Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

MỘT SỐ CHI TIẾT LIÊN QUAN TỚI KHOẢN TIỀN 400 TRIỆU BỊ MẤT CỦA CỤC PHÓ QUANG: ĐÃ PHÁT HIỆN DOANH NGHIỆP CÓ SAI ?

2 người ở cùng cục phó bị mất tiền không phải người của Tổng cục Môi trường

29/09/2017 11:28 GMT+7

TTO - Ngày 29-9, thông tin cho Tuổi Trẻ thành phần đoàn thanh tra môi trường tại Long An, ông Nguyễn Tân Thuấn - phó giám đốc Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Long An - cho biết thành phần chính của đoàn thanh tra là 7 người.

2 người ở cùng cục phó bị mất tiền không phải người của Tổng cục Môi trường - Ảnh 1.
Đi xe thuê biển số thường
Ngoài ông Quang và ông Đỗ Quốc Việt (chuyên viên Cục kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường), đoàn còn có năm cán bộ của tỉnh Long An.
Ngoài ra, đi cùng đoàn còn có ông Nguyễn Văn Nam và Đậu Bá Tùng được ghi là cán bộ thuộc Viện công nghệ môi trường thuộc Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, là hai người đảm trách nhiệm vụ lấy mẫu trong quá trình kiểm tra tại cơ sở.
Ông Nam và ông Tùng cũng là 2 người ở cùng khách sạn với ông Quang lúc xảy ra vụ mất trộm.
Ngoài ra, theo thông tin của phóng viên, còn có hai ông Nguyễn Thanh Toàn và Đỗ Tấn Đạt làm tài xế cũng được đặt phòng tại khách sạn T.V. nơi xảy ra vụ trộm.
"Vì đoàn đi lần này là xe thuê, nên đi xe biển số trắng bình thường chứ không đi xe công vụ của cơ quan nào", ông Phạm Quốc Trung (trưởng phòng Kiểm soát ô nhiễm, Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh Long An) nói thêm.
Nói thêm về thành phần đoàn thanh tra lần này, ông Phan Nhân Duy - giám đốc Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Long An - cho biết theo quy định, thanh tra về vấn đề môi trường sẽ được thực hiện tối đa 1 lần mỗi năm đối với một doanh nghiệp.
Thành phần đoàn thanh tra từ Cục thì dựa vào Quyết định từ Tổng cục, còn từ địa phương thì do các sở cử người đi. Về các doanh nghiệp được thanh tra, cũng do phía Cục chọn lựa và gửi thông báo từ trước chứ không thông qua phía địa phương.
2 người ở cùng cục phó bị mất tiền không phải người của Tổng cục Môi trường - Ảnh 2.
Khách sạn nơi xảy ra vụ việc.- Ảnh: SL.
Một số doanh nghiệp có vi phạm
Trao đổi thêm về quá trình làm việc vừa qua của Đoàn thanh tra, ông Nguyễn Tân Thuấn - phó giám đốc Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Long An - khẳng định lại danh sách 8 doanh nghiệp đã được làm việc như thông tin mà Tuổi Trẻ đã đưa.
"Vì khi công bố thanh tra, một số doanh nghiệp có xin thay đổi thời gian nên việc kiểm tra không hoàn toàn đúng theo lịch. 
Cụ thể đến hết ngày 25, trước hôm xảy ra vụ mất trộm thì đoàn đã làm việc được 4 doanh nghiệp. Sau đó tiếp tục làm việc với 4 doanh nghiệp nữa trước khi dừng làm việc theo quyết định của trưởng đoàn", ông Thuấn nói.
Về 4 doanh nghiệp đã làm việc với đoàn thanh tra, ông Thuấn cho biết đoàn đã làm những việc kiểm tra theo chuyên môn như rà soát hệ thống sổ sách, chứng từ các loại rác thải, vật liệu liên quan đến môi trường, kiểm tra cụ thể các hệ thống xử lý xả thải, quan trắc... và lấy mẫu.
Theo biên bản làm việc với các doanh nghiệp này, thì một số doanh nghiệp dính phải một số vi phạm liên quan đến chứng từ, quy trình xử lý thải, ...
"Những hành vi này đều có thể sẽ xử phạt hành chính, nhưng những lỗi khắc phục quan trọng nhất vẫn là ở kết quả kiểm tra mẫu xả thải. Hiện tại đây là biên bản làm việc sơ bộ, và chưa có kết luận về thanh tra nên chúng tôi chưa thể cung cấp chi tiết".
"Tuy nhiên có thể nói thêm thường thì việc xử phạt liên quan đến việc xả thải, nghĩa là nếu mẫu kiểm định không đạt thì sẽ tùy mức độ xử lý và đây là hành vi bị xử phạt nặng nhất", ông Thuấn giải thích.
SƠN LÂM

4 CẢNH GIỚI KHÓ ĐẮC CỦA ĐỜI NGƯỜI: 'Đau mà không than;Cười mà không nói;Mê mà không mờ; Hoảng mà không loạn"...

Đời người có 4 cảnh giới khó đắc nhất…
Đời người có vui cũng có buồn, có niềm hạnh phúc cũng có lắm nỗi bi ai. Vậy nên, có thể giữ vững kiên cường trong nội tâm, giữ được sự tiêu diêu tự tại trong tâm hồn không phải điều quá dễ dàng…
Vậy nên, mới nói rằng đời người có 4 cảnh giới khó đắc nhất:
Một là, đau mà không than: Thể hiện sự kiên cường trong nội tâm
Đại bàng đau thì cất tiếng kêu thảm thiết, nó sẽ không thể cất cánh giữa bầu trời cao xanh. Thỏ đau thì sẽ dừng lại kêu gào, có khi nó sẽ trở thành một bữa tối ngon lành. Có thể thấy rằng, nếu đau mà than vãn thì sẽ mất đi cơ hội được tôi luyện, quỹ đạo của đời người cũng theo đó mà đổi thay. Khi bị đau tức là cuộc đời đang cung cấp nền tảng thành công cho chúng ta.
“Đau mà không than”. Không than không phải là không đau, mà là dám đối mặt với nỗi đau buồn, niềm đau thương và sự đau đớn. Muốn làm được “Đau mà không than”, chúng ta cần có sự kiên cường để san bằng những khó khăn trở ngại. Chúng ta cần có trí huệ kiếp người để chống đỡ lại sóng gió trên đường đời. Kỳ thực, đau mà không than chỉ có thể bắt nguồn từ một nội tâm lạc quan, mạnh mẽ: “Sau khi mưa gió qua đi, ánh cầu vồng sẽ lung linh màu sắc”.

