Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

BA LẦN LUI QUÂN TRƯỚC TRUNG QUỐC-CÔNG HAY TỘI CỦA TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH? ( Phần 1)

Phạm Viết Đào.


          Kiểm chứng 1: Tướng Vũ Lập bị hạ độc vào thời điểm sau khi ông bày tỏ “sự băn khoăn” về lệnh “lui quân” của BT Bộ Quốc phòng tại mặt trận Vị Xuyên?

      Trong bài "Đại tướng Lê Đức Anh với vấn đề Trung Quốc và biển Đông

https://vietnamnet.vn › Thời sự
“ 
01/02/2015  08:44 GMT+7 đăng trên Vietnamnet, tác giả là Đại tá Khuất Biên Hòa, thư ký của Đại tướng Lê Đức Anh có một số thông tin, nhận định cần phải kiểm chứng thêm. Cần phải trao đổi lại nội dung bài viết này vì: hiện Tướng Lê Đức Anh đang còn sống, nếu không minh bạch có thể dẫn tới gây hiểu lầm, gây tranh cãi cho một số vấn đề lịch sử liên quan tới quan hệ Việt-Trung-Mỹ.

          Bài viết có đăng kèm ảnh chụp Đại tướng Lê Đức Anh ngồi đang nói và Đại tá Khuất Biên Hòa đang cầm bút ghi. Đưa hình ảnh này minh họa cho bài viết chắc tác giả- Đại tá Khuất Biên Hòa muốn thông điệp về độ xác thực của nguồn tin bài viết; bài viết này đã được ông Lê Đức Anh đồng ý công bố.
          Đây là bài viết công bố năm 2015, sau khi ông Lê Đức Anh đã nghỉ hưu trên cương vị Chủ tịch nước năm 1997. Như vậy, nội dung và các thông tin trong bài đã có một độ lùi về mặt thời gian gần 30 năm, sau các sự kiện xảy ra tong bài và sau 10 năm ông Lê Đức Anh rời chính trường...
          Những thông tin trong bài hết sức quan trọng liên quan tới các sự kiện đối ngoại tầm vĩ mô giữa Việt Nam không chỉ với Trung Quốc và liên quan tới Cămpuchia và cả với Mỹ.
          Thông tin trong bài còn liên quan tới cuộc chiến tại Mặt trận Vị Xuyên, liên quan tới Thượng tướng Vũ Lập, nguyên Tư lệnh Quân khu 2, có dư luận qua đời do bị Tình báo Hoa Nam đầu độc. Đại tướng Lê Đức Anh không chỉ là nhân chứng mà trực tiếp can dự vào những sự kiện quan trọng gắn với lịch sử Việt Nam đương đại được nêu trong bài viết…

          Tướng Vũ Lập-Tư lệnh Quân khu 2 “ băn khoăn” về lệnh lui binh tại Mặt trận Vị Xuyên ?
         
          Bài viết của Đại tá Khuất Biên Hòa có đoạn sau đây:
          “…Khi lên thị sát biên giới, tướng Lê Đức Anh nhắc nhở thì anh em thôi, không bắn, không chửi lại nữa. Ông nói với anh em: “Chừ họ chửi một, các đồng chí chửi lại mười; họ bắn một, các đồng chí bắn lại mười, cứ như thế này thì không làm được công tác tư tưởng, không giải quyết dứt điểm được tình hình”. Anh em cán bộ hỏi: "Vậy thưa Thủ trưởng, giờ ta làm gì để giải quyết được tình hình?". Ông bảo, họ bắc loa chửi ta thì ta nhắc lại truyền thống và quá trình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước; họ bắn sang ta bằng đạn pháo, thì ta "bắn lại" bằng tình hữu nghị! Nhất định phải làm mọi cách để nối lại tình hữu nghị, đoàn kết giữa hai đất nước, hai dân tộc Việt-Trung. Ở cao điểm Vị Xuyên, bộ đội hai bên nhìn rất rõ nhau vì chỉ cách nhau mấy chục thước. Ông bảo anh em mang thuốc hút và diêm quẹt sang mời họ. Bên họ cũng nhiều anh em nghiện thuốc nên họ phấn khởi lắm. Bộ đội hai bên nói chuyện với nhau và cũng thôi không chửi, không bắn nhau nữa.

