cách ngoạn mục và mãi mãi là đề tài cho giới nghiên cứu lịch sử về sau.

Không ngại các nước lớn, không chỉ là Mỹ, mà còn là cả Liên Xô và Trung Quốc, hai bậc “đàn anh” trong hệ thống Xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ vị thế và lợi ích của mình, mỗi nước đều tìm cách tác động trực tiếp lên cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam. Trước đây, mặc dù có những giúp đỡ không nhỏ cho cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam nhưng Liên Xô và Trung Quốc đã hạn chế nền độc lập của nước ta chỉ ở phần phía Bắc vĩ tuyến 17. Khi Mỹ thay Pháp can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, Liên Xô, Trung Quốc lại một lần nữa tìm cách kiềm chế Việt Nam đánh Mỹ, để “đốm lửa nhỏ” Việt Nam không bùng lên thành “đám cháy lớn” nguy hại cho tham vọng của các đàn anh.

Là người thực sự nắm cương vị chủ chốt nhất của Đảng kể từ sau Đại hội III (1960), Lê Duẩn luôn hiểu sâu sắc tình thế bất lợi của cách mạng nước ta, nhưng vẫn tìm được cách tranh thủ sự ủng hộ cao nhất của cả hai nước đứng đầu khối Xã hội chủ nghĩa cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bên cạnh thước đo về tình đồng chí và tinh thần quốc tế vô sản, ông nắm được chìa khóa của sự giúp đỡ từ Liên Xô, Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam chính là những lợi ích của mỗi nước này trong cuộc mặc cả với Mỹ và phương Tây. Khó khăn lớn của cách mạng Việt Nam không chỉ bởi phải đối đầu với Mỹ, mà còn bởi những toan tính của mỗi nước Liên Xô, Trung Quốc trước cuộc chiến ở Đông Dương, và đặc biệt là mối bất hòa ngày càng nghiêm trọng, đi tới thù địch sâu sắc giữa hai nước. Lê Duẩn hiểu rất rõ tình thế ấy và ông đã thông thái đưa ra những xử lý quyết đoán, dũng cảm để hoàn thành mục tiêu độc lập, thống nhất cho nước nhà.

Xử lý mối quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc trong tình thế hai nước mâu thuẫn, thù địch nhau là một bài toán vô cùng khó của những người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam. Giống như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn không cực đoan, cũng không hữu khuynh. Khi trong phong trào Cộng sản quốc tế, người ta cô lập Trung Quốc thì ông gần Trung Quốc, người ta bài Liên Xô thì ông không ngại đứng cạnh Liên Xô. Gần giống với Hồ Chí Minh khi đi tìm đường cứu nước, dù Quốc tế Hai, Hai rưỡi hay Ba cũng được, miễn đó là tổ chức cách mạng bênh vực các dân tộc thuộc địa đấu tranh giành độc lập, ông thân thiện với cả Liên Xô, Trung Quốc đúng nghĩa chủ nghĩa quốc tế vô sản, đồng thời với một mục tiêu duy nhất: Tìm kiếm sự ủng hộ lớn nhất để đánh Mỹ, giải phóng miền Nam.

Cảnh giác và kiên quyết với Trung Quốc, đó cũng là thái độ rõ rệt của Lê Duẩn với sứ mệnh người đứng đầu hệ thống chính trị của Việt Nam trong hơn hai thập kỷ.

So với nhiều nhà cách mạng Việt Nam khác, ông trưởng thành từ cơ sở và là thủ lĩnh của cuộc chiến gian khổ ở miền Nam, hơn là ở chiến khu Việt Bắc. Kỷ niệm Việt Bắc của ông không nhiều, chủ yếu là khoảng thời gian tham dự Đại hội II của Đảng (1951). Ông muộn tiếp xúc với Trung Quốc và không có “duyên nợ” gì với Trung Quốc trong những ngày đầu cách mạng, nhưng lại là người nếm trải sớm nhất cùng với đồng bào miền Nam những đau khổ của cuộc chiến chống Mỹ dai dẳng, mà một trong những kẻ can thiệp để duy trì sự đau khổ đó chính là Trung Quốc thông qua Hiệp định Giơ-ne-vơ. Sau này, qua cuộc tiếp xúc đầu tiên của ông với Mao Trạch Đông tại Vũ Hán năm 1963 và qua nhiều cuộc tiếp xúc về sau với Mao và các nhân vật hàng đầu khác của Đảng Cộng sản Trung Quốc (Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình…), ông càng nắm rõ tham vọng và dã tâm của Bắc Kinh đối với Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Vì sao Hồ Chí Minh chọn Lê Duẩn?

Có người cho rằng Lê Duẩn được Hồ Chí Minh giao trọng trách Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam là muốn gửi gắm ước nguyện giải phóng miền Nam cho ông, bởi ông quyết liệt chống Mỹ (trong khi nhiều người khác quá thận trọng và e ngại Mỹ), đồng thời muốn cân bằng quyền lực Nam – Bắc để người miền Nam yên tâm đánh Mỹ. Song, có lẽ Hồ Chí Minh còn nhìn xa hơn thế, bởi nhận thấy Lê Duẩn không chỉ dám đánh Mỹ, mà còn dám đối diện với Trung Quốc. Ông không mắc nợ gì với Trung Quốc trong những ngày “rau măng cháo bẹ”, và tính cách của ông quyết liệt, lòng tự tôn dân tộc ở ông sáng rõ, mà đó lại là những tố chất cần nhất của một nhà lãnh đạo trong cuộc đối diện với Trung Quốc sau này.

Kinh nghiệm lịch sử cho ta bài học: Gia Long nhờ người Pháp (các sĩ quan hải quân), nhờ giáo sĩ Thiên Chúa để giành lại vương quyền từ tay Nhà Tây Sơn, nhưng cũng dùng Minh Mạng để ngăn chặn Pháp và kiên quyết với đạo Thiên chúa. Với Trung Quốc, Hồ Chí Minh vừa phải dựa vào để cứu nước, vừa lại nhìn rõ tim đen của những người đứng đầu Trung Nam Hải, không khác gì các Hoàng đế Thiên triều khi xưa. Nhưng ông đã quá thân với nhân dân Trung Quốc và bị ràng buộc bởi quá khứ đó. Ông cũng không thể tin tưởng những người đã ít nhiều duyên nợ cách mạng với Trung Quốc, bởi thế ông đã quyết định lựa chọn Lê Duẩn – một nhân cách thích hợp cho cuộc ứng phó với nước láng giềng vĩ đại phía Bắc sau này.

Đó là một sự lựa chọn có tính toán kỹ lưỡng và mang tính lịch sử cuối cùng của Hồ Chí Minh. Sau này, chính Lê Duẩn không chỉ là người lãnh đạo quyết liệt nhất cho ba cuộc tấn công nhằm giải phóng miền Nam: Cuộc tấn công Mậu thân – 1968 (nhưng chưa thành công), cuộc tấn công Xuân – Hè năm 1972 (góp phần buộc Mỹ rút quân) và cuộc tấn công Mùa Xuân năm 1975 (thành công); mà chính Lê Duẩn cũng là người đứng đầu cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Trung Quốc năm 1979, để dạy lại cho Bắc Kinh bài học về bá quyền nước lớn.