Với nội tâm lạc quan bạn có thể thản nhiên đối mặt với sóng gió cuộc đời đó chính là “đau mà không than”. Ảnh yogajournal.com

Hai là, cười mà không nói: Thể hiện sự khoáng đạt, tiêu diêu tự tại trong tâm hồn
Có những khi bạn phải đối mặt với những lời giễu cợt của bạn bè, cũng có khi bạn sẽ thấy bất lực vì bị người khác hiểu lầm. Nếu bạn cứ nhất quyết phải nhiều lời đôi co, giải thích, thanh minh với họ thì chỉ càng đẩy họ sang bên thái cực đối lập với bạn. Cái tâm của bạn cũng sẽ bị khuấy động, do đó loạn càng thêm loạn. Lúc này chi bằng chỉ cần giữ một nụ cười trên môi và để mặc cho người đời bàn luận đúng sai, tốt xấu.
Mỉm cười có sức mạnh dời một ngọn núi. Một nụ cười nhẹ nhàng đôi khi còn thắng cả thiên binh vạn mã hùng mạnh.
Người xưa có câu quân tử lúc nào cũng đường hoàng, chỉ có kẻ tiểu nhân mới thường sợ sệt. Đôi khi một nụ cười có thể làm tan chảy ân oán giữa đôi bên, có thể khiến những người xa xứ, tha hương nơi đất khách quê người cảm thấy ấm áp cả cõi lòng. Nở một nụ cười thật đơn giản nhưng lại thể hiện sự bình thản, an nhiên tự tại trong tâm hồn bạn và đạo lý làm người nơi thế gian.
Đời người khó tránh sẽ có lúc gặp phải những chuyện không vừa ý. Nếu chỉ oán trách không ngừng cũng chẳng ích chi, chỉ khiến lòng người càng thêm nặng nề, rối ren mà thôi. Lúc này chi bằng bạn hãy tĩnh tâm xuống mà suy ngẫm.

Nở một nụ cười thật đơn giản nhưng lại thể hiện sự bình thản, an nhiên tự tại trong tâm hồn bạn và đạo lý làm người nơi thế gian. Ảnh shutterstock.com


Sự trầm tĩnh như dòng nước chảy mãi không ngừng. Nó sẽ làm dịu nỗi đau đang bùng cháy trong tim bạn. Sức mạnh nội tâm này cũng sẽ lắng đọng thành một trải nghiệm, hun đúc thành một trí huệ ẩn sâu trong tim và thắp sáng tâm hồn. Khi gặp chuyện không vừa ý, chỉ cười mà không nói thể hiện tấm lòng bao dung của một người. Đó không chỉ là tố chất tốt đẹp có thể trấn tĩnh những dòng cảm xúc nông nổi, mà còn khiến bản thân mình không buột miệng nói ra những lời khiến người khác phải tổn thương.
Ba là, mê mà không mờ: Thể hiện của người trí huệ
Muốn không bị mê hoặc bởi những chuyện trên thế gian thì điều bạn cần chính là sự mạnh mẽ trong nội tâm. Cổ nhân có một câu rất hay rằng: “Buồn mà không thương cảm” (Ai nhi bất thương). Khi nhiều chuyện đau khổ ập tới, chúng ta có thể buồn bã. Đây cũng là những cảm xúc rất tự nhiên và cần thiết của con người. Nhưng khi buồn phiền bạn cũng đừng quên rằng luôn có một con mắt thứ 3 đang trông chừng tất cả. Chỉ cần giữ vững thiện lương trời xanh sẽ tự có an bài.
Nếu có thể coi nhẹ được mất trên thế gian, thì khi đột nhiên phải đối mặt với sự mất mát, bạn mới có thể không bị mê mờ. Có thể sức ảnh hưởng của thế giới bên ngoài quá mạnh mẽ, khiến bạn chìm đắm trong mớ cảm xúc hỗn độn mà không thể kiềm chế bản thân. Nhưng khi bạn có đủ trí huệ, một thời gian sau bạn sẽ dần dần học được cách cân bằng.
Tâm hồn con người có khả năng tự chữa lành vô cùng kỳ diệu. Mê mà không mờ là định lực tu luyện của kiếp người, còn mê muội và không thể kiểm soát bản thân sẽ làm tổn thương chính mình.

Nếu có thể coi nhẹ được mất trên thế gian, thì khi đột nhiên phải đối mặt với sự mất mát, bạn mới có thể không bị mê mờ. Ảnh youtube.com

Bốn là, hoảng mà không loạn: Là sự tĩnh tại nhờ tu dưỡng
Khi đối mặt với vinh nhục, con người rất khó tránh khỏi sự bàng hoàng, thảng thốt. Tâm hoảng thì ắt sẽ động, mà trong động lại có tĩnh. Hoảng mà không loạn mới là vẻ đẹp khác biệt.
Cổ nhân có câu rằng: “Nếu gặp chuyện oan ức mà không kinh sợ, gặp chuyện uất hận mà không hoảng loạn, thì người này có thể đảm nhận trọng trách”. Đời người không thể tránh khỏi có những lúc bị oan khuất.
Nhưng “Gặp đại sự mà không loạn, gặp sóng lớn mà không mất đi thói quen thường hằng”. Đây là một tâm thái xử thế ung dung tự tại, giỏi ứng biến linh hoạt. Làm được vậy thì khi đại sự đến mới không hoảng không loạn, mới có thể trầm tĩnh và điềm đạm. Khi gặp chuyện quan trọng họ sẽ không lo lắng, mà vẫn giữ được tâm thái bình hòa.