          Tại một số điểm chốt, ông bảo anh em hãy lui về phía sau một quãng. Cán bộ, chiến sỹ đều nói rằng “Nếu mình lui mà bên kia họ lên thì lo lắm!”. Ông bảo “Cứ rút đi!”. Tiếp đó, ông cho rút từng phần các đơn vị chủ lực về phía sau, về tuyến hai để đưa dân quân, bộ đội địa phương và bộ đội biên phòng lên tuyến một. Lúc đó tâm lý chung của các "Tư lệnh chiến trường" và cán bộ chỉ huy các cấp là lo sợ, không anh nào dám cho chủ lực và các đơn vị dưới quyền mình lui xuống. Một hôm ông đến sở chỉ huy của Sư đoàn 316 thuộc Quân khu 2 ở phía dưới Phố Lu; khi tướng Vũ Lập, Tư lệnh Quân khu kéo đồng chí An là Chỉ huy trưởng Sư đoàn 316 lại gặp riêng ông và hỏi: "Báo cáo Bộ trưởng, đêm qua đồng chí An này đã báo cáo tôi cho đơn vị của đồng chí này lui xuống?!" Ông liền trả lời: “Đúng thế!”, thì tướng Vũ Lập tỏ vẻ sửng sốt, bất ngờ mà nói rằng "Vậy thì xin anh cho văn bản!" Tướng Anh liền bảo đồng chí Phi Long, Cục phó cục Tác chiến: “Viết lệnh để tôi ký liền!”. Thấy thái độ kiên quyết của ông, ông Vũ Lập liền nói vẻ xoa dịu: "Anh lệnh thì chúng tôi chấp hành, dù mệnh lệnh bằng giấy hay bằng miệng cũng chấp hành. Nhưng anh cho giấy để cơ quan còn lưu trữ."
 

          Thực chất lúc này, đối với ý định của ông, chưa phải là điều chỉnh bố trí chiến lược, mà ông chỉ thực hiện điều chỉnh sơ bộ, vừa để cho thế phòng thủ biên giới của bộ đội ta có chiều sâu, có thế vững chắc hơn, vừa để thăm dò phía bên kia. Khi trở về Hà Nội, ông đã báo cáo hết tình hình với Bộ Chính trị.

          Tiếp đó, cuối tháng 7/1991, tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên của Bộ Chính trị sang Trung Quốc (thực chất là “đi tiền trạm”) bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Cùng đi có đồng chí Hồng Hà, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương. Sáng ngày 28 bắt đầu khởi hành. Trên đường đi Bắc Kinh, các ông dừng chân ở Nam Ninh, thủ phủ Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây…”