Trong những ngày tháng này, khi mà quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn luôn luôn nóng và cực kỳ nhạy cảm, nguy cơ chiến tranh chưa bao giờ  nguộn tắt, chúng ta lại càng thấm thía sâu sắc khi đọc lại những gì về Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nói, đã hành động kiên quyết với Trung Quốc từ cách đây hơn 3 thập niên.

Có thể nói, Lê Duẩn là nhân vật hàng đầu của Lịch sử Việt Nam hiện đại,  nổi bật trong ba nội dung lớn (theo cách nói của sử học trong nước), đó là: (1) Xây dựng thành công miền Bắc Xã hội chủ nghĩa làm “hậu phương lớn” cho cách mạng cả nước; (2) giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc; (3) hóa giải nhiều mưu đồ và đập tan cuộc xâm lược quy mô lớn của Trung Quốc, đưa dân tộc trở về với tâm thế lịch sử vốn có của nghìn năm trước, thoát khỏi giấc ngủ dài, đầy ác mộng bởi tình bạn “thắm thiết, chí tình” với người láng giềng phương Bắc.

Tư tưởng chiến lược và sách lược đối ngoại của ông, đặc biệt là việc xử lý mối quan hệ với Tam cường: Liên Xô – Mỹ – Trung Quốc cho mục tiêu cứu nước và giữ nước là bài học vô giá, còn nguyên độ nóng cho giới lãnh đạo và cho dân tộc Việt Nam hôm nay.

Tuy nhiên, đánh giá về ông là một công việc lớn và khó, đòi hỏi một tinh thần sử học nghiêm cẩn và dũng cảm.

Tác giả: Phạm Quốc Sử

(Nghiên Cứu Quốc Tế)

Xem thêm:

>

>

>


>

Chúng ta đã mất Biển Đông chưa ?; Thượng đỉnh ASEAN ở Manila thảo luận về Biển Đông

« Chúng ta đã bị mất Biển Đông hay chưa ? ». Đó là tựa đề bài viết của giám đốc tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á, ông Gregory B.Poling, trên trang web của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) ngày 11/04/2017.

media
Hải quân Việt Nam canh gác tại đảo Thuyền Chài, quần đảo Trường Sa, Biển Đông (ảnh chụp ngày 17/01/2013)REUTERS
Theo chuyên gia Poling, Trung Quốc đang ngày càng có nhiều quyền lực trên Biển Đông, nhờ vào các căn cứ có thể sử dụng cho mục đích quân sự lẫn dân sự tại quần đảo Trường Sa, và việc nâng cấp các thiết trí quân sự ở Hoàng Sa. Bắc Kinh nhất quyết bảo vệ « quyền lịch sử » rộng rãi nhưng lại được định nghĩa một cách mơ hồ của mình, về « đường lưỡi bò » chín đoạn, vốn vi phạm luật pháp quốc tế.

Trong khi đó tân chính quyền Mỹ vẫn chưa có chiến lược rõ ràng về Biển Đông, để lại những dấu hỏi lớn về sự cam kết của Washington trong khu vực. Và ngoại trừ Hà Nội, các nước Đông Nam Á khác có yêu sách chủ quyền tại Biển Đông, trước những diễn biến gần đây đã có những phản ứng khác nhau – từ thái độ chấp nhận thua cuộc ở Manila, đến ý định nhắm mắt cho qua của Jakarta và Kuala Lumpur.


Mặc dù trong chín tháng vừa qua Trung Quốc không leo thang mạnh mẽ lắm, nhưng chưa bao giờ cán cân ở Biển Đông nghiêng hẳn về Bắc Kinh như lúc này, với chiến lược bậc thầy của Trung Nam Hải. Tình hình này khiến các nhà phân tích phải tự hỏi, liệu Hoa Kỳ và các quốc gia có cùng quan điểm đã thua trận trong cuộc chiến đấu hay không. Phải chăng bây giờ là lúc Mỹ ra đi, bỏ lại các nước Đông Nam Á phải tự chống chọi, trong cuộc chiến không cân sức với Trung Quốc ?

Biển Đông chưa được quan tâm đúng mức

Một lý do chính cho sự yếu kém thấy rõ của Mỹ và các nước khác trong khu vực, là đa số người Mỹ vẫn chưa hiểu được tại sao Washington phải quan tâm đến Biển Đông. Ngay cả trong chính phủ, câu trả lời cũng bất nhất giữa các cơ quan với nhau, và trong nội bộ từng cơ quan. Làm thế nào Hoa Kỳ và các đối tác có thể theo đuổi một chiến lược dẫn đến thành công, hoặc thừa nhận thất bại, nếu họ không thể đồng ý với nhau về những gì được coi là chiến thắng ?

Chính quyền Obama đã duy trì một danh sách khá logic về các lợi ích của Mỹ tại Biển Đông : bảo vệ trật tự dựa trên cơ sở luật pháp, duy trì an ninh khu vực (trong đó có sự an toàn của các đồng minh Mỹ), và tự do hàng hải. Tiếc rằng cũng như nhiều chính sách châu Á khác, đội ngũ của ông Obama chứng tỏ có tầm nhìn chiến lược mạnh mẽ, nhưng trong việc giải thích và áp dụng thì lại yếu ớt. Cũng giống như khái niệm xoay trục được định nghĩa qua các sáng kiến an ninh, mặc dù đã tốn rất nhiều thời gian cho các nỗ lực kinh tế, ngoại giao và văn hóa xã hội, cuộc tranh luận về Biển Đông vẫn bị đè nặng bởi lý giải sai lầm rằng đây là sự ganh đua giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về quân sự.

Tranh chấp Biển Đông không phải là vấn đề song phương Mỹ-Trung, và không thể giải quyết bằng cách mặc cả giữa Washington và Bắc Kinh. Biển Đông cũng không phải chủ yếu là sự đối đầu quân sự, và như vậy không thể có giải pháp quân sự.

Điều này không có nghĩa là quân đội Trung Quốc không nhìn thấy một mệnh lệnh chiến lược mạnh mẽ trong tranh chấp Biển Đông, hay năng lực bành trướng của Trung Quốc đang mở rộng từ các đảo nhân tạo, sẽ không gây khó khăn cho cuộc chiến đấu của Hoa Kỳ trong một cuộc xung đột tiềm năng. Đó là những nhân tố góp phần trong tranh chấp, cũng như việc tranh giành tài nguyên, tuyến đường hàng hải chiến lược và nhiều vấn đề khác. Nhưng đây không phải là gốc rễ của tranh chấp Biển Đông, cũng không là lợi ích cơ bản của Hoa Kỳ và các nước bạn.


Như chuyên gia Bill Hayton đã lập luận một cách đầy thuyết phục, tranh chấp Biển Đông thực chất là sự ganh đua của các chủ nghĩa dân tộc. Đặc biệt là luận điệu về các quyền của Trung Quốc, đang thách thức mọi sự kiện lịch sử, luật pháp quốc tế và lợi ích của các nước láng giềng. Bắc Kinh cho là mình có quyền và quyết tâm độc chiếm Biển Đông bằng mọi phương tiện cần thiết. Việc này đã trực tiếp đe dọa lợi ích của Hoa Kỳ, mà lợi ích này vượt xa lên trên khả năng tự do hoạt động của Hải quân Mỹ tại Biển Đông.