Khi gặp chuyện sóng gió trong đời họ sẽ không lo lắng, mà vẫn giữ được tâm thái bình hòa, nhẹ nhàng, trầm tĩnh và điềm đạm . Ảnh theepochtimes.com

Cảnh giới nhân sinh được đúc rút ra từ trong cuộc sống, được ngưng kết lại theo dòng chảy thời gian. Chỉ cần có mong muốn ngày càng hoàn thiện bản thân, luôn tiến về phía trước không mệt mỏi, thì bạn sẽ ngày càng trưởng thành.
Sẽ có một ngày, vào một buổi ban mai rực rỡ hay dưới bóng hoàng hôn êm đềm nào đó, ký ức thuở xưa của bạn sẽ mở ra. Bạn sẽ phát hiện ra rằng tất cả những hiểu lầm, những nỗi đau sớm đã tiêu tan theo cơn gió của ngày hôm qua tự bao giờ, chỉ còn lại nụ cười thật tươi trên trên khuôn mặt rạng ngời của bạn.
Hiểu Mai
Xem thêm:

Hàm nghĩa chân chính của “tịch mịch”: Không phải cô đơn, mà là bất tín với Thần

Theo cách giải thích hiện đại thì “tịch mịch” có nghĩa là lặng lẽ, cô đơn quạnh quẽ, vắng lặng, hoặc yên tĩnh. Thế nhưng ban đầu từ này mang hàm nghĩa khác xa, và chắc chắn nó sẽ khiến nhiều người không khỏi bất ngờ.

tịch mịch, thân mình, hàm nghĩa nguyên thủy, Bài chọn lọc,
Ngày nay khi nói “tịch mịch” mọi người đều hiểu là cô đơn, nhưng ban đầu đầu từ này mang hàm nghĩa khác xa. (Ảnh: pixdaus)
Vậy hàm nghĩa ban sơ của “tịch mịch” là gì? Rốt cục như thế nào mới gọi là “tịch mịch”?
Hai chữ “tịch mịch” (寂寞) đều có bộ thủ là “miên” (宀). Tra cứu chữ Hán thì “miên” giống như hình mái nhà. Chữ “miên” trong giáp cốt văn có cách viết như sau:
tịch mịch, thân mình, hàm nghĩa nguyên thủy, Bài chọn lọc,
Nhìn vào hình trên chúng ta cũng có thể thấy được chữ “miên” ban đầu có ý chỉ nhà ở. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của các chuyên gia hiện đại, căn nhà xuất hiện đầu tiên không phải cho con người ở mà là nơi để bộ lạc cúng tế. Vào thời cổ đại, cúng tế là đại sự hàng đầu của một nước. Vì vậy, “miên” là nơi cúng tế.
Chữ “tịch” (寂) gồm chữ “miên” (宀) ở phía trên, bên dưới là chữ “thúc” (叔). Chữ “thúc” trong triện thư có cách viết như sau:
tịch mịch, thân mình, hàm nghĩa nguyên thủy, Bài chọn lọc,
Hình dạng chữ cho thấy “thúc” là tay nhặt đậu, hoặc là tay đang cầm trượng gỗ. Đậu ở đây không phải là hạt đậu mà là vật đựng đồ cúng thời xưa, có tác dụng rất quan trọng trong lễ cúng tế. Còn trượng gỗ là pháp trượng thường dùng trong lễ cúng tế.
tịch mịch, thân mình, hàm nghĩa nguyên thủy, Bài chọn lọc,
Cái đậu cuối thời Xuân Thu có hoa văn săn bắn được cất giữ trong viện Bảo tàng Thượng Hải. (Ảnh: Wikipedia)
Chữ “mịch” (寞) cũng có chữ “miên” (宀) ở phía trên, bên dưới là chữ “mạc” (莫). Chữ “mạc” trong triện thư có cách viết như sau:
tịch mịch, thân mình, hàm nghĩa nguyên thủy, Bài chọn lọc,
Dựa vào hình dạng chữ thì “mạc” có bốn bụi cỏ ở trên và dưới, chính giữa là Mặt trời, ngụ ý Mặt trời xuống núi, nấp trong bụi cỏ. Vì vậy chữ “mịch” có ý là buổi tối Mặt trời xuống núi. Xét theo nghĩa rộng hơn thì Mặt trời xuống núi lại có hàm ý gì?
Các chuyên gia phân tích như sau: Nơi cúng tế chỉ dùng để cung phụng và dâng lễ vật cho Thần Minh, Mặt trời xuống núi chứng minh lễ cúng tế hoàn thành, lúc này cần chỉnh lý lại vật dụng được dùng trong buổi lễ, trạng thái này gọi là “tịch mịch”. Nói cách khác, khi màn đêm buông xuống, không còn bất kỳ tia sáng Mặt trời nào, thì buổi lễ hoàn thành, Thần Minh đã trở về, con người không còn tinh thần dựa vào Thần Minh, lúc này được gọi là “tịch mịch”.
Hóa ra từ “tịch mịch” có mối liên hệ chặt chẽ như thế với Thần Minh! Chỉ những người mất niềm tin vào Thần mới có thể “tịch mịch”!
Từ xa xưa đã lưu truyền cách nói rằng chữ Hán của Trung Quốc là văn tự Thần truyền, văn hóa Trung Quốc cũng là văn hóa Thần truyền, lời ấy quả không sai!
tịch mịch, thân mình, hàm nghĩa nguyên thủy, Bài chọn lọc,
Chữ Hán ban đầu do Thương Hiệt tạo ra. (Ảnh: Wikimedia Commons)
Chữ viết Trung Quốc có nguồn gốc từ Thương Hiệt, là một trong những ân điển lớn nhất, trân quý nhất mà Thần ban cho con người. Bản kinh huấn trong “Hoài nam tử“, bộ sách quan trọng của Đạo giáo Trung Quốc do Hoài Nam Vương Lưu An đã tập hợp các học giả lại để biên soạn, ghi lại: “Tích giả Thương Hiệt tác thư, nhi thiên vũ túc, quỷ dạ khốc“, có nghĩa là “xưa có người tên Thương Hiệt tạo ra chữ viết, vì thế trời đổ mưa thóc, quỷ khóc đêm khuya“.
“Xuân Thu nguyên mệnh bao” vào những năm cuối Tây Hán cũng nói, Thương Hiệt tạo tự, “thiên vi vũ túc, quỷ vi dạ khốc, long vi tiềm tàng“. Có nghĩa là Thương Hiệt tạo ra chữ viết, “trời làm mưa thóc, quỷ khóc đêm khuya, rồng kiếm nơi ẩn náu“. Từ việc nhân loại được truyền văn tự dẫn đến cảnh tượng trời mưa thóc, quỷ khóc đêm, đủ thấy sức mạnh của văn tự không thể xem thường, có nội hàm thần kỳ đủ kinh thiên động địa.
Họa sĩ đời Đường Trương Ngạn Viễn (818 – 907), tác giả của “Lịch đại danh họa ký”, cho rằng Thương Hiệt tạo ra chữ viết dẫn đến dị tượng như thế là vì trong văn tự ẩn sâu huyền bí của Tạo Hóa, có thể hiểu rõ vạn vật kể cả hình dạng của tinh linh ẩn mình. Sau khi có văn tự, “Tạo Hóa không thể che giấu bí mật, cho nên trời đổ mưa thóc; yêu quái không thể che giấu hình dạng của chúng, cho nên quỷ khóc đêm khuya“. Chữ viết do Thương Hiệt tạo ra được người đời sau gọi là “văn tự thượng cổ”.
Từ đó có thể thấy người Trung Quốc cổ đại đã từng chung sống với Thần qua bao năm tháng, Thần đã từng trực tiếp truyền thụ văn hóa cho nhân loại, văn hóa Thần truyền qua thời gian rèn luyện lâu dài mà càng vững chắc, cho nên người Trung Quốc nhìn trời có sự sùng kính vô hạn, “kính trời” không chỉ đại biểu văn hóa Trung Quốc là văn hóa tín thần, mà còn nói lên nội hàm của văn hóa Thần truyền.
Tú Văn biên dịch

"BỈ NGẠN" ( XUÂN PHÂN, THU PHÂN) LÀ GÌ VÀ VÌ SAO NÊN LÀM ĐIỀU THIỆN, NHÂN ĐỨC TRONG NGÀY "BỈ NGẠN" ?