          Đọc đoạn trên của bài có 1 thông tin cần phải được minh định: Đại tướng Lê Đức Anh trên cương vị Bộ Quốc phòng gặp và làm việc với Thượng tướng Vũ Lập, Tư lệnh Quân khu 2 vào thời gian nào? Tại đâu?
          Bài viết không ghi mốc thời gian về cuộc gặp làm việc giữa Tướng Lê Đức Anh trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng với Tướng Vũ Lập, trên cương vị Tư lệnh Quân khu 2 vào đoạn kế tiếp sau đó: “Tiếp đó, cuối tháng 7/1991, tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên của Bộ Chính trị sang Trung Quốc”…Bài viết vòn ghi rõ “sáng ngày 28”…
            Nếu người đọc lướt qua thì có thể dễ nhầm cuộc gặp với Tướng Vũ Lập diễn ra quãng đầu năm 1991 hoặc cuối năm 1990?
          Trước hết về mặt thời gian, Theo WikiPedia viết về Đại tướng Lê Đức Anh: ”Tháng 12 năm 1986, ông được cử giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ ngày 16 tháng 2 năm 1987[2] đến 10 tháng 8 năm 1991, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, phó bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương.” ( WikiPedia)
          Cũng theo WikiPedia thì Thượng tướng Vũ Lập đảm nhận Tư lệnh Quân khu 2  “Từ năm 1978 đến năm 1987…”
          Một nguồn tin khác ghi:” Tướng Vũ Lập qua đời ngày 18/7/1987 sau một cơn đau tim?”
          Qua các nguồn tin trên, đối chiếu và khớp với bài viết có thể xác định được cuộc làm việc của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh chỉ có thể diễn ra từ sau tháng 2-1987, ngày ông nhận chiếc ghế Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và trước 18/7/1987, ngày qua đời của Tướng Vũ Lập…
          Thời điểm trước tháng 7/1987, mặt trận Vị Xuyên vẫn còn rất nóng bỏng, đúng như bài viết của Đại tá Khuất Biên Hòa. Và như vậy, chủ trương “lui binh” tại Mặt trận Vị Xuyên được xác đình trong giai đoạn từ 2/1987-7/1987. Chủ trương này do đích thân Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp ra lệnh cho Tư lệnh Quân khu 2, Thượng tướng Vũ Lập…
          Bài viết của Đại tá Khuất Biên Hòa cũng đã viết: khi nhận lệnh này Tư lệnh Quân khu 2, Tướng Vũ Lập đã bày tỏ băn khoăn về “ lệnh lui binh” này nên đã đề nghị Tướng Lê Đức Anh ký lệnh bằng văn bản và Tướng Lê Đức Anh đã ký…

            Tướng Lê Đức Anh gặp Tướng Vũ Lập và Sư trương 316 tại Phố Lu, Lão Cai ?
            Trong bài, Đại tá Khuất Biên Hòa có viết Tướng Lê Đức Anh gặp Tướng Vũ Lập và Sư trưởng 316 Nguyễn Antại “sở chỉ huy của Sư đoàn 316 thuộc Quân khu 2 ở phía dưới Phố Lu…”  Đây là thông tin đề nghị Đại tá Khuất Biên Hòa kiểm tra lại?
            Thứ nhất, sau khi tham gia Chiến dịch mang Mật danh MB 84, theo một số CCB thì F 316 không chuyển qua phố Lu Lào Cai đóng quân mà chuyển về Phú Thọ. Thứ 2, trong giai đoạn 1987, chiến sự ác liệt, do đó Bộ chỉ huy Quân khu 2 đóng ở Yên Bái, không ở Phố Lu; Còn Tướng Vũ Lập chỉ có thể ở Yên Bái hoặc Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận Vị Xuyên đặt ở thị xã Hà Giang?
            Tóm lại: lệnh lui quân tại Vị Xuyên được phát ra trong giai đoạn từ “2/1987 tới tháng 7/1097”; Tướng Vũ Lập-Tư lệnh Quân khu 2 qua đời, cò nguồn tin cho rằng bị Tình báo Hoa Nam đầu độc sau cái lệnh lui binh của BT Bộ Quốc phòng tại chiến trường Vị Xuyên!
Kiểm chứng 2: TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH HAY ĐẠI TÁ KHUẤT BIÊN HÒA “XÓA ÁN TÍCH” CHO TRUNG QUỐC-XÂM LƯỢC VỊ XUYÊN-HÀ GIANG? ( Phần 2 )
                                                                                                                               