Đó chính là một hệ thống quốc tế rộng rãi – gọi là « trật tự dựa trên luật pháp » vẫn thường được chính quyền Obama nêu ra. Trong đó các Nhà nước đều bình đẳng với nhau theo các quy định và tiêu chuẩn đã cùng thỏa thuận ; đàm phán cũng như thủ tục trọng tài thay thế cho cưỡng bức và vũ lực - được coi là phương cách giải quyết tranh chấp.

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) và các luật lệ theo tập quán quốc tế làm chỗ dựa cho công ước, là những thành phần chủ yếu của hệ thống này. Tất cả đã bị thiệt hại nghiêm trọng bởi những hành vi nhằm xác quyết chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Các quốc gia khác sẽ nhanh chóng nhận ra rằng họ bị bất lợi khi nghiêm túc tôn trọng UNCLOS, trong khi Trung Quốc bất chấp.

Hậu quả : Biển Đông sắp mất

Tiếc thay, trật tự dựa trên cơ sở luật pháp thì trừu tượng, không giúp bán được báo. Sự yểm trợ quân sự của Hoa Kỳ và các cường quốc bậc trung khác như Úc, Nhật Bản, Ấn Độ hết sức quan trọng để giúp các nước Đông Nam Á không bị Trung Quốc đè bẹp.


Hoa Kỳ phải đóng vai trò chủ đạo để răn đe thái độ hiếu chiến và các hành động leo thang quan trọng khác của Trung Quốc - như đã từng lên tiếng cảnh cáo ý định xây dựng trên bãi cạn Scarborough mùa xuân vừa rồi. Các quốc gia đối tác cần tìm cách tăng cường năng lực cho Hải quân và tuần duyên các nước Đông Nam Á, để họ có thể bảo vệ vùng biển tranh chấp, vốn đang phải đối mặt với áp lực chưa bao giờ tăng cao đến thế của Trung Quốc. Nhưng những nỗ lực an ninh này nhằm cải thiện tình hình tại chỗ, chứ chưa phải là hồi kết.

« Chiến thắng » tối hậu trên Biển Đông cho Hoa Kỳ và các đối tác là thuyết phục được Trung Quốc điều chỉnh những yêu sách của mình cho phù hợp với luật pháp quốc tế, và bình đẳng với các nước láng giềng. Đó là một thử thách khổng lồ, đòi hỏi phải có một chiến dịch ngoại giao và luật pháp tập trung vào việc vạch trần tính bất hợp pháp của các yêu sách Trung Quốc, khiến Bắc Kinh phải mang tai tiếng.

Quan trọng nhất là phải có những cam kết dài hạn. Việc vạch mặt chỉ tên và tố cáo để Trung Quốc tỏ ra khiêm tốn hơn, có thể phải mất cả một thập niên. Trung Quốc không phải là miễn nhiễm trước áp lực quốc tế hay trước cái giá phải trả cho việc trở thành một kẻ ở ngoài vòng pháp luật, nhưng sức kháng cự của họ rất lớn.

Hoa Kỳ và Philippines muốn tập hợp một liên minh quốc tế cho nỗ lực này. Trước hôm Manila chiến thắng ở Tòa án Trọng tài Thường trực La Haye tháng 7/2016, một số đáng kể các quốc gia trên thế giới đã kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết của tòa. Nhưng liên minh này đã tan rã sau khi tổng thống Rodrigo Duterte quyết định từ bỏ việc sử dụng áp lực quốc tế, với hy vọng Bắc Kinh sẽ đáp ứng một cách hòa hoãn hơn.

Quyết định của ông Duterte chủ yếu do quan điểm tư tưởng của ông, nhưng được biện minh là do Hoa Kỳ sẽ không bảo vệ Philippines chống lại Trung Quốc. Đây là một vết thương tự gây ra, có thể tránh được nếu chính quyền Obama nói rõ là hiệp ước quân sự hỗ tương giữa hai nước có thể áp dụng, để hỗ trợ cho quân đội và tàu chiến của Philippines trong vùng biển tranh chấp.


Trong khi được Duterte chìa ra cành ô liu và chính quyền Trump lo tập trung vào những hồ sơ khác, Trung Quốc tiếp tục củng cố các lợi ích của mình. Nhờ có các hải cảng và cơ sở hạ tầng đi kèm, số lượng tàu Trung Quốc tăng lên đáng kể tại khu vực nửa phía nam của đường 9 đoạn. Trong khi đội quân tiên phong này liên tục lấn chiếm vùng biển của các nước láng giềng, Trung Quốc tăng cường hơn bao giờ hết khả năng can thiệp, để ngăn trở các nước Đông Nam Á sử dụng vùng biển và đáy đại dương mà luật pháp quốc tế bảo đảm cho họ.

Nếu không có gì thay đổi, Trung Quốc trên thực tế sẽ kiểm soát toàn bộ vùng biển, vùng trời và tài nguyên của Biển Đông. Hải quân Hoa Kỳ có thể tiếp tục tiến hành các hoạt động ở vùng biển tranh chấp, làm ngơ trước những hành vi quấy nhiễu của đối tác Trung Quốc, nhưng sẽ không dễ chịu chút nào cho các nước Đông Nam Á cũng đòi hỏi chủ quyền Biển Đông. Việt Nam có thể tiếp tục phản đối thực tế mới này, nhưng những nước khác có cơ phải thích ứng với thực trạng tại chỗ. Hậu quả là hệ thống quốc tế và trật tự khu vực châu Á sẽ thường xuyên bị thay đổi theo hướng gây thiệt hại nặng nề cho lợi ích của Mỹ.

Thế nên, phải chăng Hoa Kỳ và các nước bạn đã bị mất Biển Đông ? Câu trả lời là chưa. Nhưng họ đang đánh mất, và mất một cách nhanh chóng.

Để thay đổi tình hình, trước tiên Washington cần phải nhìn nhận tầm quan trọng của hồ sơ này. Chính quyền Trump cần có chính sách rõ ràng và mạnh mẽ để bảo vệ lợi ích của Mỹ, đặc biệt là trật tự dựa trên luật pháp tại Biển Đông. Thứ đến, chính phủ Hoa Kỳ cần nắm lấy cơ hội, khi chính quyền Duterte nhận ra rằng Bắc Kinh không nhượng bộ như họ vẫn hy vọng - có lẽ qua lệnh cấm đánh cá trong khu vực, kể cả ở bãi cạn Scarborough kể từ ngày 1/5 của Trung Quốc.

Để đặt nền móng cho việc này, chính quyền ông Trump phải làm một việc từ lâu được chờ đợi : nói rõ rằng theo hiệp ước hỗ tương giữa hai nước, Mỹ sẽ yểm trợ lực lượng Philippines tại Biển Đông, vì vùng biển này thuộc Thái Bình Dương, theo điều V của hiệp ước. Như vậy công việc khó khăn là tái lập lực lượng quốc tế đối phó với yêu sách của Trung Quốc mới có thể khởi đầu.