Thuyền bến mê dễ độ, bè Bỉ ngạn khó tìm. Vậy Bỉ ngạn là gì?

Trong văn hóa truyền thống, 2 ngày Thu phân và Xuân phân được coi là ngày “Bỉ ngạn”. Ngày này, thiên địa hòa hợp nhất, nên tránh áp dụng hình phạt, để không quấy nhiễu sự điều hòa của âm dương, trời đất và sinh vật.

xuân phân, thu phân, bờ bỉ ngạn, Bài chọn lọc,
Hoa Bỉ ngạn khai nở vào ngày Thu phân, tượng trưng cho âm dương cách trở. (Ảnh: Taobao)
Hai ngày Xuân phân, Thu phân còn được gọi là ngày “Bỉ ngạn” (bỉ ngạn có nghĩa là bờ bên kia, có thể gọi là bờ bỉ ngạn). Bỉ ngạn có nguồn gốc từ Phật giáo. Trong Phật giáo Nhật Bản có giảng rằng, vào ngày Bỉ ngạn, hành thiện hay hành ác thì báo ứng đều sẽ tăng lên gấp bội.
Cho đến ngày nay, người Nhật vẫn gọi các ngày Xuân phân và Thu phân là ngày Bỉ ngạn. Vào hai ngày này họ thường tảo mộ tế bái, cảm tạ tổ tiên. Ngoài ra, có người tu hành còn coi khoảng thời gian bắt đầu từ trước và sau hai ngày này là tuần tịnh tiến trong tu thân hành thiện.
Trong nhân gian, “Bỉ ngạn” còn có hàm nghĩa là thế giới bên kia. Con người ly khai “Thử ngạn” nhân gian, sau khi chết đến thế giới Bỉ ngạn, trong Phật giáo là chỉ người đã ngộ đạo đến tịnh thổ Bỉ ngạn.
Nhà thơ Tăng Giảo Nhiên tưởng nhớ cố nhân đã ngâm câu thơ: “Thoát thân nhập Bỉ ngạn, điếu ảnh niệm sinh nhai”.
Phật giáo gọi sinh tử nhân gian là “Thử ngạn”, cảnh giới niết bàn siêu việt sinh tử là Bỉ ngạn: “Sinh tử vi Thử ngạn, niết bàn vi Bỉ ngạn” – “Đại Trí Độ Luận”.
Hoa Bỉ ngạn – Âm dương lưỡng cách
Thời gian tảo mộ “Thu phân Bỉ ngạn”, người ta thường thấy hoa tỏi trời trắng muốt nở rộ khắp nơi. Hoa tỏi trời cong được gọi là “hoa Bỉ ngạn”, là vì nó thường khai nở vào đúng ngày Thu phân.
xuân phân, thu phân, bờ bỉ ngạn, Bài chọn lọc,
Hoa Bỉ ngạn cứ khi nào lá rơi thì hoa nở, hoa tàn thì lá sinh, hoa và lá luôn không tồn tại cùng lúc, giống như âm dương cách biệt. (Ảnh: zwx2)
Hoa Bỉ ngạn không chỉ khai nở vào khoảng thời gian ngày Thu phân, mà loài hoa này cũng thường quần tụ tại những nơi có mộ. Hoa và lá của cây tỏi trời thường không tồn tại song song, cũng dễ khiến người ta liên tưởng đến đặc tính không tương quan giữa “Thử ngạn” và “Bỉ ngạn”.
Hoa Bỉ ngạn cứ khi nào lá rơi thì hoa nở, hoa tàn thì lá sinh, hoa và lá luôn không tồn tại cùng lúc, giống như âm dương cách biệt.
Hoa Bỉ ngạn có hai loại, một màu đỏ thẫm hoặc màu tuyết trắng. Màu đỏ thẫm giống như truyền tải hơi ấm tới cố nhân, màu tuyết trắng giống như hoa vong tình, tượng trưng cho sự tinh khiết thanh tịnh.
Thu phân, Xuân phân khi thiên địa hòa hợp mà sinh, mà thành; Thử ngạn, Bỉ ngạn, dựa vào quy luật luân hồi sinh tử mà trụ, mà rời đi. Nhân sinh là quy luật sinh – lão – bệnh – tử, thành – trụ – hoại – diệt, đến bước cuối cùng thì sẽ rời xa dương thế, còn lại chỉ là dấu chân chim trên tuyết, nháy mắt tan rã không dấu vết.
Thoát luật phàm liệu có phương pháp nào vi diệu? Lịch sử biết bao nhiêu đế vương, danh sĩ, người tu hành truy tìm đạo Bỉ ngạn vĩnh sinh, hỏi đã mấy ai tìm được?
Trong thơ của Hồ Ưng Lân triều đại nhà Minh có câu: “Thuyền bến mê dễ độ, bè Bỉ ngạn khó tìm”. Quả thật như vậy! Cũng là nhân sinh mê sâu khó ngộ, càng khó tìm bờ Bỉ ngạn.
Lê Hiếu biên dịch

Lê Duẩn, người đẩy Việt Nam đến chiến tranh với Trung Quốc và Campuchia

Rõ ràng Việt Nam (CS) không thể chấp thuận lời giải thích đó. Trong khi Pol Pot có Ieng Sary, phó bí thư đảng, Nuon Chea và một số viên chức khác tháp tùng tới Hà Nội vào ngày 12 tháng Sáu, trong một cuộc “viếng thăm anh em” thì Việt Nam (CS) đã chiếm đóng doanh trại quân đội Campuchia trên đảo Wai và cắm cờ trên đảo này. Ngày 14 tháng 6, tờ New York Times trích dẫn một nguồn tin tình báo Mỹ cho hay rằng Việt Nam (CS) đã chiếm đảo này. Tuy nhiên việc phái đoàn Campuchia tới Hà Nội vào thời điểm trớ trêu ấy vẫn còn che dấu mãi đến ba năm sau.