          Trong bài Đại tướng Lê Đức Anh với vấn đề Trung Quốc và biển Đôngcủa Đại tá Khuất Biên Hòa đăng trên Vietnamnet năm 2015 có đoạn sau đây: ”Ngay sau đại hội, đầu năm 1987, có cuộc họp "Bộ Chính trị hẹp" tại Nhà Con rồng-Bộ Quốc phòng. Tại đây, sau hai chuyến đi thị sát trực tiếp toàn tuyến biên giới phía Bắc trở về, tướng Lê Đức Anh đã báo cáo toàn bộ tình hình biên giới phía Bắc, báo cáo những suy nghĩ của ông về Mỹ, Trung Quốc, về các nước ASEAN, liền sau đó, ông giải trình những đề xuất của mình. Ông nói: “Trên biên giới, phía bên kia họ bắc loa chửi ta và kể công, nếu bộ đội ta cứ chửi lại, bắn lại thì không làm được công tác tư tưởng. Thà rằng họ đánh sâu vào nội địa ta như Pôn Pốt đánh ta ở biên giới Tây Nam thì ta nói họ là xâm lược và ta kêu gọi chống xâm lược thì dễ. Đằng này qua thăm dò, khảo sát trực tiếp, qua tin tức và phân tích tình hình nhiều mặt, tôi thấy rằng họ không có ý đồ xâm lược, mà họ gây xung đột biên giới với ta nhằm một mục đích khác, ngoài ý đồ xâm lược."
          Trong đoạn trên có thông tin quan trọng:
        "-Đằng này qua thăm dò, khảo sát trực tiếp, qua tin tức và phân tích tình hình nhiều mặt, tôi thấy rằng họ không có ý đồ xâm lược, mà họ gây xung đột biên giới với ta nhằm một mục đích khác, ngoài ý đồ xâm lược…"
          Nếu đây thật sự là ý kiến của Tướng Lê Đức Anh thì cần xem lại vì: thời điểm năm 1987 ông đã được bầu vào Bộ Chính trị và nắm chiếc ghế BT Bộ Quốc phòng; Và thời điểm công bố ý kiến này vào năm 2015, thời điểm ông đã nghỉ hưu 1997 và đã qua cương vị Chủ tịch nước?
          Nếu coi việc Trung Quốc điều một lực lượng quân đội lớn, nhiều tài liệu đưa khoảng 50-60 vạn quân, với những tướng lĩnh hàng đầu, quân đội Trung Quốc lấn sâu vào đất ta riêng ở khu vực cửa khẩu Thanh Thúy, quân Trung Quốc vào sâu đất Việt Nam tại các điểm cao 685, A 6 A- A 6 B và các cao điểm 400-300 ( Đồi Đài, Đồi Cô X.)cách đường biên khoảng 1000 m? Phía Việt Nam đã phải chịu tổn thất 5000 bộ đội hy sinh;..số thương vong là…Còn phía Trung Quốc nhiều nguồn tin cho biết mất 15000 quân…Trung Quốc đưa quân sang để “chọc chơi” hay mục đích khác là gì hay như tháng 2/1979 sang để dạy cho Việt Nam 1 bài học về cách đánh nhau và “đường ăn nết ở”?
          Thế mà bài viết ghi ý kiến của Tướng Lê Đức Anh:”họ không có ý đồ xâm lược, mà họ gây xung đột biên giới với ta nhằm một mục đích khác, ngoài ý đồ xâm lược…” Nhận định trên đây có đúng sự thật lịch sử về cuộc xung đột tại Vị Xuyên?
        Bài của Đại tá Khuất  Biên Hòa công bố 2015, thời điểm đã có độ lắng về thời gian và với tư cách, cương vị người đứng đầu Bộ Quốc phòng và đứng đầu nhà nước, Tướng Lê Đức Anh được tiếp cận tất cả các nguồn tin chính thống nhất, quan trọng nhất, gốc nhất. Ý kiến của Tướng Lê Đức Anh hoàn toàn khác với ý kiến võ đoán, thậm chí xuyên tác của các blogger, FB, thậm chí các nhà báo do họ không được tiếp cận thông tin gốc và do vị trí vỉa hè của họ?
          Về cuộc chiến này, Trung Quốc đã dồn 8/10 đại quân khu, huy động lần lượt 50-60 vạn quân; bộ sậu chiến tranh đầy đủ các bá quan văn võ từ TBT Đảng CS Trung Quốc Hồ Diệu Bang, Nguyên sóa Diệp Kiếm Anh, Nguyên soái Từ Hướng Tiền trực đến Lão Sơn động viên úy lão binh sĩ. 