Thụy My

(RFI)

Thượng đỉnh ASEAN ở Manila thảo luận về Biển Đông

mediaTổng thống Philippines Rodrigo Duterte (T) nhận quyền chủ tịch ASEAN 2017 từ tay thủ tướng Lào tại phiên bế mạc Thượng Đỉnh ASEAN ở Vientiane (Lào) ngày 08/09/2016.Ảnh : asean.org
Hội nghị thượng đỉnh Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN sẽ diễn ra vào ngày 29/04/2017, tại Manila, Philippines, quốc gia chủ tịch luân phiên. Ngoài việc thảo luận tăng cường hợp tác để xây dựng và nâng cao ý thức cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, các vấn đề an ninh khu vực như các tranh chấp ở Biển Đông và tình hình bán đảo Triều Tiên nằm trong chương trình nghị sự.
Báo Thái Lan The Nation, ngày 12/04/2017, trích lời phó tổng vụ trưởng vụ ASEAN, bộ Ngoại Giao Thái Lan Suriya Jindawong, cho biết, cuộc họp thượng đỉnh ASEAN năm nay mang chủ đề: “Tăng trưởng dựa vào dân và cải tiến công nghệ, phát triển một ASEAN bền vững”.
Tuy nhiên, cuộc họp thượng đỉnh cũng sẽ đề cập đến Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Đông COC, mang tính ràng buộc về pháp lý, do ASEAN và Trung Quốc cùng soạn thảo để kiểm soát hành vi của các quốc gia tại khu vực có tranh chấp chủ quyền lãnh hải.
Philippines và một số thành viên khác của khối như Việt Nam, Malaysia đang có những tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông.
Năm 2002, khối ASEAN đã ký bản Tuyên Bố Về Ứng Xử Các Bên tại Biển Đông (DOC). Thế nhưng văn kiện không mang tính ràng buộc này đã thất bại trong việc ngăn ngừa tình hình căng thẳng thêm tồi tệ.
Theo phó tổng vụ trưởng vụ ASEAN bộ Ngoại Giao Thái Lan, thì hiện nay, chuyên gia và quan chức của ASEAN và Trung Quốc đang xây dựng một bộ khung cho Bộ Quy Tắc – COC và dự kiến kết thúc vào giữa năm nay. Một khi bộ khung được thông qua, các bên sẽ bắt đầu các cuộc đàm phán về nội dung Bộ Quy Tắc Ứng Xử.

Giá của 'vị thế'; GDP dự kiến tăng, hiệu quả doanh nghiệp lại giảm

Thủ tướng Nga ông Dmitry Medvedev bắt tay với người đồng cấp bên phía Việt Nam là ông Nguyễn Tấn Dũng trong một buổi kí kết hợp tác tại Burbabai, Kazakhstan, ngày 29 tháng 05 năm 2015, sau khi Việt Nam kí thoả thuận hợp tác với khối EEU.
Thủ tướng Nga ông Dmitry Medvedev bắt tay với người đồng cấp bên phía Việt Nam là ông Nguyễn Tấn Dũng trong một buổi kí kết hợp tác tại Burbabai, Kazakhstan, ngày 29 tháng 05 năm 2015, sau khi Việt Nam kí thoả thuận hợp tác với khối EEU.
Dự tính thu thêm 8.000 đồng trên mỗi lít xăng đang làm dư luận Việt Nam sôi sùng sục. Thiên hạ mổ xẻ dự tính này ở nhiều khía cạnh nhưng có một yếu tố hình như chưa ai để ý: Dự tính ấy là hệ quả tất yếu từ nỗ lực nâng cao “vị thế quốc gia”…

“Môi trường” là môi trường nào?

Tuần rồi, chính phủ Việt Nam chuyển dự luật liên quan đến việc tăng thuế bảo vệ môi trường sang quốc hội, kèm đề nghị đưa ngay dự luật này vào chương trình làm luật năm nay để thông qua – ban hành – thực hiện sớm.

Dự luật liên quan đến việc tăng thuế bảo vệ môi trường được công chúng theo dõi sát sao, quan tâm một cách đặc biệt, thậm chí có facebooker như Vu Hai Tran, mời mọi người cùng bàn xem làm thế nào để tác động khiến quốc hội bác bỏ dự luật.

Người ta ước đoán, nếu dự luật được quốc hội thông qua, nhà nước ban hành và chính phủ thực hiện, giá các loại hàng hóa, dịch vụ sẽ cùng thăng thiên do giá xăng tăng thêm khoảng 40% so với hiện nay.

Lúc đầu, Bộ Tài chính – cơ quan thay mặt chính phủ soạn thảo và trình dự luật liên quan đến việc tăng thuế bảo vệ môi trường - giải thích, khoản dự trù thu thêm (8.000 đồng/lít xăng) nhằm có thêm tiền để “giải quyết vấn đề môi trường”.

Tại Việt Nam, xăng – một loại hàng hóa đặc biệt, góp phần quyết định giá các loại sản phẩm, dịch vụ khác, giúp nâng hay giảm khả năng cạnh tranh khiến các doanh nghiệp tồn tại hoặc phá sản - đang cõng nhiều thứ thuế (thuế giá trị gia tăng 10%, thuế tiêu thụ đặc biệt 10%, thuế nhập khẩu dao động từ 5% đến 10%, thuế bảo vệ môi trường 3.000 đồng/lít). Những khoản thuế ấy vốn đã chiếm đến 41,5% giá bán mỗi lít xăng. Theo ước tính của các chuyên gia, nếu không phải cõng những loại thuế vừa kể, giá xăng ở Việt Nam chỉ chừng 7.150 đồng/lít chứ không phải 17.230 đồng/lít như hiện nay.

Dự tính thu thêm 8.000 đồng/lít xăng của chính phủ Việt Nam để “bảo vệ môi trường” bị nhiều chuyên gia cho là phi lý vì trước giờ, chỉ có ¼ tổng số tiền thu từ “bảo vệ môi trường” qua xăng (3.000 đồng/lít) được dùng vào những hoạt động bảo vệ môi trường.

Qua báo Tuổi Trẻ, ông Ngô Trí Long, cựu Viện phó Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả, cho biết, năm 2016, tiền thu được qua xăng để “bảo vệ môi trường” là 42.393 tỉ đồng nhưng thực chi cho bảo vệ môi trường chỉ có 12.290 tỉ.

Giống như nhiều chuyên gia khác, ông Long nhận định, 8.000 đồng mà chính phủ dự định thu thêm trên mỗi lít xăng dưới danh nghĩa “bảo vệ môi trường” thực ra chỉ nhằm bù đắp sự thiếu hụt trầm trọng về ngân sách.

Mới đây, ông Phạm Đình Thi, Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế của Bộ Tài chính – nơi thay mặt chính phủ soạn thảo dự luật liên quan đến việc tăng thuế bảo vệ môi trường – thú thật, thuế “bảo vệ môi trường” thu qua xăng là một kiểu… đầu dê. Nguồn tiền thu được dưới danh nghĩa này giống như một thứ… thịt chó – dùng để chi tiêu cho các nhu cầu khác ngoài hoạt động bảo vệ môi trường. Ông Thi nói thêm, dự luật liên quan đến việc tăng thuế bảo vệ môi trường là một “công cụ tài chính” nhằm “ứng phó với xu hướng giảm thuế nhập khẩu do tham gia các hiệp định thương mại.”