Hồ Chí Minh và Lê Duẩn. Ảnh: Internet
Vài năm sau, Ieng Sary nói với tôi rằng trong suốt cuộc viếng thăm, phía Campuchia cố gắng một cách vô vọng đưa vấn đề biên giới ra thảo luận với Việt Nam (CS). Ông ta nói rằng người Campuchia muốn đạt tới những điểm căn bản trong bản tuyên bố năm 1967 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (DRV- Bắc Việt – ngd) công nhận biên giới hiện tại của Campuchia. Nhưng Việt Nam (CS) từ chối thảo luận vấn đề này. Sau này, theo phía Việt Nam, dù Campuchia muốn ký một thỏa hiệp thân hữu nhằm bảo vệ các vấn đề thương mại, tài phán, phân định ranh giới, họ cũng không yêu cầu thực hiện tức khắc việc thảo luận biên giới. Ý tưởng đưa ra một thỏa ước hữu nghị là từ phía Campuchia nhằm dàn hòa với Việt Nam, trên hình thức chấp thuận biên giới Campuchia hiện thời. Vấn đề này chẳng bao giờ được nêu ra nữa.   Ngày 2 tháng Tám, Lê Duẩn, tổng bí thư đảng CS Việt Nam, ủy viên bộ chính trị Phạm Hùng, Xuân Thủy, nhân vật tham gia hòa đàm Paris đến Phnom Pênh trong một chuyến viếng thăm ngắn. Đã cho Campuchia nếm mùi quân sự, bây giờ, các nhà lãnh đạo Việt Nam tỏ ra uyển chuyển hơn. Lê Duẩn, 67 tuổi, người cao lớn, trông có vẻ ảm đạm, thành viên nguyên thủy của đảng CS Đông Dương. Trước khi nắm chức bí thư đảng CS Việt Nam, ông ta đã bị tù khoảng 10 năm và một số năm lãnh đạo cách mạng Miền Nam VN. Tuy nhiên, không giống Phạm Hùng, một người miền Nam trông có vẽ oai vệ, có một thời gian dài lãnh đạo CS Miền Nam VN và vẫn còn giữ mối quan hệ với các lãnh tụ Khmer Đỏ. Đây là lần đầu tiên Duẫn đến Campuchia. Mục đích của chuyến đi này rõ ràng không phải là để du lịch. Khách Việt Nam không được mời ra khỏi Phnom Pênh đã trở thành một thành phố ma sau việc tàn bạo xua đuổi dân chúng hồi tháng Tư.

Theo lời yêu cầu của Khmer Đỏ, các bản tường trình về cuộc viếng thăm bị cắt giảm đến mức tối thiểu. Mặc dù sự tiếp đón không được nồng ấm, Duẫn vẫn là người muốn hòa giải. Ông ta thừa nhận rằng đảo Wai quả thật là lãnh thổ của Campuchia và hứa trả lại sớm. Một bản thông cáo chung được ký kết, cam kết giải quyết những dị biệt trong hòa bình, không dùng sự trừng phạt. Không có tiệc tùng hay diễn văn. Chỉ có một bản tường trình ngắn gọn được phổ biến trên cả hai đài phát thanh Hà Nội và Phnom Pênh vào ngày 3 tháng Tám cho hay rằng “Những cuộc thương thảo chân thật đã thực hiện giữa hai phái đoàn Việt Nam và Campuchia trong bầu không khí thân hữu vì quyền lợi chung, có quan điểm thống nhất về mọi vấn đề đưa ra.”   Dù thành thực hay giả vờ, không khí cũng có cải thiện dễ dàng khi đảo Wai được trả lại cho Campuchia. Ngày 10 tháng Tám, Nguyễn Văn Linh gặp Nuon Chia, một trong những người lãnh đạo hàng đầu của Khmer Đỏ, báo cho ông nầy biết rằng quân đội Việt Nam (CS) đã rút lui khỏi đảo. Nuon Chia cám ơn về quyết định đó và nói rằng tất cả đều do “ngộ nhận về ranh giới giữa hai nước”.

Thực ra, họ quá biết vấn đề biên giới và sự căng thẳng giữa hai phía đã tạo ra những cuộc xung đột đẫm máu sau khi họ chiến thắng phe tư bản. Chẳng bên nào muốn có chiến tranh. Đặc biệt, phía Việt Nam thì lo lắng không muốn dân chúng biết cuộc xung đột. Trong khi cố gắng giải quyết vấn đề bằng võ lực cũng như bằng ngoại giao, Hà Nội quyết định duy trì một bộ mặt đoàn kết chiến đấu với Campuchia. Hồi tháng Bảy, sau khi tôi ở thành phố “Saigon giải phóng” được hai tháng, bay ra Hà Nội trên đường rời Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn Hoàng Tùng, biên tập tờ nhật báo “Nhân Dân” của đảng CSVN, tôi có hỏi ông về tình hình quan hệ với Campuchia, ông ta trả lời một cách nhanh nhãu là “bình thường”. Ngưng một chút, ông ta nói thêm “Nhìn chung là bình thường”. Ông ta phủ nhận tin tức báo chí Tây phương cho rằng có xung đột ở những hòn đảo trong vịnh Thái Lan. Vào lúc tôi nói chuyện với Tùng trong văn phòng ánh điện mờ mờ, trông xuống hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội thì hàng ngàn người Việt Nam, đàn ông, đàn bà, trẻ con bị đuổi ra khỏi lãnh thổ Campuchia, đưa xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long của Miền Nam Việt Nam.