          Theo báo chí Trung Quốc, những tướng lãnh Trung Quốc trực tiếp tham chiến, chỉ huy chiến trường Lão Sơn-Vị Xuyên-Hà Giang 1984 được nêu như sau: “Đại tướng Dương Đắc Chí (杨得志-Yang Dezhi), Tổng Chỉ huy “tự vệ biên giới” Vân Nam Trung Quốc, Thượng tướng Hồng Học Trí (洪学智-Hong Xuezhi), Trung tướng Lưu Hóa Thanh (华清- Liu Huaqing), Trung tướng Tần Cơ Vĩ (秦基-Tan Jiwei), Thượng tướng Trì Hạo Điền (迟浩田- Chi Haotian), Trung tướng Dương Bạch Băng (杨白冰- Yang Baibing), Thượng tướng Triệu Nam Khởi (赵南起-Zhao Nan), Trung tướng Từ Tín (徐信- Xu Xin), Thượng tướng Quách Lâm Tường (郭林祥- Guo Linxiang), Trungtướng Vưu Thái Trung (尤太忠-You have Taizhong), Trungtướng Vương Thành Hán (诚汉- Wang Cheng Han),Trung tướng Trương Chấn (张震-Olivia), Trung tướng Lý Đức Sanh (李德生- Li Desheng), Thượng tướng Lưu Chấn Hoa (刘振- Lưu Zhenhua), Trung tướng Hướng Thú Chí (向守志- Shouzhi), Thượng tướng Vạn Hải Phong (万海峰-Wan Haifeng), Trung tướng Vương Hải (王海-Wang), Trung tướng Phan Bình tự (Ba Hùng), Cục trưởng Cục Quân báo, và Trung tướng Nguyễn Như Văn (Tư Văn) Cục phó Tổng cục Tình báo quốc phòng Bộ Quốc Việt Nam.
          Ngoài ra còn có một lực lượng 26 tướng lĩnh trẻ tham chiến gồm có: Thiếu tướng Trương Vạn Niên (张万年- Zhang Wannian), Tư lệnh, tham mưu phó Quân đoàn 43, Bộ chỉ huy tại núi 127 Laoshan. Vu Vĩnh Ba (于永波 – Yu Yongbo ) Chính ủy, Chính trị viên của pháo binh, Bộ chỉ huy tại núi 32, 33 Laoshan. Thiếu tướng Lương Quang Liệt (梁光烈) Tư lệnh Quân đoàn 20, Bộ chỉ huy tại núi 50, và 58 Laoshan. Trợ lý Tham mưu trưởng Đại tướng杨得志 (Yang Dezhi Dương Đắc Chí) Tổng Chỉ huy chiến trường Tây Nam-Vân Nam. Thiếu tướng Lý Cửu Long (李九) Tham mưu trưởng Quân đoàn 31, Bộ chỉ huy tại núi ngọn núi 11 Laoshan. Thiếu tướng Đinh Văn Xương (丁文昌) Trợ lý Tham mưu trưởng chiến trường Laoshan. Thượng tướng Ngô Quan Xứ (铨叙) Chính trị viên Cục Hậu cần Quân đoàn 47. Thiếu tướng Đinh Văn Xương (丁文昌) Chính ủy, Chính trị viên của pháo binh Quân đoàn 14, Bộ chỉ huy tại đỉnh núi 48 và 49 Laoshan. Thiếu tướng Từ Vĩnh Thanh (徐永清 – Xu Yongqing) Chính trị viên Lực lượng vũ trang biên phòng Quân đoàn 42, bộ chỉ huy tại đỉnh núi 27 Laoshan. Thiếu tướng Lý Cảnh (李景 – Li Jing) Tư lệnh, tham mưu trưởng Quân đoàn 41, bộ chỉ huy tại núi 121. Thiếu tướng Vương Thụy Lâm (王瑞林 – Wang Ruilin) Chính trị viên Quân đoàn 199. Thượng tướng Trương Thái Hằng (张太恒-Zhang Taiheng) Tham mưu trưởng Quân đoàn 42, bộ chỉ huy tại ngọn núi 124. Thiếu tướng Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian) Tư Lệnh Sư đoàn 67, Bộ chỉ huy tạingọn núi C211. Thiếu tướng Cốc Thiện Khánh (谷善-Gu Shanqing) Chính ủy Quân đoàn 67. Thiếu tướng Trương Liên Trung (张连忠 –Zhang Lianzhong) Tư lệnh, Quân đoàn 43 pháo binh. Thiếu tướng  Vu Chấn Vũ (于振武- Yu Zhenwu) Chính trị viên Quân đoàn 27. Thượng tướng Trần Bỉnh Đức (陈炳德) Chính ủy Quân đoàn 21. Thiếu tướng Lưu Trấn Vũ (镇武- Liu Zhenwu) Chính trị viên Tổng cục Vũ khí Quân đoàn 67. Thiếu tướng Lý Kiền Nguyên (李乾元- Li Qianyuan) Tư lệnh phó quân đoàn 24. Thiếu tướng Lưu Đông Đông (刘冬冬- Liu Dongdong) Quân đoàn 21, Bộ chỉ huy tại ngọn núi 139. Trung tướng Hồ Ngạn Lâm (胡彦林 – Hu Yanlin) Chính ủy Quân đoàn 61. Thiếu tướng Tô Vinh (苏荣- Su Rong) Tư lệnh, tham mưu trưởng Quân đoàn 1509. Thiếu tướng Dương Đức Thanh (杨德清) Tư lệnh, tham mưu trưởng Quân đoàn 21, Bộ chỉ huy tại ngọn núi 11, 19 và 866. Trung tướng Uẩn Tông Nhân (温宗仁- Wen Zongren) Trưởng Quân đoàn 14, hồi phục núi 11. Trung tướng Vương Tổ Huấn (王祖- Wang Zu-Tan) Chỉ huy phó Quân đoàn 27, Bộ chỉ huy tại ngọn núi 13, 34 và 35. Trung tướng Lưu Thuận Nghiêu (顺尧- Liu Shunyao) Chính ủy Quân đoàn 27, Bộ chỉ huy phục hồi ba ngọn núi 11, 78 và 1509. Thiếu tướng Trịnh Quảng Thần (郑广臣- ZhengguangChen) Tư lệnh Sư đoàn 199, Bộ chỉ huy tại ngọn núi 277…