Hậu quả của “vị thế”

Điều mà ông Thi tiết lộ - dự tính tăng thuế bảo vệ môi trường nhằm “ứng phó với xu hướng giảm thuế nhập khẩu do tham gia các hiệp định thương mại”, khiến người ta nhớ đến chuyện mà tờ Dân Trí từng đưa hồi tháng ba năm 2016: Bộ Tài chính phát giác Việt Nam bị “hớ” trong đàm phán riêng với Hàn Quốc về việc thực hiện Hiệp định Tự do thương mại giữa ASEAN với Hàn Quốc (AKFTA): Đồng ý hạ mức thuế nhập khẩu xăng dầu xuống 10%. Mức thuế đó vừa khiến ngân sách Việt Nam mất một khoản thu lớn, vừa đẩy các doanh nghiệp sản xuất xăng dầu mà Việt Nam đã dốc ngân sách đầu tư vào tử địa.

Chẳng hạn Việt Nam đã bỏ ra ba tỉ Mỹ kim để xây dựng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất ở Quảng Ngãi và liên tục dùng ngân sách bù lỗ cho nhà máy này suốt bảy năm qua. Khi phải giảm thuế nhập cảng xăng dầu xuống 10% như đã cam kết, điều đó chẳng khác gì Việt Nam tự nguyện “bóp mũi” những đứa con mình rứt ruột đẻ ra như Nhà máy lọc dầu Dung Quất (phải nộp thuế doanh thu là 20%).

Nếu không muốn chôn những doanh nghiệp như Nhà máy lọc dầu Dung Quất, chính phủ phải hạ thuế doanh thu đối với những doanh nghiệp này từ 20% xuống 10%. Tuy nhiên làm như thế thì ngân sách Việt Nam thất thu thêm một khoản khổng lồ khác, sau khi đã mất một khoản khổng lồ vì đã gật đầu chấp nhận hạ mức thuế nhập cảng xăng dầu xuống 10%!

Cũng theo tờ Dân Trí, Bộ Công Thương đã thử thương lượng lại với Hàn Quốc song Hàn Quốc không những không đồng ý mà còn dọa rằng, nếu điều chỉnh Việt Nam sẽ gặp thêm rắc rối, bởi sẽ “lộ” ra việc, trước khi đàm phán riêng với Hàn Quốc về việc thực hiện Hiệp định Tự do thương mại (FTA) Việt - Hàn, Việt Nam đã vi phạm AKFTA suốt từ 2007 đến 2015!

Vài ngày sau khi đăng “Việt Nam đã ký ‘hớ’ điều khoản về xăng dầu với Hàn Quốc”, tờ Dân Trí đã “tự ý đục bỏ” bài này. Tuy nhiên vẫn có thể tìm đọc lại tại một số chỗ khác trên Internet. Chỉ những bài viết hồi tháng 5 năm 2015 – thời điểm Việt Nam ký riêng với Hàn Quốc một FTA về việc thực hiện AKFTA – ca ngợi “bản lĩnh, trí tuệ” của Đảng, Nhà nước, chính phủ Việt Nam, kiểu như “FTA với Hàn Quốc: Mang tỏi ớt, tôm cua cá đổi lấy xăng dầu, ô tô” là còn nguyên.

Cuối năm ngoái, Tổng cục Hải quan Việt Nam ước tính, trong năm 2016, FTA với Hàn Quốc đã làm ngân sách Việt Nam thất thu hơn 10.000 tỉ đồng. Thất thu thuế nhập khẩu xăng dầu từ Hàn Quốc thì chỉ còn một cách: Tăng thuế bảo vệ môi trường – lấy tiền của dân bù vào!

Theo một báo cáo do Bộ Công Thương soạn thảo và công bố hồi tháng 12 năm ngoái, Việt Nam đã ký kết, thực thi 10 FTA, kết thúc đàm phán 2 FTA và đang đàm phán 4 FTA khác.

Đó cũng là lý do ông Nguyễn Tấn Dũng, người từng là Thủ tướng Việt Nam giai đoạn từ 2006 đến 2016, được xưng tụng như một “người hùng” bởi có công khai phá con đường đưa Việt Nam tham gia vào các FTA với 57 quốc gia.

Tháng 2 năm 2016 - thời điểm Bộ Công Thương đang vật nài Hàn Quốc, xin nâng mức thuế 10% đối với xăng dầu xuất cảng sang Việt Nam lên 20% vì “hớ”, báo điện tử của chính phủ ca ngợi ông Dũng có “tầm nhìn thời đại” về các FTA.

Các chuyên gia kinh tế của Việt Nam không “nhìn” như vậy. Đã có rất nhiều chuyên gia thay nhau cảnh báo liên tục rằng, việc ký quá nhiều FTA, bất chấp nội lực của Việt Nam đã kém lại thiếu chuẩn bị kỹ lưỡng, sẽ gây ra những hậu quả khôn lường cho kinh tế Việt Nam.

Tháng 11 năm ngoái, khi tường trình về ngân sách với Quốc hội, Bộ trưởng Tài chính giải thích bội chi trở thành trầm trọng là vì các nguồn thu giảm đáng kể và một trong những lý do khiến các nguồn thu giảm đáng kể là vì tác động của những FTA mà Việt Nam đã ký kết.

Những FTA mà Việt Nam đã ký kết chỉ mới mở toang cửa cho hàng hóa nước ngoài tràn vào Việt Nam, chính phủ Việt Nam chưa làm bất cứ điều nào hữu ích để hàng hóa Việt Nam có thể dễ dàng xâm nhập các thị trường nước ngoài.

Theo Bộ Công Thương Việt Nam, trong hai tháng đầu năm 2017, Việt Nam nhập siêu khoảng 3,5 tỉ Mỹ kim, so với cùng kỳ năm ngoái, những loại hàng hóa cần kiểm soát và hạn chế nhập khẩu đều tăng vọt. Chẳng hạn so với cùng kỳ năm ngoái, hàng tiêu dùng, rau - củ - trái cây tăng tới 67,1%. Trong khi nông dân trên khắp Việt Nam liên tiếp đổ bỏ đủ loại rau, củ, trái cây, gia cầm, gia súc chết già cả vì hệ thống phân phối trong nước quá tệ lẫn bị động trong xuất khẩu thì đủ loại trái cây tương tự từ Trung Quốc, Úc, New Zealand, … ồ ạt đổ vào thị trường Việt Nam. Theo những FTA mà Việt Nam đã ký thì từ năm 2015, rau, củ, trái cây Trung Quốc xuất kẩu sang Việt Nam đã không phải trả thuế nhập khẩu. Sang năm, sẽ tới lượt rau, củ, trái cây của Úc, New Zealand,… hưởng thuế suất nhập khẩu là… 0%!

Một số chuyên gia kinh tế từng than rằng, Việt Nam đã nhượng bộ rất nhiều để có thể ký kết các FTA nhưng các doanh nghiệp tại Việt Nam chỉ mới khai thác được FTA đã ký với Hàn Quốc – khoảng 73% chứng nhận xuất khẩu sang Hàn Quốc được hưởng ưu đãi. Tuy nhiên đa số doanh nghiệp được hưởng ưu đãi trong số 73% này là doanh nghiệp Hàn Quốc đang hoạt động tại Việt Nam, chứ không phải doanh nghiệp Việt Nam! Những chuyên gia này nhiều lần nêu thắc mắc là nếu doanh nghiệp Việt Nam không hưởng được chút lợi lộc nào thì đàm phán – nhượng bộ - ký kết các FTA để làm gì?