Sau khi qua biên giới, họ được quân đội Việt Nam (CS) đưa vào các trại tỵ nạn dựng tạm. Hàng trăm người Campuchia gốc Việt Nam và Trung Hoa vào trú tại một ngôi chùa ở Chợ Lớn. Phái viên hãng AP của Pháp tại Saigon, Charles Antoine De Nerciat nghĩ rằng ông ta đã vớ được một tin giựt gân nhỏ khi ông nhận ra những người tỵ nạn nầy là từ nước Campuchia cách mạng anh em đến trú ẩn tại thành phố Saigon đã “giải phóng”. Tuy nhiên, nhờ vào sự nghiêm nhặt của các tay kiểm duyệt Việt Nam (CS), bản tin ngày 12 tháng Sáu của ông chẳng bao giờ được chuyển đi. Trong một sự trùng hợp khá buồn cười, ông ta viết câu chuyện này vào ngày Pol Pot tới Hà Nội thực hiện chuyến viếng thăm không được công bố. Dù rằng các tay kiểm duyệt có biết chuyến viếng thăm ấy hay không, người Việt Nam (CS) cũng chẳng được lợi ích gì khi cho một nhà báo tư sản nhắc lại câu chuyện thê thảm của những người tỵ nạn và như thế, làm cho mối quan hệ với Campuchia thêm phức tạp. Mãi đến năm 1978, câu chuyện đó mới được rõ ra. Trong chuyến viếng thăm các tỉnh biên giới Việt Nam hồi tháng 3 năm 1978, tôi được biết làm thế nào, trong suốt 5 tháng đầu sau khi “giải phóng” Phnom Pênh, hơn 150 ngàn người Việt Nam khốn khổ lũ lượt chạy về Đồng Tháp, An Giang và Tây Ninh. Người Việt Nam thì được phép định cư tại chỗ, những người Hoa, người gốc Khmer thì buộc phải trở lại Campuchia.

Việt Nam (CS) muốn Campuchia biết rằng họ có một người bạn có đủ sức mạnh. Sau Hà Nội, nơi Pol Pot dừng chân kế tiếp trong chuyến viếng thăm bí mật của ông ta là Bắc Kinh. Ngày 21 tháng Tám, Pol Pot được vị anh hùng, người thầy lý tưởng của Pol Pot tiếp kiến: Mao – “Anh đã thực hiện được một cú đánh tuyệt hay còn chúng tôi thì đông như thế này mà đành thua.” Mao nói với người đệ tử sáng láng của ông. Khi Mao nói câu này thì hàng trăm ngàn người dân Campuchia bị đuổi ra khỏi các thành phố về các miền hoang dã ở thôn quê sống cuộc đời nông nô.   Mao hoàn toàn chấp thuận chương trình cách mạng của Pol Pot ở Campuchia và sách lược của Pol Pot độc lập với Việt Nam. Cuộc họp này cũng được dấu kín cho tới hai năm sau, khi Pol Pot lột bỏ cái áo ngụy trang vô danh, công khai trở thành tổng bí thư đảng Cộng Sản Campuchia. Dĩ nhiên, phía Việt Nam họ hiểu một cách sâu sắc những lời ca ngợi của Mao đối với Campuchia. Năm 1975, Mao đã khuyên các nhà lãnh đạo (CS) Việt Nam “phải học tập ở Campuchia cách làm thế nào để thực thi cách mạng.”

Tình hữu nghị giữa Trung Hoa của Mao và Campuchia đặt căn bản trên lý thuyết và, quan trọng hơn, đồng nhất về quyền lợi. Nhóm Pol Pot không những chỉ vô cùng ngưỡng mộ tư tưởng Mao về đấu tranh giai cấp và cách mạng không ngừng, họ còn chia xẻ với Trung Hoa về mối sợ hãi và ghê tởm Liên Xô. Chống lại Việt Nam âm mưu cai trị toàn cõi Đông Dương là mối quan tâm hàng đầu của nhóm Pol Pot, vì vậy, một cách tự nhiên, họ quay về phía Trung Hoa, một liên minh chính yếu trong truyền thống chiến lược, nhằm ngăn ngừa một sức mạnh trỗi dậy ở biên giới phía Nam.   Chẳng có gì ngạc nhiên, tháng Tám năm 1975, Chu Ân Lai, lúc ấy tình hình sức khỏe rất suy yếu, không còn sống bao lâu, giải thích với Lê Thanh Nghị, người đứng đầu ban Kế Hoạch của Hà Nội, là Bắc Kinh không có khả năng giúp đỡ Việt Nam. Trong khi đó, Bắc Kinh lại nồng nhiệt hoan hô phó thủ tướng Campuchia Khiêu Samphan và Ieng Sary, hứa viện trợ một tỉ đồng cho một chương trình 5 năm. Khoảng 20 triệu trong số tiền này đã được tháo khoán.

Trong khi chuyến viếng thăm của Khiêu Samphan và Ieng Sary thành công vẻ vang, được viện trợ kinh tế, được bày tỏ một cách công khai Trung Hoa hoàn toàn ủng hộ Campuchia thì những cuộc thảo luận bí mật về viện trợ vũ khí đã bắt đầu từ hồi tháng Sáu, khi Pol Pot lặng lẽ đến Trung Hoa. Trong tháng Tám và tháng Mười, các nhóm chuyên viên từ bộ quốc phòng Trung Hoa thực hiện một cuộc thanh sát ở Campuchia để tìm hiểu nhu cầu quân sự, và, ngày 12 tháng Mười, họ trình một bản soạn thảo kế hoạch quân sự cho Phnom Penh để xin chấp thuận.   Ngày 6 tháng Hai năm 1976, ngày tòa đại sứ Trung Hoa ở Hà Nội đưa ra lời than phiền chính thức đầu tiên việc bắt buộc nhóm thiểu số người Hoa ở Nam Việt Nam nhập quốc tịch, một quan chức quân sự hàng đầu của Trung Hoa thăm Phnom Pênh để kết thúc thỏa ước viện trợ quân sự. Wang Shangrong, phó Tổng tham mưu quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA), nói với bộ trưởng quốc phòng Campuchia Son Sen, quyết định của Trung Hoa về việc cung cấp bộ phận rời cho pháo binh, thuyền tuần phòng, và trang bị phòng không, trên căn bản ưu tiên. Tổng cộng có 500 cố vấn Trung Hoa huấn luyện cho quân đội Campuchia xử dụng các loại trang bị này. Wang cũng đưa ra một danh sách về các loại vũ khí sẽ được cung cấp cho Campuchia trong các năm 1977, 1978. Ngày 2 tháng Mười, một thỏa ước viện trợ quân sự cho Campuchia không phải bồi hoàn được ký kết giữa Wang và Son Sen.   Trong khi việc hợp tác quân sự được giữ hoàn toàn bí mật để khỏi làm cho Thái Lan và Việt Nam lo ngại, hoạt động chính của Trung Hoa tuồng như nhằm giúp đỡ ước muốn chính đáng của Campuchia là chuyển hóa quân đội của họ từ lực lượng du kích thành một đội quân thường trực, trang bị võ khí mới đủ sức phòng vệ đất nước.