          Về “tướng văn” Trung tướng Lưu Á Châu đã tới đây lấy tài liệu đã viết nhiều sách trong đó đã 1 cuốn tiểu thuyết về chiến trường Lõa Sơn-Vị Xuyên…
          Trong khi Tướng Lê Đức Anh nhận định: ”họ ( Trung Quốc) không có ý đồ xâm lược, mà họ gây xung đột biên giới với ta nhằm một mục đích khác, ngoài ý đồ xâm lược…” thì “Nghị định Số: 23/2012/NĐ-CP Quy định một số chế độ đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký năm 2012 tại Điều 1. Phạm vi điều chỉnh:
          “Nghị định này quy định về chế độ hưu trí, trợ cấp một lần, chế độ bảo hiểm y tế, mai táng phí đối với đối tượng trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chi-a, giúp bạn Lào (sau đây gọi chung là đối tượng trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế) sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 có từ đủ 20 năm trở lên phục vụ trong quân đội, công an, cơ yếu đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc…”
            Như vậy, phát ngôn của Tướng Lê Đức Anh hoàn toàn trái với nội dung của Nghị định 23 ký từ năm 2012?
          Không chỉ trái với Nghị định 23 mà còn sai với thực tế lịch sử từng xảy ra tại Mặt trận Vị Xuyên; Hiện nay báo chí đã mô tả rất nhiều về những trận đánh ác liệt, đẫm máu tại các cao điểm 685, A 6 A- A 6 B, Cao điểm 300-400 (Đồi Đài, Đồi cô X…)..Những cao điểm này nằm sâu trong đất Việt Nam hơn 1 km thế mà Tướng Lê Đức Anh, vào thời điểm 1987 là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lại phát biểu một câu “xanh rờn”:” Thà rằng họ đánh sâu vào nội địa ta như Pôn Pốt đánh ta ở biên giới Tây Nam thì ta nói họ là xâm lược và ta kêu gọi chống xâm lược thì dễ…”
          Theo thông tin mà người viết bài này nắm được thì phía mặt trận Hà Giang, vùng Yên Minh, Quảng Bạ, có những nơi mồ mả tổ tiên của bà con người Việt hiện nay nằm sâu trong lãnh thổ Trung Quốc quãng 2 km. Ngay tại cao điểm 1509, trước 28/4/1984, quân của Sư 313 vẫn chốt giữ điểm cao này; Hiện tại thì cột mốc 254 theo nhiều nguồn tin cho biết nằm ở bình độ 1200, lùi vào Việt Nam khoảng 800 m? Tại Cao Bằng, chỗ Bản Giốc, đường biên giới hiện tại cũng lùi sâu vào đất Việt Nam?
          Xin thưa rằng sau “cuộc lui quân, chấm dứt việc đấu súng, đấu trí của hai Quân đội, hai Nhà nước, khôi phục đường biên giới hữu nghị, lập lại quan hệ bình thường giữa hai Quốc gia Việt Nam - Trung Quốc lui quân vĩ đại”- câu chữ của đại tá Khuất Biên Hòa trong bài Đại tướng Lê Đức Anh với vấn đề Trung Quốc và biển Đông” thì đầu năm 1988, Trung Quốc đánh chiếm Gạc Ma, gây ra vụ thảm sát 64 chiến sĩ “ lững lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ( Thơ Tố Hữu)…
          Một sự thật lịch sử đau thương, rành rành ra đó mà người đứng đầu Bộ Quốc phòng thời điểm đó, Tướng Lê Đức Anh, sau này là Chủ tịch nước lại khẳng định rằng: Trung Quốc đưa 50- 60 vạn quân với dàn tướng lĩnh sừng sỏ nhất, đánh Vị Xuyên ròng rã 10 năm liền lại không nhằm mục đích xâm lược Việt Nam?!
          Vừa qua nhóm của Tướng Lê Mã Lương làm cuốn sách “ Gạc Ma Vòng tròn bất tử” mới chi ghi chép tư liệu, lời kể xung quanh sự kiện này mà bao kẻ đã giẫy nẩy lên như đỉa phải vôi. Xin thưa rằng, nếu so sánh Gạc Ma với Vị Xuyên thì sự hy sinh của quân ta tại Gạc Ma ít hơn nhiều…