Không có ai trả lời.

Tháng 2 năm 2016, tờ Người Lao Động đăng bài “Việt Nam đứng dậy sáng lòa” của ông Nguyễn Ngọc Trường, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển quốc tế, ca ngợi việc ký kết FTA với Liên hiệp châu Âu. Sau đó một tháng, khi công bố Bạch Thư 2016 và triển vọng của FTA giữa Việt Nam với Liên hiệp châu Âu, ông Bruno Angelet, Đặc sứ Liên hiệp châu Âu tại Việt Nam lưu ý một cách nhẹ nhàng rằng, “nếu không chuẩn bị năng lực thì hai năm nữa, cả chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam sẽ cùng bị sốc về FTA với Liên hiệp châu Âu.

Hồi đầu tuần này, khi tham gia thảo luận về “Báo cáo Kinh tế Việt Nam quý 1 năm 2017”, do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) tổ chức, ông Trương Đình Tuyển – cựu Bộ trưởng Thương mại, tiếp tục than: “Lãnh đạo chúng ta có ‘tư duy nhiệm kỳ’ rất cao”.

Dù chẳng lạ gì bốn chữ “tư duy nhiệm kỳ” nhưng đa số công chúng bình dân không hình dung được diện mạo và hậu quả của “tư duy nhiệm kỳ”.

Việc sáng tạo ra cụm từ “tư duy nhiệm kỳ” là một kỳ tích. Nó giảm nhẹ tính chất, mức độ phê phán kiểu suy nghĩ và hành xử bất chấp hậu quả lâu dài đối với cả quốc gia lẫn dân tộc, miễn là có thứ để “báo công” về nhiệm kỳ của một cá nhân, “thành tích” của một tập thể. Bởi thiếu sự rõ ràng trong định nghĩa, định tính, định lượng, đa số dân chúng Việt Nam vẫn xem “tư duy nhiệm kỳ” là một thứ khuyết điểm… nhẹ như lông hồng!

Than thở của ông Tuyển trong bối cảnh chính phủ cương quyết tăng thuế bảo vệ môi trường khiến người ta nhớ đến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng – một trong những người phát giác ra “tư duy nhiệm kỳ” và thường xuyên phê phán “tư duy nhiệm kỳ”.

Tháng 11 năm 2016, khi về thăm Bắc Ninh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng tuyên bố: “Nhìn tổng quát, đất nước có bao giờ được thế này không?”. Điều gì khiến Tổng Bí thư tự tin như thế? Hãy nghe chính ông giải thích, đó là vì: “Vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao. Việt Nam có quan hệ với tất cả các nước lớn trên thế giới, tham gia tất cả các tổ chức quốc tế trên thế giới” và “Triển vọng phát triển còn tốt lắm, sắp tới thực hiện một loạt hiệp định kinh tế tự do thế hệ mới nữa thì chúng ta còn có điều kiện phát triển hơn nữa”.

***

Tổng Bí thư đã nói như thế thì có nên hỏi gì thêm về FTA?

Lợi ích thực tế và tương lai của quốc gia, dân tộc liệu có quan trọng hơn việc dùng FTA như phương tiện chứng minh “bản lĩnh, trí tuệ” một cá nhân hay một tập thể?

Trân Văn

(Blog VOA)

GDP dự kiến tăng, hiệu quả doanh nghiệp lại giảm

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đức Frank-Walter Steinmeier đến thăm nhà máy Knauf Gips KG tại Hà Nội ngày 30 tháng 10 năm 2016.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đức Frank-Walter Steinmeier đến thăm nhà máy Knauf Gips KG tại Hà Nội ngày 30 tháng 10 năm 2016.
 AFP photo
Công bố của Ngân hàng thế giới sáng thứ Năm 13 tháng 4 cho biết GDP của Việt Nam dự kiến sẽ tăng trong các năm 2017-2019 nhờ vào sức cầu và những hoạt động xuất khẩu.
Theo Ngân hàng thế giới thì năm nay tăng trưởng của Việt Nam sẽ là 6.3% và tăng lên 6,4% trong hai năm tiếp theo. Dự báo về lạm pháp trong giai đoạn này chỉ tăng ở mức 4% mỗi năm.
Tuy nhiên các chuyên gia Ngân hàng thế giới cũng đề cập những rủi ro của Việt Nam vẫn có thể xảy ra trong khoảng thời gian này, do chậm trễ trong việc triển khai cải cách ngân sách và chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Về ảnh hưởng ngoại vi, rủi ro có thể đến từ sự biến động của kinh tế thế giới tác động đến triển vọng tăng trưởng của Việt Nam qua các kênh thương mại và đầu tư.
Cũng trong ngày 13 tháng tư, bức tranh về thực trạng doanh nghiệp Việt Nam không mấy tốt đẹp được trưng dẫn tại buổi Công bố chỉ số phát triển doanh nghiệp của Cục Thống kê.
Trong buổi công bố, ông Phạm Đình Thuý, Vụ trưởng Vụ Thống kê Công nghiệp, Tổng cục Thống kê bày tỏ lo lắng về năng suất của doanh nghiệp trong nước thấp hơn cả các thị trường như Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Trung Quốc.
Vấn đề được ông Thuý nêu rõ là tình trạng doanh nghiệp trong nước phát triển nhanh về quy mô và vốn nhưng thực tế lại thấp về hiệu quả. Theo ông, hiệu quả của doanh nghiệp Việt Nam thấp hơn cả nước láng giềng là Thái Lan và Indonesia.
Dẫn chứng rõ thêm, ông Thuý cho biết tổng số doanh nghiệp cả nước tính đến cuối năm 2016 tăng 8% so với năm 2015, bao gồm 3 thành phần là tư nhân, nước ngoài và đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Về hiệu quả kinh tế, ông Thuý cho biết trong giai đoạn 15 năm, từ 2000 – 2015, lợi nhuận của các doanh nghiệp tăng thấp hơn so với mức tăng của vốn và doanh thu. Cụ thể là bình quân mỗi năm, lợi nhuận của các doanh nghiệp chỉ tăng 19%, trong đó, 10 năm đầu là 24,1%. Năm năm sau chỉ tăng 7,5%.
Điều này dẫn đến chỉ tiêu nộp ngân sách Nhà nước cũng sụt giảm.
Lý do được Ông Phạm Đình Thuý dẫn giải là do quy mô doanh nghiệp Việt nam nhỏ và lạc hậu về kỹ thuật. thêm vào đó giai đoan 2010 – 2015 là giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới.
Đề cập đến quí 1 của năm nay, ông Thuý cho biết tình hình vẫn không tốt đẹp hơn, khi số doanh nghiệp mới tăng kỷ lục (111.000 doanh nghiệp) nhưng số hoạt động có doanh thu chỉ chiếm 41%.

SAI LẦM CHIẾN LƯỢC và QUẢ BOM NỔ CHẬM FORMOSA; Xuất hiện cá chết dạt vào bãi biển Hà Tĩnh

 -Nguyễn Đăng Quang-

Thảm họa Formosaxẩy ra đã tròn 1 năm. Đây là thảm họamôi trường tồi tệ nhất trong lịch sử nước ta,gây ra hậu quả vô cùng nặng nề,hàng chục năm nữa mớicó thể khắc phục được!Trong tuần lễ qua, các phương tiện truyền thôngđã đăng tải nhiều bài đề cập đến thảm họa này. Đây là dịp tốt để Chính phủ thấy rõ những vấn đề mà trước đây chính phủ đã không thấy hoặckhông muốn thấy!
Đến nay,như dân Nghệ Tĩnh nói, Formosa Vũng Áng chẳng thấylợiở đâu, nhưng hại thì đã nhãn tiền! Nóđã hủy hoại nặng nề môi trườngbiển các tỉnh Bắc Trung bộ, không chỉ hiện tại mà còn trong hàng chục năm tới! Nhưng nguy hiểm hơn, Formosacòn gây ra mâu thuẫn gay gắt trong lòng xã hội, không chỉ ở 5 tỉnh miền Trung mà cả trên phạm vi toàn quốc!Nó chỉ phải bỏ ra 500 triệu USD gọi là tiền bồi thường để rồi ung dung khoanh tay “tọa sơn quan hổ đấu”! Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, số tiền đền bù trên chỉ bằng 1% sốthiệt hại chúng gây ra cho môi trường và nhân dân miền Trungmà thôi!
      Việc chấp thuậncho Formosa vào Hà Tĩnh là sai lầm chiến lược lớn của ĐCSVN! Hậu quả để lại là khôn lường, ít ra làtrong 70 năm nữa! Ba sai lầm sau đây về Formosa cấu thành sai lầm chiến lược của ĐCSVN, tạo ra mâu thuẫn gay gắt, giống quả bom nhiệt hạch nổ chậm trong lòng xã hội Việt Nam, kể từ sau Phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh 1930-1931!
1/. Chấp nhận hy sinh môi trường để đánh đổi phát triển kinh tế:
Vấn đề này, hiện nay mọi người đã thấy rõ, tuy có hơi muộn. Thủ tướng Chính phủ đãnhận thức ra và hạ quyết tâm: “Kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy lợi ích kinh tế!”.Như vậycòn là may,muộn còn hơn không! Song ta đã phải trả một cái giá quá đắt! 
Cách đây trên dưới 10 năm, bất cứ nhà đầu tư ngoại quốc nào đệ trình một dự án mà“vẽ ra” được viễn cảnh, khi dự án của họ đi vào hoạt động, sẽ mang lại lợi ích kinh tế 1- 2 tỷ USD/năm cho Việt Nam, thì kế hoạch đầu tư của họ mau chóng được chấp thuận và triển khai, mặc cho có cácý kiến phản biện không đồng tình! Chính trong bối cảnh đónên Việt Nam mới hứng chịunhiều trái đắng về môi trường nhưDự án Bauxite Tây Nguyên, Formosa Hà Tĩnh, 2 nhà máy giấyĐại Dương (Tiền Giang) và Lee & Man(Hậu Giang), cùng hàng trăm nhà máy nhiệt điện lạc hậu như Vĩnh Tân 1, Vĩnh Tân 2 ở Bình Thuận,v.v…Việc “rước” Formosa vào Hà Tĩnh và cấp phép 70 năm cho nó là một sai lầm ấu trĩ. Nay ta mới thực sự ngấm đòn!
2/. Chon sai đối tác đầu tư một cách mù quáng:
Nói đến Formosa là nói đến hồ sơ đen đầy tai tiếng về môi trường. Tập đoàn Formosa bị cả thế giới căm ghét và tẩy chay! Ngay cả đất mẹ Đài Loan cũng xa lánh nó, bởi Formosa là kẻnguy hiểm xấu xa, đi đến đâu nó gây ra ô nhiễm môi trường đến đó! Cả thế giới đều rõ điều này và ghẻ lạnh, lánh xa nó! Thế nhưng Việt Nam lại mời bằng được, bất chấp mọi hậuquả, và cònưu ái cấp phép đến 70 năm cho nó, quả là điều cực kỳkhó hiểu!
Hơn nữa, Formosa chỉ là Tập đoàn Công nghiệp hóa chất, chuyên kinh doanh và sản xuất đồ nhựa. Luyện thép là lĩnh vực xa lạ với tập đoàn này!Vậy tại sao lại mời nó vào làm thép?
Hà Tĩnh “rước” Formosa vào Vũng Áng là lừa dốinhân dân và chính phủ.Chính phủ chấp thuận Formosa vào đầu tư là một sai lầm vô cùng ngây thơ và khó hiểu! Chọn Formosa là chọn cái xấu, chọn kẻ ác, là rước họa vào thân! Đây là sai lầm tối tăm vàvô cùng tai hại!
3/. Giao nhầm vị trí chiến lược của đất nước cho kẻ thù:
Sai lầm chiến lược nguy hiểmnhất, tiềm ẩn nguy cơ mất nước lớn nhất, chính là việc giao cho Formosacả một vùng chiến lược trọng yếu về mặt An ninh-Quốc phòng.
    Việc “rước” Formosa vào Hà Tĩnh và giao cho nó 2 địa điểm chiến lược xung yếu về Quốc phòng- An ninh là Vũng Áng và cảng nước sâu Sơn Dương là một sự khờ dại rất khó hiểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, vì nếu Trung Quốc “động binh”,2 địa điểm trên sẽ là 2 tử huyệt chết người, ngay lập tức nó sẽ cắt đôi nước ta, cô lập 2 miền Nam-Bắc với nhau; quyền kiểm soát đất nước sẽ nhanh chóng rơi vào tay quân thù! Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, nguyên Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, hiện là Phó Chủ tịch Quốc hội, đã nhìn thấu vấn đề khi ông tuyên bố hôm 11/7/2016 trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội: “Vụ Formosa tiềm ẩn lâu dài nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề Quốc phòng – An ninh!”.
      Ngay sau thảm họa, hôm 21/4/2016, Đoàn giám sát của Bộ NN&PTNT do ông Phạm Khánh Ly, Phó Vụ trưởng Vụ nuôi trồng thủy sản, làm trưởng đoàn, bất lực vì bị chặn lại trước cổng Formosa! Ông Ly nói: “Đoàn công tác không vào được Vũng Áng vì đây là KCN có yếu tố nước ngoài. Đoàn không có thẩm quyền và chức năng kiểm tra khu vực này!”. Vấn đề không chỉ ở Vũng Áng, quan trọng hơn là ở cảng nước sâu Sơn Dương: Tầu thuyền Trung Quốc và Đài Loan vào cập cảng, ta có kiểm soát được không? Hàng hóa họ chở đi cũng như số lượng, chủng loạihàng hóa họ chở đến, ta có biếtvà kiểm đếm được hết không?Nhưng điều sau đây: Tầu ngầm quân sự “lạ” vào neo đậu tại đây, ta có kiểm soát và ngăn chặn được không?
  Qua việc ta cho Trung Quốc vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên, vàviệc “rước” Formosa vào làm thépở Hà Tĩnh, cũng chẳng khác nào câu chuyện truyền thuyết lịch sửcách đây trên 2200 năm!Năm 210 TCN, vua An Dương Vương,do ưng đồ “thách cưới”,đã chấp thuậnTrọng Thủy lấy Mỵ Nương rồi cho nó “ở rể” trong kinh thành Cổ Loa nước Âu Lạc!Việc giao Tây Nguyên (“mái nhà Đông Dương”) và 2 địa bàn trọng yếu về chiến lược ở Hà Tĩnh làVũng Áng và cảng nước sâu Sơn Dương cho các đối tác Trung Hoacũng giống như vuaAn Dương Vươngchấp thuận cho Trọng Thủy“ở rể” trong kinh thành Cổ Loa để rồi nó đánh tráo nỏ thần, sau đó đưa quân sang cướpnướcÂu Lạc của tanhư cách đây trên 2200 năm về trước!
Truyền thuyết lịch sửthời vua Thục An Dương Vương đã răn dạy và cảnh báo hậu thếrõ nhưvậy màcác “vua”tập thểngày nay lạiu mê đến độ“ma chỉ đường, quỷ dẫn lối”để phạm phải sai lầm chiến lược tày đình trên đây! Sai lầm thông thường đã là tai hại và nguy hiểm, sai lầm chiến lược còn tai hại và nguy hiểm gấp bội phần, thậm chí nó còn dẫn đến nguy cơ mất nước! Các vịhãy tỉnh lại đi và dũng cảm dừng lại trước khi quá muộn!
Khi thảm họa xảy ra, nhiều chuyên gia cho đây là cơ hộithuận lợi và hợp lý để chính phủ sửa sai: Thay vì nhận bồi thường, chính phủ phải khởi tố hính sự và tuyên phạt thật nặng Formosa (từ20-30 tỷ USD để làm sạch môi trường), đồng thời tuyên bốvĩnh viễn đóng cửa và tống xuất Formosa khỏi Việt Nam! Đây là thượng sách và là giải pháp tối ưu xét về tổng thể các mặt: Kinh tế, Xã hội, Môi trường, Chính trị, Quốc phòng, An ninh, và nhất là ổn định lòng dân!Đóng cửa vĩnh viễn Formosa là bứng được ngòi của quả bom nhiệt hạch nổ chậm trong lòng xã hội Việt Nam vậy!Nhưng rất tiếc,Chính phủ đã không làm thế! Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ tuyên bố chiến thuật: “Sẽ đóng cửa Formosa nếu tái phạm!”. Còn Bộ TN&MT chỉ đưa ra điều kiện lỏng lẻo: “Khi nào Formosa khắc phục xong 53 lỗi vi phạm mới được phép hoạt động trở lại!”
Ngày 6/4/2017 vừa qua, sau đúng 1 năm thảm họa, Bộ TN-MT và UBND tỉnh Hà Tĩnh hồ hởi công bố Formosa đã khắc phục được 52/53 lỗi, chỉ còn lại 1 lỗi duy nhất mà thôi! Báo Hà Tĩnh, cơ quan ngôn luận của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Hà Tĩnh,còn hớn hở giật tít: “Formosa đã khắc phục 52/53 lỗi, đủ điều kiện vận hành lò cao số 1”. Thưa mấy ông lãnh đạo Hà Tĩnh: Cái lỗi còn lại chưa khắc phục được mới là cái lỗi lớn nhất, là cái lỗi chủ yếu dẫn đến thảm họa 1 năm trước!Formosa đã gian dối tự động chuyển đổi công nghệ từ dập cốc khô sang dập cốc ướt!  Đây chính là nguyên nhân chủ yếu gây hủy hoại môi trường! Lẽ ra khi Formosa áp dụng công nghệ dập cốc ướt gâytàn phá môi trường như vậy, Bộ TN-MT phảikhởi tố hình sự và phạt thật nặng Formosa vì đã gian dối, làm trái cam kết nên dẫn đến thảm họa cá chết, biển chết, môi trường chết!Nhiều chuyên gia cho rằng lỗi hủy diệt môi trường như Formosa gây ra, các nước có thể phạt tới hàng chục tỷ USD! Nhưng ở Việt Nam, trước thiệt hại to lớn như vậy, Formosa chỉ phải bồi thường có 500 triệu USD, một cái giá quá bèo bọt! Chính khoản tiền 500 triệu USD này làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng giữa người dân và chính quyền!Xin trở lại nói về cái lỗi 53, chính Formosa thú nhậnlà phải hơn 2 năm nữa, đến tháng 6/2019, nó mới khắc phụcxong lỗi này!Vậy cớ sao các ông đã vội dọn đường, chuẩn bị dư luận cho Formosa sớm vậy, và để nhằm mục đích gì đây?
     Để kết thúc bài này, người viết muốn nhắc lại điều sau đây: Formosa Hà Tĩnh giống như quả bom nhiệt hạch nổ chậm treo lơ lửng trên đầu nhân dân 5 tỉnh miền Trung. Tháo ngòi của quả bom nổ chậm này chỉ có thể là Chính phủ và cũng là trách nhiệm của Chính phủ!Nếu Chính phủ cứ tiếp tục ưu ái, bênh vựcvô lối,không tìm cách đóng cửa vĩnh viễn Formosa, ngược lại coi việc người dân thể hiện sự bất bình và chống đối Formosa là do bị các thế lực thù địch, phản động xúi dục, kích động với mục đích chống Đảng và Nhà nước để rồi trừng phạt họ thay vì trừng phạt Formosa, thì việc nàychẳng khác nào kích ngòi cho quả bom nhiệt hạch Formosa sớm phát nổ! Và khi quả bom này phát nổ, ngoài kẻ thù chung của đất nước, chẳng có ai hưởng lợi, màchỉ có nhân dân là người gánh chịu hậu quả khôn lường mà thôi!

Hà Nội, ngày 13/4/2017.
N.Đ.Q.


Xuất hiện cá chết dạt vào bãi biển Hà Tĩnh


Các lực lượng chức năng tỉnh Hà Tĩnh đang khẩn trương kiểm tra, xác minh nguyên nhân khiến cá biển chết trôi dạt vào khu vực bãi biển, thuộc thôn Hải Phong 2, xã Kỳ Lợi, huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh).

Chiều 13.4, ông Phạm Văn Hùng, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Kỳ Anh (Hà Tĩnh), cho biết, đơn vị này phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, Phòng cảnh sát Môi trường (Công an tỉnh Hà Tĩnh) và Viện Công nghệ Môi trường (Bộ Tài nguyên - Môi trường), xuống lấy mẫu xét nghiệm để tìm hiểu nguyên nhân cá chết trôi dạt vào bãi biển vào sáng cùng ngày.
Theo ông Hùng, sáng 13.4, đơn vị nhận được tin báo của người dân, dọc bờ biển thôn Hải Phong 2, xã Kỳ Lợi (thị xã Kỳ Anh) xuất hiện xác cá biển chết rải rác bị sóng đánh dạt trôi vào bờ. Số cá chết được người dân thu gom lại với trọng lượng hơn 80 kg, chủ yếu là cá chang.
“Theo phản ánh của người dân xã Kỳ Lợi, cá dạt vào bờ chủ yếu là cá chang, chết cách đây khoảng hơn 10 ngày vì cá đã thối rữa. Người dân cũng cho biết loại cá này sinh sống ở ngoài khơi xa, có thể tàu thuyền nào đó đánh mìn thu bắt không hết nên bị sóng đánh trôi dạt vào bờ”, ông Hùng nói.
Phạm Đức