Mặc dù Bắc Kinh không nghi ngờ gì về sự mong muốn lấy lại cán cân mất thăng bằng nghiêm trọng giữa lực lượng Campuchia thiếu thốn và lực lượng quân sự Việt Nam to lớn, bộ máy quân sự trang bị hoàn hảo, lại thừa hưởng một số lượng võ khí trị giá 5 tỉ đôla từ quân đội Miền Nam VN trước đây, họ cũng chẳng có ý hay mong muốn đẩy quân Khmer Đỏ tiến lên đối đầu với quân đội Việt Nam (CS). Trung Hoa của Mao chỉ muốn Campuchia đủ mạnh để không bị Việt Nam bắt nạt mà thôi.   Viện trợ vũ khí của Trung Hoa cho Campuchia được dấu kín, tuy nhiên tin tức về các viện trợ khác của Trung Hoa cho Campuchia thì quảng bá ồn ào. Ngày 17 tháng Tư/ 1976, Bắc Kinh tổ chức một cách rầm rộ lễ kỷ niệm một năm “giải phóng” Campuchia. Trong điện văn gởi Pol Pot nhân dịp này, Mao, Chu Đức (Zhu De) và Hoa Quốc Phong ca ngợi Pol Pot đã bảo vệ hoàn toàn nền độc lập, quyền cai trị tối thượng, toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, tạo nên “sự thay đổi cách mạng sâu sắc nhất”. Tuy không nói rõ ra nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ đang bị đe dọa, lời cảnh cáo đó cũng không bỏ quên vai trò Hà Nội. Các nhà lãnh đạo Trung Hoa trấn an Pol Pot rằng nhân dân Trung Hoa sẽ cùng “vai kề vai tiến lên phía trước” với nhân dân Campuchia.   Hồi mùa Xuân năm 1976, Campuchia trở thành yếu tố chính trong sự căng thẳng giữa Trung Hoa và Việt Nam, tuy nhiên mối quan hệ đang suy thoái dần bắt đầu từ những năm trước. Từ khi Hà Nội chiến thắng ở Miền Nam, sự mâu thuẫn đặc biệt từ hai phía đã gia tăng vì khác biệt về chính trị và chiến lược.
Quan hệ Quốc tế

Huỳnh Tấn Bửu
Quan hệ Quốc tế

Xem thêm:


>

>

>


Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2017

MÀN KỊCH “LÊ LAI CỨU CHÚA TRỊNH” HAY " KẺ ĂN ỐC NGƯỜI ĐỔ VỎ" ĐANG DIỄN Ở XỨ THANH ?; Không đủ cơ sở để xác minh tài sản khủng của “hot girl” xứ Thanh

Phúc Lộc Thọ.
Kết quả hình ảnh cho đền thờ lê lai
Đền thờ Lê Lai tại Thanh Hóa

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh, nghĩa quân Lê Lợi trong giai đoạn “ tiền khởi nghĩa” đã nhiều phen nguy khốn, bị giặc Minh vây ráp nên nhiều phen quân tướng gieo neo, tán loạn. Trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi đã từng viết về những thảm cảnh này:
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần
Khi Khôi Huyện quân không một lữ…

Một trong những trận nguy khốn nhất được sách sách Đại Việt thông sử, phần Liệt truyện chép:

Năm Mậu Tuất 1418, lúc vua mới dựng cờ khởi nghĩa, tướng ít, quân thiếu, bị tướng nhà Minh vây đánh ở Mường Một, vua chạy thoát về đóng ở Trịnh Cao, nơi hẻo lánh, không dân ở, tướng Minh chia quân chặn những chỗ hiểm yếu, tình thế rất cấp bách, nhà vua hỏi các tướng:

Ai dám đổi áo thay ta đem quân ra đánh giặc, xưng danh hiệu của ta, bắt chước như Kỷ Tín đời Hán, để ta có thể giấu tiếng, nghỉ binh, tập hợp tướng sĩ, mưu tính cuộc nổi dậy về sau ?.
Các tướng đều không ai dám hưởng ứng. Riêng Lê Lai đứng dậy nói: Tôi xin đi. Sau này lấy được nước thì nghĩ đến công lao của tôi, khiến cho con cháu muôn đời được nhờ ơn nước, đó là nguyện vọng của tôi.
Nhà vua rất thương cảm. Ông nói: Bây giờ nguy khốn thế này, nếu ngồi giữ mảnh đất nguy hiểm, vua tôi đều bị tiêu diệt, sẽ sợ vô ích, nếu theo kế này, may ra có thể thoát được. Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì. Nhà vua vái trời mà khấn rằng:
Lê Lai có công đổi áo, sau này tôi và con cháu tôi, cùng con cháu tướng ta công thần, nếu không nhờ đến công lao ấy, thì xin cho cung điện biến thành rừng núi, ấn báu thành cục đồng, gươm thần biền biến thành con dao cùn.
Ông bèn dẫn hai con voi và 500 quân kéo thẳng tới trại giặc khiêu chiến. Giặc đốc hết quân ra đánh, ông cưỡi ngựa tốt, xông thẳng vào giữa trận hô lên:Chúa Lam Sơn chính là ta đây, rồi đánh chết được rất nhiều quân giặc. Khi đã kiệt sức, ông bị địch bắt, xử cực hình. Sau đó giặc lui quân về thành Tây Đô, việc phòng bị chúng mới sơ hở, ta vừa có thời cơ, nghỉ binh nuôi chứa nhuệ khí, để có thể trăm trận trăm thắng và lấy được thiên hạ..”
Đất Thanh Hóa được coi là quê hương của Lê Lai, quê hương của thuật đánh tráo người. Trong vụ Quỳnh Anh đang được dư luận xôn xao, liệu có các Lê Lai của xứ Thanh thời hiện đại đứng ra chịu trận hay buộc phải đứng ra giơ “đầu chịu báng” thay cho “Chúa Trịnh” ?
Theo thông báo của UBND tỉnh Thanh Hóa cũng cho biết, ban Thường vụ Tỉnh ủy đã yêu cầu lãnh đạo Sở Xây dựng, lãnh đạo Ban tổ chức tỉnh ủy nghiêm túc làm rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong việc tham mưu để xảy ra thiếu sót trên và xử lý nghiêm theo quy định của Đảng.
Bà Trần Vũ Quỳnh Anh khi còn công tác tại Sở Xây dựng tỉnh Thanh Hoá.