MỘT VÀI SỐ LIỆU VÀ NHỮNG DIỄN BIẾN CHÍNH CHIẾN TRƯỜNG VỊ XUYÊN ( 1979-1989)
          Về phía Trung Quốc:        
         Nghĩa trang Malifo chôn cất binh sĩ Trung Quốc chết trận Lão Sơn
            “Về quân ta (Trung Quốc), trước sự chuẩn bị mở hầu bao chiến dịch Lưỡng Sơn vào ngày 2 tháng 4 năm 1984. 
            Tư lệnh Đại Tướng Dương Đắc Chí (杨得志-Yang Dezhi) chỉ huy, dưới trướng của    Đại Tướng gồm có Quân đoàn 14, Quân đoàn 11, Quân đoàn 1, Tập đoàn 67 (团军67), Tập đoàn 27 (团军27), Tập đoàn quân 13 (团军13) và Bộ Tư lệnh Hậu Cần.
          Ngoài ra còn có Quân đoàn 41, Quân đoàn 42, Quân đoàn 43, Quân đoàn 54, Quân đoàn 55, đóng chốt trước miệng 3 tỉnh Lai châu, Lào Cai, và Hà Giang của Việt Nam.
          Bản thống kê những đơn vị của Trung Quốc tham chiến tại chiến trường biên giới Lão Sơn Lào Cai Việt Nam:
          1 – Quân đoàn 11, 14 Côn Minh, tham chiến 4/84-4/85, tử thương 2749, trọng thương 4152.
          2 – Quân đoàn 1, 11 Nam Kinh, tham chiến 12/84-5/85, tử thương 3942, trọng thương 3435.
          3 – Quân đoàn 46, 67 Tế Nam, tham chiến 5/84-4/86, tử thương 4746, trọng thương 3257.
          4 – Quân đoàn 21, 47 Lan Châu, tham chiến 4/86-4/87, tử thương 3654, trọng thương 3264.
          5 – Quân đoàn 27 Bắc Kinh, tham chiến 4/87-4/88, tử thương 3087, trọng thương 3649.
          Tổng kết từ ngày 2/4/1984 đến ngày 25/4/88, quân Trung Quốc tử thương 15.178, trọng thương 17.757…”
          (http://huynh-tam.blogspot.com)

