Hán Tự là văn tự Thần truyền lại cho nhân loại trong văn hóa truyền thống Trung Hoa. Điều triển hiện trong từng chiết tự không chỉ là nội hàm vô cùng phong phú mà còn ẩn chứa nhiều pháp lý tinh thâm, dường như từng chữ đều không chỉ thần diệu mà còn có tính dự đoán, báo trước. Hãy cùng thử tìm hiểm về nội hàm thâm sâu của chữ Cộng “共” trong tiếng Hán. Hãy cùng thông qua chiết tự tiếng Hán tìm hiểu bản chất thực sự của Đảnh Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) qua con chữ này.
Đầu tiên hãy cùng xem chữ Bạo 暴, nghĩa là Tàn bạo, hung bạo, tàn khốc. Chữ Bạo 暴 gồm bộ Nhật 日 và bộ Thủy 水 ở trên và dưới, chữ “共” Cộng nằm giữa. Thần tạo ra chữ này chính là muốn nhắn nhủ với người thế gian: Nhật 日 đại biểu cho Trời, Thủy 水 đại diện cho Đất. Nếu giữa trời và đất xuất hiện Cộng “共” sẽ mang tới bạo lực, cường quyền. Trên thực tế, bạo lực là phương tiện mà ĐCSTQ dùng để thâu đoạt chính quyền, hơn nữa còn là phương tiện duy nhất. Đó là nhân tố di truyền tiên quyết xuyên suốt từ ngày chào đời của nó cho đến hôm nay.
Chữ Khẩu 口 nghĩa là miệng, thêm chữ Cộng “共” chính là chữ Hồng 哄 ý nghĩa là lừa đảo, lừa gạt, đánh lừa. ĐCSTQ luôn sử dụng lời nói dối như chất bôi trơn của bạo lực. ĐCSTQ hứa hẹn đất đai cho nông dân, nhà máy cho công nhân, tự do và dân chủ cho tri thức, hòa bình cho dân chúng. Nhưng đến nay không có lời hứa nào được thực hiện. Một thế hệ người Trung Quốc bị lừa dối và đã qua đời, nay lại một thế hệ người Trung Quốc cũng đang bị ĐCSTQ mê hoặc bằng bưng bít thông tin và tuyên truyền lừa đảo. Đây chẳng phải là điều đau xót nhất của người Trung Quốc hay sao? Chẳng phải là nỗi bất hạnh lớn nhất của dân tộc Trung Hoa hay sao? 

Chữ Điền “田” thêm chữ Cộng “共” chính là chữ Dị “异” có nghĩa là biến hóa, thay đổi. ĐCSTQ cũng giống như một con tắc kè hoa, liên tục thay đổi lập trường nguyên tắc trong nhiều năm vừa qua. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 19 của ĐCSTQ từ khi thành lập đảng trong hơn 90 năm qua đã sửa đổi điều lệ đảng tới 19 lần. 17 năm sau khi giành được chính quyền, ĐCSTQ có 6 lần thay đổi Hiến pháp. Điều đáng lưu ý đó là, lập trường và nguyên tắc của mỗi lần thay đổi, đều vì từ đó sẽ dẫn tới cuộc khủng hoảng không thể tránh khỏi ảnh hưởng đến tính hợp pháp và sự sống còn của ĐCSTQ. Sự hợp tác giữa quốc dân đảng và đảng cộng sản, ngoại giao thân Mỹ, cải cách mở cửa, thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc, tất cả đều không ngoài mục đích như nhau, chính là mỗi lần thỏa hiệp đều vì để tranh giành và củng cố quyền lực. Mỗi lần đàn áp, sửa lại chu kỳ tuần hoàn, cũng đều bởi vậy mà phát sinh. 
Nếu có chữ Tử chen vào giữa chữ Cộng“共” chính là chữ Táng “葬” có nghĩa là mai táng, chôn cất. Khi tạo ra chiết tự này, rõ ràng Thần đang muốn nói với chúng ta, gia nhập tổ chức của ĐCSTQ (đảng, đoàn và đội) chỉ có một con đường là chết, khi trời diệt Trung cộng sẽ bị chôn vùi cùng theo nó. Bởi vậy thoái xuất khỏi ba tổ chức này, và xóa bỏ lời thề độc vì nó mà cống hiến, hy sinh tính mạng mới có thể đảm bảo bình an cho mình, sinh mệnh mới thật sự có tương lai.
Hồng (洪), Điện (殿): Chữ Hồng gồm bộ Thủy 水 (氵) và chữ Cộng“共”. Thủy là nước, đây vốn là thứ chí thiện chí thuần giữa đất trời. Lão Tử giảng: “Thượng thiện nhược thủy” (nước là tốt nhất). Nhưng tiếp xúc với Cộng lại biến thành “Hồng” (lũ lụt).
Chữ Thù (殳) bên phải của chữ Điện (殿), là chỉ một loại binh khí thời cổ đại không lưỡi, sớm đã chỉ ra rằng một khi ĐCSTQ leo lên “Điện” nắm quyền, nó sẽ giết người mà không thấy máu (Nhiều hoạt động trước đây của ĐCSTQ đều là phát động quần chúng đấu với quần chúng, ĐCSTQ ngồi làm ngư ông đắc lợi), gây khổ đau cho bách tính, nếu bỏ chữ “Thù” đi, ĐCSTQ chỉ còn lại là một cái xác (尸). Chữ này rõ ràng đang nói với mọi người bản chất tà ác khát máu của ĐCSTQ.
Ký (冀), Củng (拱): Chữ Ký (冀) ở trên là chữ Bắc “北” giữa là chữ Điền “田”, phía dưới là chữ Cộng “共”. Qua Chiết Tự này có thể thấy  ĐCSTQ đến từ phương Bắc-北 (Liên xô), phát triển ở miền Bắc (Bắc Thiểm Tây), sống nhờ ở miền Bắc (Bắc Kinh). Chữ Ký có nghĩa là “hy vọng”, cũng là đang nói cho người đời biết: Lúc Đảng Cộng sản vừa đến, mọi người đều coi nó là hy vọng của nhân loại, nhưng thực chất lại là dị loại.
Chữ Củng (拱) nói với mọi người về bản chất bán nước của ĐCSTQ, ĐCSTQ thông đồng với Nga để chia cắt Mông Cổ, Giang Trạch Dân đã “chắp tay” (拱 手) nhượng khoảng 1 triệu km2 đất ban đầu thuộc về Trung Quốc cho Nga vào năm 1999.
Trên đây là ý nghĩa của chữ Cộng “共” khi kết hợp với những chiết tự khác. Vậy nội hàm thực sự của chiết tự này có ẩn chứa dự ngôn hay bí ẩn gì bên trong? Cộng “共” trong tiếng Trung có nghĩa là Chung, Cùng, Cộng. Trong chữ Cộng “共 phía trên là 2 chữ Thập “十” chính là hai mươi, ở giữa là chữ Nhất “一”, bên dưới là chữ Bát “八” có nghĩa là 21 năm tháng 8. Thông qua chiết tự chữ này có thể hiểu, Thần đang muốn nói với chúng ta: Tháng 8 năm 2021 chính là thời khắc ĐCSTQ bị Trời diệt, nếu còn tiếp tục đứng về phía chúng, đi cùng chúng, sẽ theo chúng mà bị đào thải. 
Chỉ một chữ Cộng “共” ta có thể nhận thấy rõ bản chất xấu xa của ĐCSTQ đồng thời còn dự báo ngày tháng nó bị diệt vong. Độc giả thân mến, bạn có thấy chữ Hán thần kỳ không?