Ban tổ chức Tỉnh ủy cũng có trách nhiệm về việc cử bà Quỳnh Anh đi học cao cấp lý luận chính trị năm 2015 khi chưa xem xét toàn diện hồ sơ của bà Quỳnh Anh, nhất là xem xét trình độ công tác, mà chỉ tập trung chú ý các điều kiện, tiêu chuẩn xét, cử đi học cao cấp lý luận chính trị theo quy định.
"Lãnh đạo Sở Xây dựng phải chịu trách nhiệm trong việc bổ nhiệm và Trần Vũ Quỳnh Anh, để tạo điều kiện cho bà Trần Vũ Quỳnh Anh vào đối tượng đi học", Thông báo của UBND tỉnh Thanh Hóa nêu rõ…
Qua thông báo này, trách nhiệm đã được xác định trong vụ bổ nhiệm thần tốc trái quy định được quy cho 2 cơ quan: Ban tổ chức tỉnh ủy và lãnh đạo Sở xây dựng Thanh Hóa?
Vậy có đúng các quan chức này có khuyết điểm thật, họ cố tình làm sai, tiếp tay cho Quỳnh Anh lên như diều hay các “ đầu lĩnh” ở 2 cơ quan này của Thanh Hóa đã tự nguyện đứng ra sắm vai Lê Lai cứu Chúa Trịnh ?
Lê Lai cứu Lê Lợi là vì đại nghĩa dân tộc, Lê Lai chấp nhận hy sinh thân mình để cứu minh chủ Lê Lợi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Còn các quan chức thời nay của xứ Thanh thật sự họ có lỗi thật hay họ phải buộc phải sắm vai Lê Lai cứu Chúa Trịnh ….
Ngày xưa giặc Minh mù mờ không biết ai là Lê Lai ai là Lê Lợi nên mới giết nhầm Lê Lai nhưng lại tưởng là Lê Lợi.
Dư luận cả nước và các cơ quan chức năng cấp trên thừa biết làm sao 2 cơ quan Ban tổ chức tỉnh ủy và Sở Xây dựng Thanh Hóa lại có khả năng làm nổi cái việc “ thổi” Quỳnh Anh lên nhanh một cách thần tốc như vậy ?
Nếu vụ việc Quỳnh Anh chỉ dừng lại quy trách nhiệm cho lãnh đạo 2 cơ quan trên tức là đã chấp nhận lại vở kịch “ Lê Lai cứu Chúa Trịnh” được dựng lại một cách sống sượng, gượng gạo…

P.L.T.

Không đủ cơ sở để xác minh tài sản khủng của “hot girl” xứ Thanh

Dân trí Ngoài việc được bổ nhiệm “thần tốc”, bà Trần Vũ Quỳnh Anh, nguyên Trưởng phòng Quản lý nhà và thị trường bất động sản còn dính lùm xùm việc có khối tài sản “kếch xù”. Về vấn đề này, UBKT Tỉnh ủy Thanh Hóa khẳng định không đủ cơ sở để xác minh.
 >> Vụ "hot girl" xứ Thanh: Khiển trách Phó Chủ tịch tỉnh Thanh Hóa

Theo đó, ngày 29/9, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hóa đã có thông báo 116-TB/UBKTTU về Kết quả kiểm tra, xem xét xử lý kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên có liên quan tại Sở Xây dựng Thanh Hóa. Nội dung báo cáo nêu rõ việc kiểm tra, xác minh tài sản của bà Quỳnh Anh là chưa đủ cơ sở do thời điểm thanh tra bà Quỳnh Anh đã không còn là cán bộ, công chức và vì nhiều lần mời bà lên làm việc nhưng bà này không hợp tác.
“Trong quá trình công tác từ thời điểm làm hợp đồng lao động tại Liên đoàn lao động tỉnh (năm 2010) đến khi thôi việc tại Sở Xây dựng (ngày 23/ 9 năm 2016) chưa phát hiện được đồng chí Trần Vũ Quỳnh Anh có hành vi tham nhũng. Đến thời điểm Thanh tra tỉnh tiến hành thanh tra tại Sở Xây dựng, đồng chí Trần Vũ Quỳnh Anh không còn là cán bộ, công chức, vì vậy chưa đủ cơ sở để kiểm tra, xác minh tài sản”.
Căn biệt thự ở khu đô thị Bình Minh (TP Thanh Hóa) được cho là của bà Trần Vũ Quỳnh Anh
Căn biệt thự ở khu đô thị Bình Minh (TP Thanh Hóa) được cho là của bà Trần Vũ Quỳnh Anh
“Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức Đảng và cán bộ, Đảng viên có liên quan tại Sở Xây dựng. Qua thẩm tra nhận thấy: đồng chí Trần Vũ Quỳnh Anh thuộc đối tượng phải kê khai tài sản nhưng không kê khai trong Sơ yếu Lý lịch (Mẫu 2C/TCTW-98), Phiếu Đảng viên; không kê khai định kỳ hằng năm; không kê khai bổ sung khi được bổ nhiệm phó trưởng phòng, trưởng phòng và trong hồ sơ nhân sự Đại hội Đảng bộ Sở, nhiệm kỳ 2015 - 2020, vi phạm các quy định về kê khai tài sản của Đảng và Nhà nước.
Trong quá trình kiểm tra, Đoàn kiểm tra của UBKT Tỉnh ủy đã nhiều lần mời đồng chí Trần Vũ Quỳnh Anh đến làm việc để giải trình nhưng đồng chí đều không có mặt nên không có cơ sở để xem xét tài sản của đồng chí”.
“Trách nhiệm về khuyết điểm vi phạm trên thuộc về đồng chí Trần Vũ Quỳnh Anh không trung thực, không chấp hành nghiêm quy định của Đảng và Nhà nước về kê khai tài sản” – báo cáo nêu.
Trước đó, dư luận lùm xùm việc bà Trần Vũ Quỳnh Anh là “bồ nhí” của một lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa. Bà sở hữu một khối tài sản “khủng” như ngoài một căn biệt thự lớn 3 mặt tiền tại khu đô thị bắc đại lộ Lê Lợi (khu đô thị Bình Minh), phường Đông Hương, TP Thanh Hóa và một chiếc xe Cadillac Escalade trị giá nhiều tỉ đồng thì từ năm 2012, thời điểm được điều động về làm nhân viên tại Phòng Quản lý nhà và thị trường bất động sản - Sở Xây dựng tỉnh Thanh Hóa, bà Quỳnh Anh đã mua và đứng tên một căn biệt thự trị giá gần 9 tỉ đồng (xây thô) tại khu đô thị Đại Thanh thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP.Hà Nội. Đây cũng là địa chỉ thường trú mà bà Quỳnh Anh chuyển hộ khẩu từ Thanh Hóa ra.
Bình Minh