                       Về phía Việt Nam:

 THIẾU TƯỚNG NGUYỄN ĐỨC HUY-NGUYÊN THAM MƯU TRƯỞNG QUÂN KHU 2:
           “Đây là cuộc chiến có quy mô lớn nhất, chỉ sau chiến tranh giải phóng miền Nam. Trung Quốc huy động 8/10 đại quân khu với hơn 50 vạn quân; phía Việt Nam huy động 9 sư đoàn với số lượng quân có lúc lên tới 15 vạn quân. Đây là cuộc chiến ác liệt nhất khi Trung Quốc cày nát Vị Xuyên, có ngày bắn tới 3 vạn quả đạn pháo, tấn công vào tất cả các điểm cao của ta. Tổn thất của địch trong trận chiến này rất lớn nhưng có những trận trong một ngày quân ta hy sinh khoảng 1.000 chiến sĩ…
          Cuộc chiến tranh Vị Xuyên đã khiến hơn 5.000 chiến sĩ của ta hy sinh, đến nay hơn 3.000 người chưa tìm thấy hài cốt; trong nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên có hơn 1.700 mộ liệt sĩ nhưng tới 700 ngôi mộ liệt sĩ chưa xác định được tên tuổi. Tôi kiến nghị phải tổ chức đội rà phá bom mìn, quy tập mộ và hài cốt liệt sĩ trong cuộc chiến Vị Xuyên để đưa về nghĩa trang...”
          (Tham mưu trưởng mặt trận Vị Xuyên: Nhiều hài cốt đồng đội đang nằm lại ở khe núi, hốc đá…



( Cò nữa...)



Rút từ trong tập bản thảo: VỊ XUYÊN & THẾ SỰ VIỆT-TRUNG


LIÊN HỆ CHIA SẺ BẢN THẢO:

Bản thảo dày 400 trang A 4; Gồm trên 80 bài bút ký-tiểu luận-điều tra về Chiến trường Vị Xuyên và Thế sự Việt-Trung...
Do bản thảo hiện chưa được nhà xuất bản nào cấp phép XB; Bạn đọc nào có nhu cầu đọc, đề nghị liên hệ chia sẻ bản thảo tại địa chỉ: 
Hoanghtham9@gmail.com
ĐT 0382598746

Không có nhận xét nào: